Các Cõi Phước Báu

16/10/202516:16(Xem: 1353)
Các Cõi Phước Báu
The Gioi Cuc Lac



CÁC CÕI PHƯỚC BÁU


Trên hết là các cõi thiên, những tầng trời có hạnh phúc lớn. Dù cõi còn nặng lòng trược và dục tham; có cõi tâm thể nhẹ nhàng, đã buông hết những sự dục phiêu lưu. Cao nhất chính là cõi vô sắc; chư thiên vùng này đã không còn lụy sắc, vướng tình như các cõi kia.

Xét về chi li trong mọi tầng cảnh cao thấp thì tùy vào nghiệp báo của chúng sinh. Thực tế trong tự thân mỗi người đều có chủng tánh của các tầng trời vi diệu, khi con người tịnh hóa được ba nghiệp của mình; từ ý nghĩ, lời nói đến hành động đều chứa đựng thiện pháp. Sau khi chết con người sẽ sinh về các tầng trời hưởng thụ phước báu. Tuy nhiên, phước báu trời người chưa phải là mục tiêu tối thượng của sự chứng đắc. Dưới đây là sự phân loại các hạng trời từ thấp đến cao:

Phước danh tối thượng là quyền uy tột đỉnh, là sự vẹn toàn của vinh hoa thế cuộc. Một vị vua cao trên, một đế chế hùng mạnh; nay thì tổng thống một quốc thổ, nhìn chung đều là phước danh cao cả. Loại phước này không do hành trí, hạnh xã mà có, mà đến từ phước duyên hữu lậu (còn sinh tử) sinh ra. Hạng này thích bố thí, cúng dường và làm các thiện sự đối với thế gian. Cả đời trọn sống trong an vui, thiểu dục; không gây tổn hại cuộc đời. Họ đến như những bông hoa thơm ngát, ban hương sắc rồi đi. Dù vậy, con đường thánh trí của họ vẫn chưa trọn vẹn. Vì là hữu lậu tất sẽ diệt vong, quả chín sẽ rụng, hoa thơm cũng tàn. Ngược lại, có hạng khi được thiên hạ ca tụng thì tỏ ra kiêu ngạo, nghênh ngang, nhất định sẽ dẫn đến bại vong. Đây là thế gian thiên, những vị trời có mặt tại nhân gian.

Một hạng khác thù diệu hơn, đó là thiên cảnh. Người sau khi chết mang theo phước báu đã gieo tạo mà sinh về đây. Nơi này có 26 tầng trời, bao gồm 6 tầng cõi dục, 18 tầng cõi sắc và 4 tầng của vô sắc. Dù tầng trời nào đi nữa, hễ con người được sinh về đây thì tuổi thọ muôn trùng, sống đời nhàn lạc, nhan sắc trắng sạch, di chuyển qua lại bằng các sức mạnh thần thông. Trời thọ dục thì còn nặng dục tính; trời sắc cảnh thì dục lụy không còn nhưng sắc cảnh còn vương; trời vô sắc thì hình dung, dục tánh đều biến mất, nhưng ngã chấp vẫn còn. Nhìn chung, kẻ được sinh vào các cõi trời mà không tiếp tục tu hành để vượt sinh tử thì dù có trăm ngàn triệu tuổi, hưởng thụ vinh hoa thượng thừa, rồi cũng có ngày phước cạn, đức nông mà rơi xuống các triền sâu địa ngục. Đây chính là sinh thiên, tức các cõi trời thực thụ.

Một số vị rõ biết cảnh trời không đáng sống, bởi phúc vị và danh hương còn dầy hệ trược, sinh ưu lự sầu lo, nên cần được phủi bỏ. Vì chúng là chướng duyên, quái ngại, gây cản trở bồ đề tâm và làm lu mờ chí nguyện giải thoát, rồi chư vị cùng hiện xuống trần để yết kiến, đảnh lễ Thế tôn, lắng nghe lời dạy. Các vị thật vui mừng vì Thế tôn đã trình bày con đường, chỉ rõ bản chất mong manh của kiếp sống thiên giới. Từ đó, họ phát nguyện nương theo từng bước hành trì thật miên mật, lòng không phóng dật, giữ vững chánh niệm, tỉnh giác hiện tiền và tuần tự đạt chứng các tầng thiền sắc giới. Không dừng lại ở đó, họ còn vượt xa hơn vào các quả vị thanh văn, từ Tu đà hoàn đến đạo quả thâm diệu A la hán, chấm dứt hoàn toàn tử sinh. Đây chính là “tịnh thiên”.

Còn một hạng cuối cùng thù thắng và cao đẹp hơn, đó là nhóm chúng vi diệu của Bồ tát đạo. Hạng này đã vượt lên sinh tử, chấm dứt khổ đau. Lòng xem chúng sinh như con đỏ. Sáu cõi mênh mang, ba đường hạn hẹp, đó không còn là nơi chốn đắm say của chư Bồ tát. Với các ngài, việc đi đến an nhiên, vãng lai tự tại, tuyệt không vướng lụy trần duyên. Từ nội cảnh, ngoại trần đến xa gần cuộc thế, các ngài đã hoàn toàn chiến thắng các thế lực của ác ma. Bồ tát bằng lòng bi mẫn mà tái sinh, vì nguyện lớn mà thị hiện, nơi nào cần đến thì đến, xong việc thì đi. Dù là cõi trời hay ác đạo chìm sâu thì trái tim chư vị vẫn rạng ngời lòng Bi Mẩn. Đấy gọi là “nghĩa thiên” vậy.

Thiên Lợi

🙏🙏🙏🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️

NẮM VỮNG NHỊP SỐNG

Dừng lại một nhịp sẽ tạo ra bao lắng đọng đất trời. Chạy nhanh quá, chân sẽ mỏi, lòng sẽ mệt hơn. Nhịp mà bạn nắm được, nó là cốt lõi của hành trình. Am hiểu được nhịp khúc thì mỗi hơi thở sống, sự trải đời của bạn sẽ vững cố hơn.

Nhịp cũng tựa như mắc lưới. Nếu mỗi mắc được tạo ra tỹ mỹ, cẩn thận thì một mạng lưới được kết nhau thật hoàn hảo. Chú tâm vào từng nhịp sống là nghệ thuật của một kẻ lữ hành đi trên quang lộ. Dù sống như một bông hoa hay một áng mây tan vội thì cũng phải trọn lòng với từng nhịp sống của mình.

Thế giới có mênh mông, lòng đời dù vô hạn, thì tiếng vang đất trời cũng chỉ là một nhịp. Ầm lên một tiếng có thể khiến bầu trời tan rã; và tiếng vang đó làm rơi rụng cõi mê. Ngày xưa có vị tổ sư cũng “ầm” lên một tiếng mà đã giúp cả một dòng thiền nở hoa, khiến cái mê của người học trò bừng ngộ. Đó là một nhịp.

Thật vậy, nếu bạn ngộ ra lẽ sống thì cái NGỘ không đến từ quá khứ hay tương lai, mà chính cái “ngộ” đến từ một nhịp khoảnh khắc. Phật dạy, hạt lành chưa có thì gieo; hạt ác không có thì dừng. Khoảnh khắc then chốt ấy chính do bạn nắm vững nhịp sống. Ồ, ta đã hiểu hay ta đã sai thì cũng là một nhịp quyết định.

Tổ gọi đó là “niệm”. Niệm hay nhịp đều nằm trong then chốt, mắc xích. Cái mắc xích vụng vỡ, rong rêu sẽ làm đoạn đứt tất cả hành trình. Bà cụ tay lần chuỗi, vô tình phóng tâm, một hạt đứt rời, làm cho cả xâu tan vụn.

Vậy ta hãy đứng lên mạnh mẽ một lần và hãy bước một bước thật quyết định, bàn chân đạp đất, hãy nắm vững một nhịp thiêng liêng để cả phương trời rộng mở hiện ra.

Thiện Lợi

🙏🙏🙏🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️

Thuyền đời chở nặng....

Thuyền đã quá tải và lướt trên mặt sóng thật chậm chạp. Người lái thuyền cố điều chỉnh không cho chao đảo giữa sóng ngầm. Ông cố gắng hết sức bằng đôi tay khéo léo của mình, lách qua những dòng xoáy, đá ghềnh một cách bản lĩnh. Thế là thuyền đã bình yên.

Thuyền có bình yên thật không? Bởi ông lão không tài nào biết được một cơn gió sắp tới hay ghềnh đá ngầm sâu. Nhưng ông vẫn tự tin với kinh nghiệm vốn có của mình, “ta dư sức đối phó dù thử thách thế nào” và rồi ông tự trách “phải chi thuyền nhẹ tênh thì hay biết mấy”. Thuyền vẫn lướt trôi, trôi đến đâu, ông lo đến đấy. Tay ông bắt đầu rung, lòng cảm thấy hốt hoảng vì một chiếc thuyền khác lớn hơn đang đi ngược lại. Lúc này, sự tự tin nơi ông dường như vụn vỡ. Cái kinh nghiệm lèo lái cũng trở thành mong manh. Ông lách thuyền sát bờ, mặt hướng trời cao thầm khấn.

Ông khấn gì? vâng, ông khấn cho sự bình yên. Nhiệm mầu thay, chiếc tàu lớn đi ngang mà thuyền ông vẫn bình an vô sự. Ông lạy trời tri tạ, lạy thủy thần ban ân. Thế là ông cho thuyền đi tiếp. Con sông dài phía trước còn có nhiều khúc quanh, chỗ sâu chỗ cạn, gò nổi ven bờ. Nếu là thế, ông phải làm sao đây khi sức ông có hạn? Một lần nữa chính ông tự trách “phải chi thuyền không chở nặng, hạnh phúc biết bao”.

Những câu ước muộn màn của ông được lặp đi nhắc lại nhiều lần. Không biết sự linh thiêng còn được mấy lần nữa? Thoạt đầu chỉ là một chiếc tàu đi ngược, tiếp theo là gì? nếu là bão lớn hay mắc cạn thì phải làm sao? Lúc này ông lão nghĩ gì? Nên phó thác cho vận trời hay còn tin vào bản lĩnh thực có? Cả hai đều trở nên vô dụng. Bởi lẽ, thực tại chiếc thuyền đã quá nặng vì ông đã chất chứa quá nhiều trên chiếc thuyền đó.

Cuộc đời ông lão và cuộc đời chúng ta có khác không? Chở nhiều quá, chứa nhiều quá thì bước đời sẽ không còn an nhẹ và thong dong.

Thiện Lợi



 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/11/2014(Xem: 5861)
Vẫn biết rằng ai sinh ra cũng có một quê hương để yêu dấu, để gắn bó, để tưởng nhớ khi chia xa. Tuy nhiên tôi luôn luôn có cảm nghĩ là người Huế sống và bộc lộ tình quê hương mãnh liệt hơn bất cứ người dân vùng nào khác chăng?
03/11/2014(Xem: 69087)
Theo truyền thống Tăng Già, hằng năm chư Tăng Ni đều tụ về nhóm họp một nơi kiết giới an cư, hầu thúc liễm thân tâm, trau dồi Giới, Định, Tuệ là ba môn vô lậu học, tăng trưởng đạo lực sau những tháng ngày bận rộn hoằng pháp lợi sanh. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Úc Đại Lợi –Tân Tây Lan được thành lập năm 1999, mỗi năm đều qui tụ tại một trú xứ được chọn trước để an cư tu tập trong mười ngày. Năm nay Đạo tràng Tu Viện Quảng Đức chúng con được Hội Đồng Điều Hành và Tổng Vụ Tăng Sự giao phó trách nhiệm tổ chức Mùa An Cư lần thứ 15 của Giáo Hội. Đạo Tràng chúng con đã thỉnh ý Chư Tôn Giáo Phẩm trong Giáo Hội và quý Ngài đã đồng thuận tổ chức kỳ An Cư Kiết Đông năm nay tại Tu Viện Quảng Đức theo ngày giờ như sau:
02/11/2014(Xem: 5064)
Thời gian trôi xa nay đã hơn 7 mùa trăng thu lồng lộng duới bao lớp huyền suơng nơi xứ nguời (từ năm 2006-2014) Tuy nhiên, nhìn lại chỉ còn là một thoáng như bóng mây qua cửa, như dòng nuớc có khi thanh thản, có lúc nặng nề vẩn đục lặng lẽ trôi và trôi xa.
01/11/2014(Xem: 29757)
Qua sự nghiệp trước tác và dịch thuật của Hòa Thượng thì phần thơ chiếm một tỷ lệ quá ít đối với các phần dịch thuật và sáng tác khác nhất là về Luật và, còn ít hơn nữa đối với cả một đời Ngài đã bỏ ra phục vụ đạo pháp và dân tộc, qua nhiều chức năng nhiệm vụ khác nhau nhất là giáo dục và văn hóa là chính của Ngài. Tuy chúng nói lên rất ít ỏi, nhưng không vì thế mà chúng không mang lại cho chúng ta một cái nhìn chính xác và rõ ràng hơn về cuộc đời của Ngài và, cũng từ đây chúng ta mới thấy rõ được chân dung của một bậc Thầy vĩ đại qua chí nguyện kiên cường của Ngài trong việc “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh.”
30/10/2014(Xem: 5114)
Suốt bao năm dài lưu vong nơi xứ người, tôi đã trăn trở, khắc khoải nhớ thương Huế - nơi tôi đã sống những ngày bình yên và thanh thản với tất cả tấm lòng ngây thơ của người con gái mới lớn. Hình ảnh Huế đẹp và thơ đã hiện về thường xuyên như một nhắc nhở trong tâm tưởng, trí nhớ, giấc ngủ và cơn mơ của đời tôi ! Huế mãi mãi vẫn là một vùng thánh địa thiêng liêng, bất khả xâm phạm trong góc sâu thăm thẳm của trái tim tôi. Kỷ niệm về tuổi trẻ vô tư, người tình đầu đời, bạn bè thân ái, những chốn hẹn hò rong chơi, ngôi nhà cũ, mái trường hồng vôi tím, những con đường đầy bóng mát từng chứng kiến cảnh gặp gỡ đầy yêu thương.
27/10/2014(Xem: 25548)
Hạ tuần tháng mười vừa qua, HT Thích Như Điển Phương trượng chùa Viên Giác về hướng dẫn khóa tu Bát Quan Trai Giới tại tỉnh Reutlingen. Nhân dịp nầy, Thầy mang quà tặng về cho Phật tử địa phương, đó là tác phẩm thứ 63 của thầy với tựa đề: “Hiện Tượng của Tử Sinh”. Đồng thời thêm một quà tặng của Bào huynh thầy: Thi phẩm “Hạt Cát Mịn” của Song Thu (Bút danh của HT Thích Bảo Lạc). Chúng con xin cung kính đảnh lễ và cảm niệm Công đức của nhị vị Ân Sư. Cũng như xin trân trọng những tấm lòng từ bi đối với tha nhân qua những lời nguyện ước. Như người làm từ thiện chỉ biết cho, với cái tâm mong cầu mọi người đón nhận sự hỷ lạc:
09/10/2014(Xem: 21791)
Nói thiệt, tôi chẳng biết ông Lê Hựu Hà nghĩ gì khi viết bảy chữ này. Nhưng tôi đã xem đó như một đề nghị rất Phật giáo. Tôi chưa hề là một thiền sinh nghiêm túc, nói gì là thiền sư. Tôi chỉ là kẻ lãng du trong cõi Phật pháp và thỉnh thoảng ghé chơi dăm khu vườn văn nghệ như một cách nghỉ chân. Và chính bảy chữ đó của người nhạc sĩ họ Lê từ lâu đã là một khẩu quyết cho tôi những khi nghe, đọc, ngắm nhìn cái gì đó tình cờ bắt gặp. Chẳng hạn tôi đã yêu ca dao Việt Nam từ những lời rất lạ.
06/10/2014(Xem: 21009)
Thông thường, trong một tác phẩm văn học nghệ thuật, lời Tựa mở đầu bao giờ cũng được tác giả tự bộc bạch, thổ lộ, diễn bày rất cẩn trọng dài dòng, để người đọc dễ lãnh hội sâu vào nội dung tác phẩm đó, nhưng với Triều Nguyên thì lại hoàn toàn khác hẳn, khi viết Tựa cho tập thơ đầu tay Bay Đi Hạt Cát của mình, thi sĩ chỉ có một câu duy nhất, thật vô cùng giản dị : “Sa mạc buồn thương hạt cát bay đi…” Giản dị đơn sơ mà độc đáo, thể hiện một cốt cách đặc thù riêng biệt trên con đường sáng tạo, ngao du qua những phương trời ngôn ngữ thi ca quá mộng dập dìu.
01/10/2014(Xem: 11183)
Nói đến mùa thu, người ta nghĩ ngay đến lá vàng. Trên cây là những tán lá vàng rợp. Dưới đất là những thảm lá vàng, trải lấp cả lối đi. Trời dìu dịu, không có nắng chói chang. Gió se lạnh, lùa qua hàng cây bên đường. Tâm và cảnh dường như có sự giao cảm tương ứng nào đó, gợi lên một nỗi buồn man man, vời vợi. Đẹp, mùa thu thật đẹp. Phân tích chi ly thì cũng khó mà nói được vẻ đẹp của mùa thu nằm ở đâu. Không lẽ chỉ vì lá vàng, lá cam, lá đỏ? Thế thì ở đô thị nhà cửa san sát, xe cộ nườm nượp, lề đường thiếu bóng cây, thì có lá vàng đâu mà mơ mộng, hân thưởng?
25/09/2014(Xem: 9564)
Nói đến mùa thu, người ta nghĩ ngay đến lá vàng. Trên cây là những tán lá vàng rợp. Dưới đất là những thảm lá vàng, trải lấp cả lối đi. Trời dìu dịu, không có nắng chói chang. Gió se lạnh, lùa qua hàng cây bên đường. Tâm và cảnh dường như có sự giao cảm tương ứng nào đó, gợi lên một nỗi buồn man man, vời vợi. Đẹp, mùa thu thật đẹp. Phân tích chi ly thì cũng khó mà nói được vẻ đẹp của mùa thu nằm ở đâu. Không lẽ chỉ vì lá vàng, lá cam, lá đỏ? Thế thì ở đô thị nhà cửa san sát, xe cộ nườm nượp, lề đường thiếu bóng cây, thì có lá vàng đâu mà mơ mộng, hân thưởng?