Nhớ Về Cha

04/07/202505:25(Xem: 2135)
Nhớ Về Cha

tran thi nhat hung-cha
Nhớ về cha
Bài viết Trần Thị Nhật Hưng



Có những người vì gia cảnh nghèo, chật vật cơm áo hay lý do thời cuộc không được đến trường nên không biết chữ hay ít chữ nhưng như thế không có nghĩa là họ kém thông minh, đôi khi còn thông minh một cách đặc biệt. Người đó chính là ba tôi.

 Ba xuất thân tại một thôn làng nghèo miền Bắc trong một làng quê quanh năm chỉ thấy ruộng vườn, cá kèo và vài con gà trong sân. Nạn đói năm Ất Dậu hậu quả của chiến tranh tại Đông Dương do Pháp và Nhật chiếm đóng Việt Nam càng làm quê nghèo thê thảm hơn. Số người chết đói như rạ, cầm cự được phải kể là có số đặc biệt.

 Trước viễn ảnh tương lai mịt mờ, ba đành dứt áo ra đi, rời bỏ quê cha đất tổ, mồ mả ông bà tổ tiên, nơi bao đời chôn nhau cắt rốn và để lại người vợ trẻ với đứa con thơ, tìm đường vào Nam lập nghiệp.

Với hai bàn tay trắng chỉ vỏn vẹn một đồng dính túi, ba mon men vất vả dọc đường tìm kế sinh nhai, bất cứ việc gì ba cũng làm, ngủ bờ ngủ bụi cho qua ngày qua đêm để tìm đến nơi muốn đến.

Trong Nam, ba đi làm thuê, lăn lộn mãi rồi cũng tìm học được nghề làm bánh mì, bánh ngọt, các loại kẹo, dành dụm được một số vốn rồi chọn miền Trung làm chỗ định cư, thuê nhà mở tiệm, đón vợ con vào sum họp.




banh oan
Bánh oản



Tôi không thể tưởng tượng được, làm thế nào mà ba đương nổi, ban đêm chuyên làm bánh mì, ban ngày hết làm bánh khảo nhân đậu đen, nhân đậu xanh (bánh này các đám hỏi, đám cưới hay đặt làm sính lễ)  đến bánh oản gói giấy bóng gương xanh, đỏ, tím, vàng (dân quê hay mua cúng rằm, mồng một), kẹo mè, kẹo đậu phụng (miền Bắc còn gọi là kẹo xìu), kẹo dừa (loại kẹo này nhỏ bằng đốt ngón tay út vấn từng viên trong giấy dầu, không chỉ con nít rất ưa chuộng mà ngay người lớn cũng rất thích), chưa kể thỉnh thoảng ba làm kẹo kéo dồi đậu phụng rang giả nhỏ bên trong rồi kéo từng que, khẩy cái cạch cho đứt khúc ra ăn. Vào mùa Trung Thu, ba còn làm bánh nướng, bánh dẻo và làm cả lồng đèn nữa. Nói chung, ba rất khéo tay và thông minh. Ngoài công việc làm ăn, sắp xếp điều hành với chừng đó công việc phân chia cho nhân công, mẹ lo bán hàng và lũ con nít chúng tôi có nhiệm vụ vấn kẹo dừa, để giải trí, ba đặc biệt làm sáo diều rất tuyệt vời không biết học từ đâu hay từ sáng kiến. Những vành tre và ống tre, ba vuốt và nắn thành hai cánh diều to bằng cả hai cánh tay giang ngang dán giấy dầu vàng người ta hay dùng gói quà, phía đuôi diều còn những cái đuôi giấy lướt thướt, khi diều cất lên cao giữa bầu trời mênh mông trông đã đẹp còn cất tiếng vi vu rất hay, một hình tượng diễn tả cảnh thanh bình tuyệt vời. Ngay cả việc nấu nướng, cũng không rõ học từ đâu, ba chế biến nhiều món rất lạ, ngon thêm tính hậu hỉ hiếu khách nên hay mời bạn bè về ăn. Thậm chí khi nhà có tiệc tùng, đám hỏi, đám cưới chính ba điều khiển đưa món ăn và đôi khi đứng bếp.

Sau này, để nghỉ ngơi và kinh tế gia đình khấm khá, ba bỏ hết không nấu kẹo, làm bánh ngọt nữa, ba chỉ còn giữ công việc làm bánh mì. Mà công việc này, thời đó, chưa có công nghệ bằng máy móc như ngày nay, cũng vất vả không kém. Dù có thuê thợ thuyền, nhưng việc chính yếu, khó khăn, ba vẫn ra tay gánh vác. Như đốt lò củi, khúc củi nào cũng to như cả cái chân, đưa vào lò đốt lên hong nóng xong phải cào ra, lau lò cho sạch để nướng bánh. Lò canh sao không được nóng quá, không được nguội quá, nếu không, bánh sẽ bị “bum” nghĩa là không nở đúng cái bánh mình mong muốn. Mọi việc thuận buồm xuôi mái thì còn đỡ, những lúc củi bị sụp tắt ngúm, khói bay mịt mù, ai cũng chạy có cờ, thì ba tôi phải đương đầu khèo dựng lại củi trong lò sao cho cháy lại.

Trời miền Trung nóng như lửa đốt, thêm hơi lửa trong lò phà ra, thời đó đâu đã có máy điều hòa, từng ổ bánh mì hoàn thành là bao giọt mồ hôi ba tôi đổ ra như tắm.  Ngay cả khi nhồi bột cũng bằng tay, chúi đầu xuống cái thùng như cái quan tài để nhào lộn khối bột cho nhuyễn là cả một công trình. Những lúc nhìn ba vất vả kiếm tiền nuôi gia đình, tôi cảm thương không bút nào kể xiết, chỉ biết nhớ công ơn ba và đền đáp bằng cách sống thật ngoan, chăm chỉ học hành, không hoang phí phá tiền dù lúc đó ba không còn nghèo mà còn khá giả là đằng khác.

Ngoài trách nhiệm lo kiếm tiền nuôi vợ con, là đàn ông nhưng ba lại có những cử chỉ hành động tinh tế sâu sắc mà bao người mẹ luôn được con cái vinh danh vào những dịp “ngày của mẹ” hay “lễ Vu Lan”, thì tôi lại thấy sự hy sinh của ba tôi sâu sắc tinh tế không thua gì các người mẹ, đôi khi còn có phần hơn.


Ba hay theo dõi đời sống con cái ngay khi chúng đã lập gia đình. Biết tôi lấy chồng nghèo nhất là sau 1975 chồng còn bị đi tù, ba đặc biệt quan tâm tôi nhiều hơn. Ba lặn lội từ miền Trung, vất vả tàu xe, ngủ gà ngủ gật chỉ để vào Sài Gòn thăm tôi và dúi cho tôi một món tiền lớn, lúc nào cũng dặn dò:


-Con rán chăm sóc bố chồng con cho tử tế (cụ bố chồng là bạn thân của ba tôi), thấy ai nghèo con cứ giúp. Riêng con, không tiêu hoang là được. Khi nào hết tiền thì cho ba biết.


tran thi nhat hung va cha


Tôi thương ba thêm lòng tự trọng không bao giờ tôi tỏ ý thiếu thốn, xin xỏ để ba phải lo lắng quan tâm, nhưng ba tinh ý nhận ra, và cứ canh, đoán chừng tôi hết tiền là ba xuất hiện. Những lúc ba vào, sau chuyến đi dài, nhìn tóc ba bạc phơ, nét phờ phạc, mệt mỏi hằn trên khuôn mặt đã nhiều nếp nhăn, tôi cảm thương muốn khóc, khuyên ba đừng vô nữa, hãy để tôi về thăm ba.

Ngày tôi về miền Trung thăm gia đình, túi đã sạch trơn, chỉ còn vài chục để dành cho tàu xe, tôi chỉ luẩn quẩn trong nhà, ăn cơm của cha mẹ, từ chối tất cả mọi lời mời của bạn bè rủ đi ăn sau nhiều năm gặp lại. Thế mà ba tôi cũng nhận ra, để một ngày, khi tôi đang thơ thẩn đứng bên khung cửa nhìn ra cây si trồng trước sân nhà, bâng khuâng ngắm đàn chim sẻ ríu rít chuyền từ cành này sang cành kia rồi bay vút trong bầu trời quang đãng, ba tôi lại mon men đến gần, ba không nói gì, chỉ nắm lấy tay tôi, vạch năm ngón tay tôi xòe ra rồi đặt vào đó một cọc tiền. Tôi ngạc nhiên hỏi:

-Tiền gì vậy ba?

-Ba cho con để đi chơi với chúng bạn!

Tôi ngẩn người ra đưa mắt nhìn ba, chưa kịp nói hai chữ “cám ơn” ngắn ngủi, ba đã bỏ đi để tôi nhìn theo với vô vàn xúc động.

Tôi cúi xuống nhìn cọc tiền quấn tròn trong một sợi dây thun, bất giác mủi lòng không muốn khóc mà nước mắt cứ từng giọt trào ra. Những giọt nước mắt ân tình trong như pha lê nhẹ nhàng rơi xuống cọc tiền nhưng thấm sâu vào hồn tôi, len vào từng ngõ ngách. Tôi nghẹn ngào cảm động, vừa thương ba vừa thương mình. Nói sao cho vừa, tôi chỉ biết in thật sâu vào tâm khảm hình ảnh cử chỉ ân cần, gói ghém đầy tình thương yêu của ba dành cho tôi và tôi nguyện một ngày nào đó có cơ hội tôi sẽ đáp đền tình ba.

 Không thể tiếp tục phiền ba, và cũng không thể sống được với chính sách khắc nghiệt của chế độ mới đối với thành phần “ngụy quân, ngụy quyền” như tôi, tôi tìm cách một mình bỏ nước ra đi hy vọng ở chân trời mới tôi có thể đổi đời, được sống đời tôi muốn sống.

Ba tôi vậy đó. Rất hiền lành, nhân từ, sâu sắc. Ba rất ít nói, tình cảm trong ba không thể hiện bằng lời mà chỉ qua cử chỉ hành động. Từng cơ cực gian khổ lúc thiếu thời, khi khấm khá, ba hay quan tâm đến người nghèo. Ba hay nói với con cái trong nhà. Bắt được tên trộm thì nên tha họ, đôi khi còn giúp họ. Chẳng qua vì đói mới phải làm thế, còn biết sợ sệt xấu hổ nên mới lén lút đêm hôm. Ăn cướp mới đáng sợ. Thế mà khi ba bị mất ba căn nhà do nhà nước tịch thu sau 1975, một lần tôi đề nghị ba lấy lại khi có tin nhà nước hoàn trả lại cho dân. Ba lại nói:

-Thôi, con ạ. Người ta dọn vô nhà mình đã sinh con đẻ cái. Nay đuổi họ ra, gia đình họ cầu bơ cầu bất mình có vui không. Mình mất ba căn nhà, Trời Phật đã cho lại ba căn khác rộng lớn khang trang hơn cho ba đứa vượt biên ở hải ngoại. Như thế còn đòi gì nữa.

Ba luôn an phận theo châm ngôn “có phúc có phần” rồi bình thản sống như một thiền sư:

Sống không giận không hờn không oán trách.

Sống mỉm cười với thử thách chông gai.

Sống vươn lên cho kịp ánh ban mai.

Sống chan hòa với những người chung sống.

Sống là động nhưng lòng không xao động.

Sống là thương nhưng lòng chẳng vấn vương.

Sống hiên ngang danh lợi mãi coi thường.

Tâm bất biến giữ dòng đời vạn biến.

(Thích Hạnh Hải)


Có lẽ nhờ vậy mà ba tôi có phúc có phần. Cả đời không thấy đau đớn bịnh tật gì ngoài cảm ho, ngứa ngáy vớ vẩn rồi nhẹ nhàng ra đi ở tuổi 107.

Viết bài này để Nhớ Về Cha với nén hương lòng thành kính dâng ba với niềm tri ân vô bờ bến của con.

TTNH

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/08/2018(Xem: 20255)
Hàn Mặc Tử hay Hàn Mạc Tử, tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22 tháng 9 năm 1912 – từ trần ngày 11 tháng 11 năm 1940 là nhà thơ nổi tiếng, khởi đầu cho dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam, là người khởi xướng ra Trường thơ Loạn. Hàn Mặc Tử cùng với Quách Tấn, Yến Lan, Chế Lan Viên được người đương thời ở Bình Định gọi là Bàn thành tứ hữu, Bốn người bạn ở thành Đồ Bàn. Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ở làng Lệ Mỹ, Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình; lớn lên ở Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Tổ tiên Hàn Mặc Tử gốc họ Phạm ở Thanh Hóa. Ông cố là Phạm Chương vì liên quan đến quốc sự, gia đình bị truy nã, nên người con trai là Phạm Bồi phải di chuyển vào Thừa Thiên – Huế đổi họ Nguyễn theo mẫu tánh. Sinh ra ông Nguyễn Văn Toản lấy vợ là Nguyễn Thị Duy (con cụ Nguyễn Long, ngự y có danh thời vua Tự Đức), Hàn Mạc Tử, Lệ Thanh, Phong Trần là các bút danh khác của ông. Ông có tài năng làm thơ từ rất sớm khi mới 16 tuổi. Ông đã từng gặp gỡ Phan Bội Châu và chịu ảnh hưởng khá lớn của
29/07/2018(Xem: 6050)
Nhà văn Hoàng Mai Đạt --cũng là Chủ Bút Nhật Báo Viễn Đông -- cho biết số báo ra mắt đã mất nhiều tháng mới làm xong, nhưng hy vọng tương lai sẽ được chư tôn đức Tăng Ni và quý cư sĩ hỗ trợ để thuận lợi cho việc hoằng pháp. Số ra mắt Tinh Tấn Magazine in trên giấy láng, nhiều màu, dày 90 trang, khổ báo tạp chí. Trong số ra mắt Tinh Tấn Magazine, có nhiều bài tập trung chủ đề Quan Thế Âm Bổ Tát hoặc chủ đề từ bi, trong đó có bài: Hạnh Nguyện Cứu Độ Chúng Sanh của Đức Quán Thế Âm (tác giả HT Thích Tịnh Từ);
21/06/2018(Xem: 5169)
Phần này bàn về các cách gọi thời gian như giờ, ngày, tháng trong tiếng Việt vào thời LM de Rhodes sang An Nam truyền đạo. Tài liệu tham khảo chính của bài viết là các tác phẩm Nôm của LM Maiorica và Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), Phép Giảng Tám Ngày (PGTN) và từ điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là từ điển Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra từ điển này trên mạng, như trang này chẳng hạn http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false.
14/06/2018(Xem: 14720)
Khoảng tháng 3 vừa rồi, Hòa Thượng Thích Như Điển, Phương Trượng Chùa Viên Giác (Đức Quốc) gởi cho chúng tôi bản final cuốn Mối Tơ Vương Của Huyền Trân Công Chúa với lời dặn dò: viết Lời cuối sách. Đọc thư Thầy, chúng tôi vô cùng băn khoăn, lo lắng và hơi bị “ngộp” dưới cái bóng quá lớn và ảnh hưởng rộng khắp của Thầy. Chúng tôi “ngại” vì biết Thầy có nhiều mối quan hệ thân thiết với các bậc tài danh khắp nơi. Ngược lại, chúng tôi chỉ là kẻ sơ học nhiều mặt mà lại dám chắp bút viết Lời cuối sách này? Chúng tôi rất đắn đo trước cái vinh dự to lớn ấy, trước cái trách nhiệm nặng nề này. Nhưng rồi anh Văn Công Tuấn nhiều lần “trấn an”, khích lệ. Và rồi, lại nghĩ rằng, Thầy Như Điển có lòng ưu ái, thương tưởng và muốn tạo điều kiện cho chúng tôi trong bước đầu tập tễnh học Phật. Xin cung kính niệm ân Thầy; và cũng qua đây kính mong quý vị độc giả thông cảm và lượng thứ cho những thiếu sót và non nớt không sao tránh khỏi, dù đã có nhiều
09/06/2018(Xem: 10368)
Tóm lược Khác với hầu hết những cộng đồng sắc tộc tại Úc Châu, người Việt đã đến đây thật đông đảo trong một thời gian tương đối ngắn, khi xã hội văn hóa đa nguyên của đất nước định cư nầy hãy còn trong tình trạng non trẻ. Sự hiện diện của một cộng đồng thiểu số Châu Á mà hình dáng bên ngoài dễ nhìn thấy, dễ nhận dạng, đã là một thách đố lớn lao cho giới lãnh đạo chính trị tại Úc, và sự bao dung của công chúng Úc nóí chung.
21/05/2018(Xem: 20663)
Một Cõi Đi Về Thơ & Tạp Bút Tập 3_Thích Phước Thái
10/05/2018(Xem: 5881)
Đó là tên được đặt cho tác phẩm nhiếp ảnh đầu tiên của tôi. Ảnh chụp năm 1993, bằng Máy ảnh Pentax cũ, mua được từ Tòa soạn Báo Khánh Hòa đợt thanh lý, với giá thời điểm đó là 100.000 đồng. Người mẫu: "Con gái rượu" Tịnh Thủy lúc được 2 tuổi.
10/05/2018(Xem: 5329)
Những biến động đàn áp Phật Giáo khởi đầu vào năm 63. Lúc ấy tôi cũng vừa tròn 13 tuổi. Cái tuổi của thắt nơ tóc bím đầy thơ mộng. Thì cũng chính vào những năm tháng thơ mộng nhất của đời tôi, tôi lại trực nhận rõ rằng cuộc đời quả là khổ, quả là vô thường !
10/05/2018(Xem: 5124)
Như vậy là Thầy đã thực sự xa lìa cõi trần ai tục lụy nầy hơn một năm rồi mà hình như trong lòng con vẫn không thấy có sự gì thay đổi hay khác biệt giữa mất và còn cũng như xa với gần, lạ và quen…Bởi thế mà hôm nay con mới có bức thư này xin gởi đến Thầy. Con vẫn thấy như còn mãi đó, trước mắt con, dáng dấp của Thầy với chiếc cà sa màu vàng rực, bờ vai trần và nụ cười thật hiền hòa luôn nở trên môi, làm cho khuôn mặt của Thầy càng thêm rạng rỡ. Con xin nói rõ hơn, dù Thầy không còn nhưng những gì con đã học được từ Thầy, đã được đọc, được nghe, qua những bài giảng dạy, thuyết pháp, những bài báo, bài viết, bài dịch thuật, qua các công trình đóng góp đồ sộ của Thầy mà Thầy đã được trân trọng vinh danh như là ngài Huyền Trang của nước Việt mình, thì trong lòng con, hình ảnh Thầy vẫn mãi sống động, hiển hiện và không bao giờ mất cả.
28/04/2018(Xem: 27077)
Có thể nói: Cuộc đời của Bùi Giáng không thuộc về khái niệm trong ý nghĩa của sự sống chưa thoát khỏi những ranh giới định kiến phân biệt trần gian. Ở ông, hình như cái ranh giới mà tạm gọi là khùng điên và thiên tài không thể nào hiểu hết được. Nếu mượn những khái niệm thường tình: hèn- sang, nghèo- giàu, điên- tỉnh, ghét- yêu, buồn- vui…để Bùi Giáng, hện tượng của ý nghĩa sự sống vô tận, Thích Tâm Tôn, nói cái bất tận của cuộc đời Bùi Giáng thì chỉ là ý nghĩ ngây thơ cạn cợt. Thơ ông không phải để bàn, nhưng lạ thay, lâu nay người ta vẫn thích bàn và bàn chưa thể hết những gì thuộc về thơ của ông. Có lần ông bộc bạch, ông làm thơ đơn giản chỉ vì: “Thơ tôi làm ra là để tặng chuồn chuồn, châu chấu, xin các ngài học giả hãy xa lánh thơ tôi”. Xin mượn tạm chút ngôn ngữ của những khái niệm thường tình mà nói đôi dòng về ông trong ý nghĩa sự sống mà ông đã đi qua và đã lưu dấu lại trong cuộc đời này.