Chẳng Suy Chẳng Biến

30/08/202509:27(Xem: 2227)
Chẳng Suy Chẳng Biến


phat trong vuon
CHẲNG SUY CHẲNG BIẾN

 

Sáng nay bước ra vườn, khí trời lanh lạnh, thân thể như thể ướp trong làn hơi tuyệt diệu. Khí lạnh xông vào từng chân tơ kẽ tóc, cả người sảng khoái làm sao, chợt nhiên nhận ra: Trời đất chớm Thu.

Cây lá cỏ hoa vẫn còn xanh biếc, đây đó những bông hoa sao nhái rực rỡ sắc màu, những cây anh đào dẫ lac đác vài lá vàng rơi. Anh đào là loại nhạy cảm, là kẻ báo Thu sớm nhất, thiên hạ còn tận hưởng những ngày cuối hạ thì anh đào đã báo chớm vào Thu.

Những ngày mùa hạ oi bức đã qua, những cơn nắng nóng đã chấm dứt, một vài tuần nữa thôi là không còn những bộ bikini tươi sắc thắm màu trên bãi biển. Những chân dài hay sáu múi không còn khoe tấm thân nông bỏng mà sẽ khoác lên những bộ quần áo theo mùa mới.

Núi rừng vẫn xanh rì, vườn nhà xanh biếc dù đất trời chớm Thu. Những pho tượng Phật nho nhỏ trong vườn an nhiên bất động mặc bốn mùa lần lượt đến đi. Những pho tượng Phật không phải là Phật, Phật không ở trong gỗ, đá, gốm sứ, ngọc, vàng… Phật chính ở hành vi, lời nói, suy nghĩ của mình. Phật với ma không là một nhưng cũng chẳng hai. Một niệm giác là Phật, một niệm mê là ma. Phật với ma hiện diện trong từng giây phút, hiện hữu cả bốn mùa. Những pho tượng Phật nho nhỏ tự tại trong ánh binh minh rạng rỡ, thanh thản trong ráng đỏ hoàng hôn, an nhiên với Xuân hoa ngát hương sắc, tịch tĩnh trong xanh biếc cây lá Hạ, từ ái trong muôn sắc vàng Thu, siêu việt trong tuyết trắng mùa Đông. Thế mà ta sanh lòng phân biệt chẻ chia, yêu ghét mùa nọ, mùa kia.

Trời đất chớm Thu, khí trời mát mẻ làm cho lòng thư thái nhưng tâm tư len lỏi nỗi lo: Mình sẽ ra đi sớm thôi, dù rằng mình đã từng vô tận đến đi. Đến thế nào thì đi như thế ấy. Những việc đã làm, đã nói, đã nghĩ tưởng dẫn dắt ta đi.

Trời đất chớm Thu, nơi này bình yên là thế nhưng ngoài kia loạn động biết bao. Những kẻ cực hữu cầm quyền cực kỳ tham lam, sân hận, ích kỷ đang gây ra loạn động, gây đau khổ, gây bất an cho đồng loại và muôn loài. Với những kẻ chỉ có biết tiền, mọi thứ quy ra tiền thì nhân nghĩa, đạo đức, văn hóa chẳng có nghĩa lý gì! Khí trời lúc chớm Thu mát mẻ là vậy nhưng không làm sao giúp hạ hỏa cái tâm sân hận của bọn cực hữu kia!

Trời đất chớm Thu, sơn hà đẹp lắm, ngay cả động vật cũng cảm nhận được. Chúng đang chuẩn bị ấu trùng cho mùa sau. Chúng đang chuẩn bị thức ăn, chỗ trú ẩn cho những tháng ngày sắp đến, trong khi ấy loài người vẫn mê muội. Cuộc chiến vô lý và tàn bạo do Nga xâm lăng Ukraine vẫn tiếp diễn. Cực hữu Mỹ và Do Thái đang tàn sát người Palestine, giam hãm và bỏ đói cả một dân tộc, phá hủy toàn bộ dải Gaza. Người Rohingya vẫn bị tàn sát bởi những người xưng là Phật tử ở một đất nước mà đạo Phật là quốc giáo như Miến Điện. Ở Việt Nam, Thái Lan, Lào, Campuchia…những kẻ xưng là Phật tử nhưng toàn làm việc tham lam, sân hận, si mê; làm những việc ma nhưng khoe khoang Phật sự. Những kẻ tham lam vô hạn độ, tàn hại đồng loại, tàn hại muôn loài, cây cỏ thiên nhiên… Thế mới biết Tâm tham, sân, si ghê gớm hơn mọi thứ lửa ở đời. Sống với lửa tâm như thế thì địa ngục hiện tiền chứ đâu phải chết mới đọa địa ngục. Địa ngục ngay cõi nhân gian, địa ngục ngay tâm mình. Tâm địa này một niệm thanh tịnh là Tịnh Độ, một niệm ác là địa ngục đấy thôi.

Trời đất chớm Thu, chẳng mấy chốc rồi đây muôn sắc gấm hoa sẽ bừng lên, cả sơn hà sẽ khoác chiếc áo màu lộng lẫy, một góc trần gian như thể địa đàng. Mùa Thu thành Ất Lăng đẹp lắm em ơi! Nhà thiền bảo hãy nhìn nó như nó là, đừng ép thêm vào đẹp – xấu, yêu – ghét, lấy – bỏ… để rồi dính mắc (sáu căn dinh sáu trần). Nhưng mình là phàm phu tục tử thì làm sao buông được đây? Mình vẫn thấy Thu là Thu, lá là lá, là duyên hợp… nhưng rõ ràng Thu đẹp vô cùng. Bây giờ là Thu, nhưng cũng có thể đến một ngày nào đó sẽ thấy Thu không là Thu và sau cùng rốt ráo lại thấy Thu là Thu. Vô thường mà! Cả thân và tâm thay đổi trong mỗi phút giây, có thể thăng lên và cũng có thể đọa lạc tất cả phụ thuộc vào hành nghiệp của mình.

Trời đất chớm Thu, cộng đồng Phật giáo Bắc truyền rộn ràng chuẩn bị cho mùa hiếu hội Vu Lan. Một lễ hội đã ăn sâu vào tâm thức bao thế hệ. Làm người ai mà không hiếu, không cứ gì Phật tử mới hiếu, mọi người đều hiếu, tuy nhiên cũng có những cá thể bất hiếu, nghịch tử cũng như ác mẫu. Đó là số ít, có thể có ân oán từ tiền kiếp, bất hiếu hay ác mẫu cũng không ngoài lý do tham lam, sân hận, si mê mà ra.

Có một nhạc sỹ viết: “Mỗi mùa xuân sang mẹ tôi già thêm một tuổi…” Không cứ là xuân sang mẹ mới già thêm một tuổi, Thu sang, Đông sang hay Hạ sang cũng thế, thậm chí mẹ già đi từng tháng, từng ngày, từng mỗi phút giây trôi qua. Bản thân ta cũng thế thôi! Về luân thường đạo lý, về tình cảm mẹ con thì thương yêu, hiếu kính và có thể san sẻ cho nhau những món vật chất ở đời, nhưng còn nói về luật nhân quả, về nghiệp báo thì chịu thôi! Nghiệp mẹ mẹ mang, nghiệp con con gánh. Mẹ con có thương nhau ra rít nhưng không làm sao chia sẻ hay gánh bớt nghiệp cho nhau dù rằng cùng cộng nhiệp. Sống ở đời, gắn bó gần gũi hay xa cách cũng chỉ chừng trăm năm nhưng một khi cách ấm thì đường ai nấy đi vì nghiệp của mẹ và con đâu dễ chung đường. Thương yêu và kính trọng cha mẹ thì phụng dưỡng nhưng không thể chìu theo những sai trái. Nếu chìu những sai trái thì chính là hại cha mẹ vì điều ấy sẽ làm tăng ác nghiệp. Thương yêu, hiếu kinh cha mẹ thì làm việc thiẹn, việc làm. Về chùa dự hội hiếu cũng chỉ là một trong vô số hạnh lanh để hồi hướng phước đức cho cha mẹ, ông bà tổ tiên và cho cả muôn loài. Một niệm tâm lanh như sóng lan tỏa trong đất trời.

Vu Lan hiếu hội không chỉ có ý nghĩa tôn giáo mà còn là yếu tố văn hóa, tâm linh…đã in sâu vào tâm thức mọi người, người khác đức tin cũng biết đến. Hình tượng ngài Mục Kiền Liên trở thành tấm gương tiêu biểu cho chữ hiếu. Không chỉ người Phật tử Việt Nam mới biết đến ngài mà Phật tử người Hoa, Hàn, Nhật… cũng biết, cũng rất tôn sùng mà mến mộ. Hình tượng ngài Mục Kiền Liên rất gần gũi và phổ biến trong văn hóa của các nước Á Đông. Vì hành trạng của ngài, tạo tác nghệ thuật hình tượng của ngài khá giống với ngài Địa Tạng Bồ Tát nên có không ít Phật tử sơ cơ không phân biệt được đâu là ngài Địa Tạng đâu là ngài Mục Kiền Liên.

Mùa Thu đang đến, mùa Thu sẽ qua, mẹ già hơn một tuổi. Mùa Thu không đến không đi thì mẹ vẫn cứ già hơn. Con thương mẹ hay không thương mẹ thì mẹ vẫn cứ già theo tháng năm, biết làm sao được bây giờ vì đó là luật vô thường. Kinh Kim Cang có câu “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” kia mà. Duyên đã tụ thì phải tán, đã sanh thì phải diệt. Đã có thân thì phải già, bệnh, tử! Mẹ ơi, con thương mẹ nhưng bất lực khi thấy mẹ già, bệnh… ngay bản thân con cũng vậy mẹ ơi!

Mẹ là Phật đầu tiên, mẹ là Phật tại gia, mẹ là Phật trong tâm tưởng mọi người con… Phật này là Phật tánh vì mẹ chưa chứng ngộ, chưa đắc tam thân, tứ trí, ngũ nhãn, lục thông. Vì mẹ vẫn còn trong sanh tử luân hồi. Vì mẹ và con vẫn còn ràng buộc với nhau trong nhiều kiếp luân hồi, không chỉ quá khứ và hiện tại mà ngay cả tương lai khi mà mẹ và con chưa liễu sanh thoát tử.

Trời đất chớm Thu, con nhớ mẹ. Thu có đến có đi, có sơ Thu, trọng Thu, Vãn Thu… nhưng lòng con thương nhớ mẹ thì chẳng suy, chẳng biến bao giờ.

Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng thanh, 0825

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/02/2021(Xem: 11496)
Đối với những dân tộc sống trong nền văn minh lúa nước tại Đông Nam Á, nhất là đất nước và con người Việt Nam, hình ảnh con trâu, thường hay được nói đến, không phải “con trâu là đầu cơ nghiệp” mà đối với người nông dân là con vật gần gũi thân thiết, nên trong ca dao trâu xuất hiện trong bức tranh lao động của gia đình “trên đồng cạn, dưới đồng sâu, chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa”, trâu cũng trở thành bạn tâm tình của người nông dân: “trâu ơi ! ta bảo trâu này…” Người nông dân đã đồng cảm với trâu, qua việc cần mẫn lao động hằng ngày, không có lúc nào hưởng được sự thảnh thơi mà phải luôn vất vả nhọc nhằn. Hình ảnh con trâu kéo cày trên ruộng đồng với lúa, mạ xanh tươi, hay đứng nằm gặm nhai cỏ trên bãi cỏ xanh, cùng giầm mình trong vũng ao hồ sình lầy là hình ảnh quen thuộc, gợi lên nhiều cảm xúc thị vị thanh bình tạo cảm hứng cho biết bao thi nhân và họa sĩ.
01/02/2021(Xem: 13925)
Chữ “chùa” thường dễ khiến người ta liên tưởng đến những… chữ khác như kinh-kệ-chuông-mõ-sư-sãi…Xa hơn, có thể gợi nhớ đến chữ… thơ (vì, tu sĩ và thi sĩ vốn là bằng hữu, trong truyền t
01/02/2021(Xem: 16969)
Vào năm 1990, một nhà sư trẻ đến thị xã Lagi – Bình Thuận, dừng bước bên con suối Đó vắng vẻ, cảnh quan đơn sơ, mộc mạc, cách xa trung tâm Lagi. Con suối có cái tên hơi lạ, tên nguyên sơ là suối Đá do chảy qua nhiều tảng đá to, sau này khi người Quảng đến định cư, đọc chệch thành “suối Đó”. Vị sư trẻ dựng một thảo am bên cạnh con suối, cao hứng đặt tên thảo am là chùa Đây, tạo thành một cái tên hay hay và lạ mà du khách đến một lần không thể nào quên “suối Đó – chùa Đây”. Sau này, thảo am nhỏ được trùng tu dần thành một ngôi chùa trang nghiêm và tĩnh lặng với cái tên mang lại cho người ta cảm giác an nhiên tự tại khi nhắc đến như hôm nay – chùa Thanh Trang Lan Nhã.
01/02/2021(Xem: 17993)
Ngôi chùa nhỏ với không gian yên tĩnh nằm bên dòng suối Đó giáp ranh giữa xã Tân Phước và phường Tân An, thị xã La Gi có cái tên rất thanh vắng, tịch mịch “Thanh trang lan nhã” . Chùa do một vị Đại đức tuổi trung niên làm trụ trì, nhà sư Thích Tấn Tuệ. Sư Tấn Tuệ tên thật là Đinh Văn Thành (SN 1960), quê ở làng Duy Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Ông quy y từ lúc còn nhỏ được đào tạo học hành chu đáo, đi lại nhiều nơi nên kiến thức sâu rộng.
01/02/2021(Xem: 20445)
Nói thiệt lòng, tâm trạng của tôi mấy ngày qua vô cùng... bất ổn, tinh thần có chiều xuống dốc, phần vì "thử thể bất an", phần vì chuyện đời có nhiều đột biến vào năm cùng tháng tận, đã bình thản đương đầu đối chọi bằng các phương pháp tu niệm hành trì, giữ niềm tin vững chãi, liên tục ra vào các chốn già lam để lễ Phật bái Tăng, tác nghiệp thi văn... nên chế ngự được nhiều chướng duyên nghịch cảnh, nhưng nghiệp duyên quá khứ vẫn còn đầy dãy, vẫn đến đó, vẫy tay cười chào như chế giễu, thử thách...
30/01/2021(Xem: 12499)
Thời gian gần đây có khá nhiều nhà văn quay về với đề tài lịch sử. Sự đi sâu vào nghiên cứu cùng những trang viết ấy, họ đã tái hiện lại một triều đại, hay một giai đoạn lịch sử với góc độ, cái nhìn của riêng mình. Tuy nhiên, không phải nhà văn nào cũng thành công với đề tài này. Gần đây ta có thể thấy, Hoàng Quốc Hải với hai bộ tiểu thuyết: Tám triều nhà Lý, và Bão táp triều Trần, hay Hồ Qúy Ly của Nguyễn Xuân Khánh…Và cách nay mấy năm, nhân kỷ niệm lần thứ 40, ngày thành lập Báo Viên Giác (Đức quốc) Hòa thượng Thích Như Điển đã trình làng cuốn tiểu thuyết lịch sử: Mối Tơ Vương Của Huyền Trân Công Chúa. Thật ra, đây là cuốn (tiểu thuyết) phân tích, lời bàn về lịch sử thì chính xác hơn.
19/01/2021(Xem: 47047)
Đức Phật Quá Khứ Tỳ Bà Thi 💐🌹🥀🌷🌸🏵️🌻🌼💮🍂🍁🌾🌱🌿🍃 💐🌹🥀🌷🌷🌸🏵️🌻🌼💮🍂🍁🌾🌱🌿🍃 Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng giảng: từ 6.45am, Thứ Ba, 07/07/2020 (17/5/Canh Tý) Giải thích Nghi Thức Đảnh Lễ Tam Bảo do Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Thủ (1909-1984) biên soạn và hành trì trong suốt cuộc đời của Ngài. Bài kệ số 16: ĐỨC PHẬT TỲ BA THI 💐🌹🥀🌷🌷🌸🏵️🌻🌼💮🍂🍁🌾🌱🌿🍃 Nhẫn nhục đệ nhất đạo Phật thuyết vô vi tối Xuất gia não tha nhân Bất danh vị sa môn. Nhất tâm đảnh lễ Quá khứ Tỳ Bà Thi Phật. (1 lạy) Phật dạy: Hạnh nhẫn nhục Là pháp tu thứ nhất, Pháp vô vi tột cùng. Cho nên người xuất gia Gây khổ não cho người, Thì không gọi “sa môn”. Một lòng kính lạy đức Phật Tì Bà Thi. (1 lạy) Youtube: Tu Viện Quảng Đức (TT Thích Tâm Phương, TT Thích Nguyên Tạng, Melbourne, Australia)
18/01/2021(Xem: 14498)
Trong cộng đồng nhân loại, bất cứ chủng tộc nào, có tinh thần độc lập, có ý chí tự cường, có lịch sử đấu tranh lâu dài thì chủng tộc đó nhất định có sáng tạo văn hóa để thích ứng với mọi hoàn cảnh địa lý, với những điều kiện thực tế để tự cường, sinh tồn và phát triển. Dân tộc Việt Nam là một chủng tộc có ngôn ngữ riêng biệt thuần nhất, có nền văn hóa nhân bản đặc thù, siêu việt và nền văn hóa này có khả năng chuyển hóa, dung hợp tinh ba của tất cả nền văn hóa nhân loại biến thành chất liệu sống và ý nghĩa sự sống bồi dưỡng cho sanh mệnh dân tộc mang tánh chất Rồng Tiên nẩy nở phát triển và trường tồn bất diệt trải dài lịch sử hơn bốn ngàn năm văn hiến kể từ khi lập quốc cho đến ngày nay. Đặc tánh Rồng Tiên, theo Hai Ngàn Năm Việt Nam Và Phật Giáo của Lý Khôi Việt, trang 51 giải thích: Rồng tượng trưng cho hùng tráng dũng mãnh tung hoành, Tiên biểu tượng cho thanh thoát cao quý, hòa điệu. Vì có khả năng chuyển hóa và dung hợp của nền văn hóa Việt Tộc (Chủng Tộc Việt Nam), dân tộc Việ
10/01/2021(Xem: 11712)
8 giờ tối mùa Đông Âu Châu nói chung, Thụy Sĩ nói riêng thật thê thảm. Trời tối đen, lạnh cóng, trên đường không bóng người qua lại. Đã vậy thêm dịch bệnh covid 19 kéo dài mấy tháng nay, mọi người bị giam hãm lâu ngày đã ê chề, nay thời tiết như thế càng ảm đạm thê thảm hơn. Vào mùa này, ngay cả người bản xứ còn than vãn, chán chường, huống chi người Việt tha hương buồn đến...thúi cả ruột! Gần nhà tôi có cái thung lũng tình yêu, gặp lúc thất tình, tuyệt vọng, có người còn nhảy xuống tự tử mắc công chính quyền sau này phải giăng lưới hứng họ! Nhưng chính trong không gian ảm đạm như thế càng tăng thêm sự ấm áp thân thương khi nhìn thấy, dù chỉ qua màn hình và nghe tiếng nói của vị đạo sư tôi hằng kính mến, không ai xa lạ, còn có nhân duyên quen biết từ mấy chục năm nay, đó là Hòa Thượng Phương Trượng Thích Như Điển. Thầy không ở đâu xa, hiện diện ngay trước mặt đây thôi xua đuổi hết bao cảm giác cô đơn lạnh lẽo nơi xứ người.
10/01/2021(Xem: 10760)
Đã lâu lắm rồi, từ lúc cơn dịch Covid-19 hoành hành đến giờ chúng tôi (Hoa Lan và Nhật Hưng) chưa được cùng nhau viết chung một đề tài về Phật pháp. Tưởng chừng ngòi bút sẽ rỉ mòn theo Covid, làm gì còn các khóa tu học mà viết bài tường thuật. Một nỗi buồn sâu lắng! Thế nhưng sáng nay, ngày thứ hai đầu tiên trong năm 2021 mùng 4 tháng giêng, nhận được tin nhắn khẩn cấp của Nhật Hưng qua Viber, phải gắn chương trình Zoom vào máy để tối nay lúc 8 giờ tối giờ Âu Châu nghe HT Sư Phụ giảng Pháp. Không cần biết Người sẽ cho mưa Pháp kiểu nào? Nghe lệnh là phải có mặt ngay, để chứng tỏ tinh thần Tứ Trọng Ân với Thầy Tổ.