Nhớ Về Cha

04/07/202505:25(Xem: 2042)
Nhớ Về Cha

tran thi nhat hung-cha
Nhớ về cha
Bài viết Trần Thị Nhật Hưng



Có những người vì gia cảnh nghèo, chật vật cơm áo hay lý do thời cuộc không được đến trường nên không biết chữ hay ít chữ nhưng như thế không có nghĩa là họ kém thông minh, đôi khi còn thông minh một cách đặc biệt. Người đó chính là ba tôi.

 Ba xuất thân tại một thôn làng nghèo miền Bắc trong một làng quê quanh năm chỉ thấy ruộng vườn, cá kèo và vài con gà trong sân. Nạn đói năm Ất Dậu hậu quả của chiến tranh tại Đông Dương do Pháp và Nhật chiếm đóng Việt Nam càng làm quê nghèo thê thảm hơn. Số người chết đói như rạ, cầm cự được phải kể là có số đặc biệt.

 Trước viễn ảnh tương lai mịt mờ, ba đành dứt áo ra đi, rời bỏ quê cha đất tổ, mồ mả ông bà tổ tiên, nơi bao đời chôn nhau cắt rốn và để lại người vợ trẻ với đứa con thơ, tìm đường vào Nam lập nghiệp.

Với hai bàn tay trắng chỉ vỏn vẹn một đồng dính túi, ba mon men vất vả dọc đường tìm kế sinh nhai, bất cứ việc gì ba cũng làm, ngủ bờ ngủ bụi cho qua ngày qua đêm để tìm đến nơi muốn đến.

Trong Nam, ba đi làm thuê, lăn lộn mãi rồi cũng tìm học được nghề làm bánh mì, bánh ngọt, các loại kẹo, dành dụm được một số vốn rồi chọn miền Trung làm chỗ định cư, thuê nhà mở tiệm, đón vợ con vào sum họp.




banh oan
Bánh oản



Tôi không thể tưởng tượng được, làm thế nào mà ba đương nổi, ban đêm chuyên làm bánh mì, ban ngày hết làm bánh khảo nhân đậu đen, nhân đậu xanh (bánh này các đám hỏi, đám cưới hay đặt làm sính lễ)  đến bánh oản gói giấy bóng gương xanh, đỏ, tím, vàng (dân quê hay mua cúng rằm, mồng một), kẹo mè, kẹo đậu phụng (miền Bắc còn gọi là kẹo xìu), kẹo dừa (loại kẹo này nhỏ bằng đốt ngón tay út vấn từng viên trong giấy dầu, không chỉ con nít rất ưa chuộng mà ngay người lớn cũng rất thích), chưa kể thỉnh thoảng ba làm kẹo kéo dồi đậu phụng rang giả nhỏ bên trong rồi kéo từng que, khẩy cái cạch cho đứt khúc ra ăn. Vào mùa Trung Thu, ba còn làm bánh nướng, bánh dẻo và làm cả lồng đèn nữa. Nói chung, ba rất khéo tay và thông minh. Ngoài công việc làm ăn, sắp xếp điều hành với chừng đó công việc phân chia cho nhân công, mẹ lo bán hàng và lũ con nít chúng tôi có nhiệm vụ vấn kẹo dừa, để giải trí, ba đặc biệt làm sáo diều rất tuyệt vời không biết học từ đâu hay từ sáng kiến. Những vành tre và ống tre, ba vuốt và nắn thành hai cánh diều to bằng cả hai cánh tay giang ngang dán giấy dầu vàng người ta hay dùng gói quà, phía đuôi diều còn những cái đuôi giấy lướt thướt, khi diều cất lên cao giữa bầu trời mênh mông trông đã đẹp còn cất tiếng vi vu rất hay, một hình tượng diễn tả cảnh thanh bình tuyệt vời. Ngay cả việc nấu nướng, cũng không rõ học từ đâu, ba chế biến nhiều món rất lạ, ngon thêm tính hậu hỉ hiếu khách nên hay mời bạn bè về ăn. Thậm chí khi nhà có tiệc tùng, đám hỏi, đám cưới chính ba điều khiển đưa món ăn và đôi khi đứng bếp.

Sau này, để nghỉ ngơi và kinh tế gia đình khấm khá, ba bỏ hết không nấu kẹo, làm bánh ngọt nữa, ba chỉ còn giữ công việc làm bánh mì. Mà công việc này, thời đó, chưa có công nghệ bằng máy móc như ngày nay, cũng vất vả không kém. Dù có thuê thợ thuyền, nhưng việc chính yếu, khó khăn, ba vẫn ra tay gánh vác. Như đốt lò củi, khúc củi nào cũng to như cả cái chân, đưa vào lò đốt lên hong nóng xong phải cào ra, lau lò cho sạch để nướng bánh. Lò canh sao không được nóng quá, không được nguội quá, nếu không, bánh sẽ bị “bum” nghĩa là không nở đúng cái bánh mình mong muốn. Mọi việc thuận buồm xuôi mái thì còn đỡ, những lúc củi bị sụp tắt ngúm, khói bay mịt mù, ai cũng chạy có cờ, thì ba tôi phải đương đầu khèo dựng lại củi trong lò sao cho cháy lại.

Trời miền Trung nóng như lửa đốt, thêm hơi lửa trong lò phà ra, thời đó đâu đã có máy điều hòa, từng ổ bánh mì hoàn thành là bao giọt mồ hôi ba tôi đổ ra như tắm.  Ngay cả khi nhồi bột cũng bằng tay, chúi đầu xuống cái thùng như cái quan tài để nhào lộn khối bột cho nhuyễn là cả một công trình. Những lúc nhìn ba vất vả kiếm tiền nuôi gia đình, tôi cảm thương không bút nào kể xiết, chỉ biết nhớ công ơn ba và đền đáp bằng cách sống thật ngoan, chăm chỉ học hành, không hoang phí phá tiền dù lúc đó ba không còn nghèo mà còn khá giả là đằng khác.

Ngoài trách nhiệm lo kiếm tiền nuôi vợ con, là đàn ông nhưng ba lại có những cử chỉ hành động tinh tế sâu sắc mà bao người mẹ luôn được con cái vinh danh vào những dịp “ngày của mẹ” hay “lễ Vu Lan”, thì tôi lại thấy sự hy sinh của ba tôi sâu sắc tinh tế không thua gì các người mẹ, đôi khi còn có phần hơn.


Ba hay theo dõi đời sống con cái ngay khi chúng đã lập gia đình. Biết tôi lấy chồng nghèo nhất là sau 1975 chồng còn bị đi tù, ba đặc biệt quan tâm tôi nhiều hơn. Ba lặn lội từ miền Trung, vất vả tàu xe, ngủ gà ngủ gật chỉ để vào Sài Gòn thăm tôi và dúi cho tôi một món tiền lớn, lúc nào cũng dặn dò:


-Con rán chăm sóc bố chồng con cho tử tế (cụ bố chồng là bạn thân của ba tôi), thấy ai nghèo con cứ giúp. Riêng con, không tiêu hoang là được. Khi nào hết tiền thì cho ba biết.


tran thi nhat hung va cha


Tôi thương ba thêm lòng tự trọng không bao giờ tôi tỏ ý thiếu thốn, xin xỏ để ba phải lo lắng quan tâm, nhưng ba tinh ý nhận ra, và cứ canh, đoán chừng tôi hết tiền là ba xuất hiện. Những lúc ba vào, sau chuyến đi dài, nhìn tóc ba bạc phơ, nét phờ phạc, mệt mỏi hằn trên khuôn mặt đã nhiều nếp nhăn, tôi cảm thương muốn khóc, khuyên ba đừng vô nữa, hãy để tôi về thăm ba.

Ngày tôi về miền Trung thăm gia đình, túi đã sạch trơn, chỉ còn vài chục để dành cho tàu xe, tôi chỉ luẩn quẩn trong nhà, ăn cơm của cha mẹ, từ chối tất cả mọi lời mời của bạn bè rủ đi ăn sau nhiều năm gặp lại. Thế mà ba tôi cũng nhận ra, để một ngày, khi tôi đang thơ thẩn đứng bên khung cửa nhìn ra cây si trồng trước sân nhà, bâng khuâng ngắm đàn chim sẻ ríu rít chuyền từ cành này sang cành kia rồi bay vút trong bầu trời quang đãng, ba tôi lại mon men đến gần, ba không nói gì, chỉ nắm lấy tay tôi, vạch năm ngón tay tôi xòe ra rồi đặt vào đó một cọc tiền. Tôi ngạc nhiên hỏi:

-Tiền gì vậy ba?

-Ba cho con để đi chơi với chúng bạn!

Tôi ngẩn người ra đưa mắt nhìn ba, chưa kịp nói hai chữ “cám ơn” ngắn ngủi, ba đã bỏ đi để tôi nhìn theo với vô vàn xúc động.

Tôi cúi xuống nhìn cọc tiền quấn tròn trong một sợi dây thun, bất giác mủi lòng không muốn khóc mà nước mắt cứ từng giọt trào ra. Những giọt nước mắt ân tình trong như pha lê nhẹ nhàng rơi xuống cọc tiền nhưng thấm sâu vào hồn tôi, len vào từng ngõ ngách. Tôi nghẹn ngào cảm động, vừa thương ba vừa thương mình. Nói sao cho vừa, tôi chỉ biết in thật sâu vào tâm khảm hình ảnh cử chỉ ân cần, gói ghém đầy tình thương yêu của ba dành cho tôi và tôi nguyện một ngày nào đó có cơ hội tôi sẽ đáp đền tình ba.

 Không thể tiếp tục phiền ba, và cũng không thể sống được với chính sách khắc nghiệt của chế độ mới đối với thành phần “ngụy quân, ngụy quyền” như tôi, tôi tìm cách một mình bỏ nước ra đi hy vọng ở chân trời mới tôi có thể đổi đời, được sống đời tôi muốn sống.

Ba tôi vậy đó. Rất hiền lành, nhân từ, sâu sắc. Ba rất ít nói, tình cảm trong ba không thể hiện bằng lời mà chỉ qua cử chỉ hành động. Từng cơ cực gian khổ lúc thiếu thời, khi khấm khá, ba hay quan tâm đến người nghèo. Ba hay nói với con cái trong nhà. Bắt được tên trộm thì nên tha họ, đôi khi còn giúp họ. Chẳng qua vì đói mới phải làm thế, còn biết sợ sệt xấu hổ nên mới lén lút đêm hôm. Ăn cướp mới đáng sợ. Thế mà khi ba bị mất ba căn nhà do nhà nước tịch thu sau 1975, một lần tôi đề nghị ba lấy lại khi có tin nhà nước hoàn trả lại cho dân. Ba lại nói:

-Thôi, con ạ. Người ta dọn vô nhà mình đã sinh con đẻ cái. Nay đuổi họ ra, gia đình họ cầu bơ cầu bất mình có vui không. Mình mất ba căn nhà, Trời Phật đã cho lại ba căn khác rộng lớn khang trang hơn cho ba đứa vượt biên ở hải ngoại. Như thế còn đòi gì nữa.

Ba luôn an phận theo châm ngôn “có phúc có phần” rồi bình thản sống như một thiền sư:

Sống không giận không hờn không oán trách.

Sống mỉm cười với thử thách chông gai.

Sống vươn lên cho kịp ánh ban mai.

Sống chan hòa với những người chung sống.

Sống là động nhưng lòng không xao động.

Sống là thương nhưng lòng chẳng vấn vương.

Sống hiên ngang danh lợi mãi coi thường.

Tâm bất biến giữ dòng đời vạn biến.

(Thích Hạnh Hải)


Có lẽ nhờ vậy mà ba tôi có phúc có phần. Cả đời không thấy đau đớn bịnh tật gì ngoài cảm ho, ngứa ngáy vớ vẩn rồi nhẹ nhàng ra đi ở tuổi 107.

Viết bài này để Nhớ Về Cha với nén hương lòng thành kính dâng ba với niềm tri ân vô bờ bến của con.

TTNH

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/07/2014(Xem: 11430)
Xuất gia không phải là nghèo Xuất gia là để noi theo Phật Đà Xuất gia lý tưởng cao xa Xuất gia để khỏi bôn ba chợ đời Xuất gia điều tốt tuyệt vời Xuất gia có nghĩa xa rời thế gian Xuất gia giải thoát nhẹ nhàng Xuất gia tự tại muôn ngàn bình yên
19/07/2014(Xem: 16351)
¨ TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (Diệu Âm lược dịch), trang 3 ¨ THÔNG ĐIỆP CƯ TRẦN LẠC ĐẠO (TK. Thích Huyền Quang), trang 8 ¨ ĐẠO PHẬT VIỆT TK THỨ I VÀ THỜI KỲ BẮC THUỘC t.t. (HT. Thích Đức Nhuận), trang 9 ¨ BƯỚC XUỐNG TRẦN GIAN, DUYÊN NỢ (thơ Hàn Long Ẩn), trang 13 ¨ QUYẾT NGHỊ ĐẠI HỘI THƯỜNG NIÊN LẦN II, NHIỆM KỲ II (GHPGVNTNHK), trang 14 ¨ HÌNH ẢNH ĐẠI HỘI THƯỜNG NIÊN VÀ AN CƯ TẠI PHV QUỐC TẾ (Hophap.net), trang 16 ¨ PHỤC BÁI THƯỢNG VĂN (BHDTƯ GĐPTVN), trang 18 ¨ NIỀM VUI TU HỌC (HT. Thích Tín Nghĩa), trang 19 ¨ TRÁCH NHIỆM THUỘC VỀ BẠN (HT. Thích Trí Chơn dịch), trang 20 ¨ NGÀY ĐẦU AN CƯ CỦA PHẬT GIÁO TẠI HOA KỲ (Thích Minh Dung), trang 23 ¨ HÌNH ẢNH KHÓA TU HỌC PHẬT PHÁP BẮC MỸ LẦN IV (Hoavouu.com), trang 24 ¨ CHÉN TRÀ TÀO KHÊ (Thích Nguyên Tạng), trang 26 ¨ ĐỒI MÂY (thơ Lý Thừa Nghiệp), trang 28
17/07/2014(Xem: 10836)
Trong sự đi hoang nào đó của tư tưởng, cảm xúc, ngôn ngữ, thì bản chất của ngôn ngữ, âm thanh đều là vô thường, giới hạn, và không thật, vì nó không có thực tính độc lập, phải nương với nhau mà thành, nhờ vào căn, trần, thức mở lối nên mới hiện hữu. Người ta tạm định nghĩa, “ngôn ngữ chỉ là một công cụ” dùng để biểu đạt ý nghĩ, trạng thái tâm sinh lý để người khác nhận biết, thấu hiểu, cảm thông. Có nhiều dạng ngôn ngữ, ta có thể tạm chia ra làm hai, ngôn ngữ xuất phát ở bên trong (nội tính) và ngôn ngữ thể hiện ở bên ngoài (ngoại tính). Cho dù phát xuất từ đâu, một khi xử dụng nếu ta không có trí tuệ, chân thật, ái ngữ, lợi hành, lợi người, thì không khéo sự biểu đạt ấy, đôi khi lại là mầm mống, nguyên nhân của những hiểu lầm, ngộ nhận, xích mích, đáng tiếc khác.
24/06/2014(Xem: 5984)
Vào một buổi sáng thật đẹp trời của ngày 26 tháng 11 năm 2012, phái đoàn nhỏ của chúng tôi gồm Thượng Tọa Quảng Đạo (Chùa Khánh Anh, Pháp Quốc), tôi (Chùa Hương Sen, Hoa Kỳ) và vài nam nữ Phật tử nữa được Thượng Tọa Phổ Huân (Trụ trì chùa Pháp Bảo, Sydneys) đưa lên viếng cơ sở thứ hai của chùa Pháp Bảo là Tu viện Đa Bảo, tiểu Bang New South Wales, Úc Châu, và thăm Hòa Thượng Phương Trượng Chùa Viên Giác, Đức Quốc, đang nhập thất tại đây.
21/06/2014(Xem: 17346)
Chúng tôi, Nhóm Học Phật chùa Quang Nghiêm, gồm một số thân hữu và những huynh trưởng Gia Đình Phật Tử trong vùng có cơ duyên gần gũi và học hỏi cùng thầy trong nhiều năm qua. Nhân đó, chúng tôi được biết, Thầy là một cây viết thường xuyên trên tập san: THEO DẤU CHÂN XƯA của Phật học viện Huệ Nghiêm, SÀI GÒN trước 1975. Nhưng sau những đợt đốt sách của chính quyền Cộng Sản, THEO DẤU CHÂN XƯA không còn nữa. Càng gần Thầy, chúng tôi nhận thấy những gì Thầy dạy và viết thật thực tế và giản dị trong việc áp dụng Đạo Phật vào đời sống hằng ngày cho chúng ta. Chúng tôi không muốn có sự thất thoát như xưa, nên mạo muội sưu tập một số bài mà Thầy đã viết trong thời gian qua. Đây là một món quà tinh thần của Thầy mà chúng tôi đã rút ra những bài học bổ ích cho cuộc sống hàng ngày. Có một điều quan trọng nữa là bài học thân giáo của Thầy: phong cách hiền hòa và đức độ lan tỏa từ Thầy êm đềm như dòng sông Thu Bồn xứ Quảng. Trong bất cứ lúc nào, nếu có dịp, Thầy thường nhắc nhở: “Học Phật có n
16/06/2014(Xem: 48307)
Ngày ấy cách đây 50 năm về trước, vào một sáng đầu mùa hè của năm 1964, tôi một mình đạp xe đạp từ làng Mỹ Hạc, Xã Xuyên Mỹ, Quận Duy Xuyên, trực chỉ xuống chùa Viên Giác tọa lạc tại Hội An, Quảng Nam. Hôm đó là ngày Rằm Tháng 5 âm lịch của năm Giáp Thìn. Một chặng đường dài 50 năm như vậy, nói cho đúng là nửa thế kỷ của một kiếp nhân sinh- đã, đương và sẽ có nhiều điều đáng nói. Hay có, dở có, không như ý cũng có
14/06/2014(Xem: 18924)
Xưa có bầy khỉ nọ Lội xuống hồ vớt trăng Vớt mãi hoài không được Nên mặt mày.. nhăn nhăn.
10/06/2014(Xem: 10527)
Hai dì vãi chùa tôi tuổi đời đều đã trên 70. Về sự kính Ôn, trọng thầy, thương chú và đùm bọc điệu hai dì như nhau. Về sự siêng năng, chịu khó, tiết kiệm, giữ của cho chùa hai dì bằng nhau. Về vóc hình nhỏ nhắn hai dì giống nhau. Về chiều cao khiêm tốn hai dì ngang nhau. Thời Ôn (cố) còn sống, có mụ nhà quê lâu lâu mới lên thành phố tìm đến viếng chùa rồi gặp Ôn trú trì, sau khi đảnh lễ, mụ nói một câu tỉnh rụi về hai dì vãi chùa tôi: Ôn có “cặp sanh đôi” trông vui mắt, hí.
06/06/2014(Xem: 34172)
Thơ và Tạp Bút là tập sách mà chúng tôi kết hợp chia làm hai phần: Phần đầu là những bài thơ mà chúng tôi đã sáng tác sau khi tập thơ Hướng Dương ra đời. Phần hai là những bài viết rời rạc qua những chủ đề khác nhau. Chúng tôi kết hợp lại tất cả những bài viết đó để in chung trong tập sách. Chúng tôi đặt danh đề chung cho quyển sách là “Một Cõi Đi Về”. Vì chúng tôi thiết nghĩ, cõi đời có muôn vạn nẻo nhưng lối về nguồn chơn thì chỉ có một. Giống như trăm sông, ngàn suối tuôn chảy mỗi hướng có khác nhau, nhưng tất cả cũng đều chảy chung về biển cả. Nói cách khác, đứng về mặt hiện tượng sự tướng thì vạn pháp có ra muôn ngàn sai khác, nhưng bản thể thì chỉ có một. Đó là ý nghĩa của câu nói: “Vạn vật đồng nhứt thể hay vạn pháp quy nhứt”.
29/05/2014(Xem: 5782)
Suốt gần hai tuần đầu tháng Năm, những luồng gió quỷ (1) từ các hốc núi xa, liên tục quét qua rừng, thốc vào đồng bằng và đô thị, rồi tuồn ra đại dương. Những ngọn gió khô khốc, làm biến đổi khí hậu cả một địa vực rộng lớn. Một vài nạn cháy rừng xảy ra, lan vào một số gia cư trên các đồi cao.