Bài Điếu Văn Cho Anh

04/07/202504:49(Xem: 5889)
Bài Điếu Văn Cho Anh

tran huu le (8)
Bài Điếu Văn Cho Anh.

Trần Thị Nhật Hưng




Một hôm rảnh rỗi, vớ vẩn, tôi hỏi chồng tôi:
-Sau này trăm tuổi, anh Lễ ước mơ được như thế nào?
-Về già, anh mong được về Yên Bái và được gởi thân trên một ngọn đồi.
Tôi cười:
-Sao khôn quá vậy...chàng, lúc trẻ theo em ra nước ngoài hưởng thụ vật chất đủ đầy. Lúc già cả chân yếu tay run về quấy rầy con cháu bắt chúng hầu, ai mà gánh?

Anh lặng thinh, tôi nói thêm:
-Thôi, an phận ở Thụy Sĩ đi. Một trăm năm trước không có mình, một trăm năm sau cũng không có mình. Thân này giả tạm, chết thì thiêu rồi rãi tro ra biển, thế là xong. Cuộc đời này đau khổ, có gì hay để gởi thân lại nó chứ.

Anh vẫn làm thinh, không giải thích gì, nhưng tôi biết theo quan niệm ấp ủ lâu năm của anh, anh muốn giữ thân thể nguyên vẹn để nếu chôn, thân xác gởi tại quê nhà, trúng long mạch cho con cháu có cơ hội ngoi đầu lên.

Yên Bái là nơi, sau 1954, gia đình anh vốn địa chủ thêm do anh di cư vào Nam nên bị cộng sản ghép tội phản động, từ Thái Bình đày tuốt đến vùng sâu và xa nơi rừng thiêng nước độc, một loại như tù chung thân, nơi đêm đêm chỉ có tiếng ếch nhái ểnh ương nỉ non hay khỉ ho, cò gáy và đồng bào thiểu số.


tran huu le (2)tran huu le (3)tran huu le (4)

Hình ảnh Yên Bái xưa và nay



Anh ra đi, để lại người vợ trẻ và một đứa con thơ vừa mới sinh được 5 tháng. Cuộc hôn nhân phong kiến khi anh mới 16 tuổi ghép với một phụ nữ 19 tuổi. Cả hai đều bị đặt để theo truyền thống “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” không ai có quyền làm chủ chính mình, kể cả đẩy anh ra đi với nhiệm vụ chăm sóc cha già di cư vào Nam. Từ đấy cho tới bây giờ, có lẽ là số phận, vợ con anh vẫn đợi chờ ở Yên Bái lây lất qua ngày với những công việc hái chè, sao chè, đồng áng và những công việc không tên.

Số phận anh cũng chẳng hơn gì, một cậu bé 17 tuổi vào Nam, nơi đất lạ quê người, anh bương chải kiếm sống, đi xin việc, một công việc gõ đầu trẻ tại một trường tiểu học còn bị chê vị thành niên, đợi vài tháng đủ tuổi họ mới nhận. Anh tự nuôi thân và nuôi bố nên không có thì giờ đến trường để đi học như bao trẻ cùng trang lứa, chỉ mon men thăm hỏi bài vở của bạn bè rồi tự học, thế mà anh dễ dàng vượt qua được hai bằng Tú Tài phần một rồi phần hai, dần dần từng bước leo lên dạy trung học rồi sau làm Hiệu Trưởng ngay trường đó.

Chiến tranh khốc liệt ngày càng gia tăng đẩy anh vào lính. Trong quân đội anh được đề cử làm Quận Trưởng và sau là Tỉnh Đoàn Trưởng tỉnh đoàn Cán Bộ Phát Triển Nông Thôn tại một tỉnh lỵ miền Trung.

Trước nước nhà nghiêng ngửa, gia đình ly tán, anh cảm nhận trách vụ của một thanh niên mang hoài bão dựng lại cơ đồ mong đưa đất nước thanh bình, tự do, độc lập, dân chủ, không những cứu gia đình, gia tộc mà còn cứu cả dân tộc thoát ách cộng sản phi nhân với ý thức hệ ngoại lai. Tiếc là một con én không làm nổi mùa Xuân, lại thêm vận nước tối tăm, anh ngậm ngùi nhìn quê hương lầm than rơi vào tay cộng sản, anh phải vào tù, chôn theo bao mộng đẹp, ước mơ anh hằng ấp ủ.

tran huu le (1)tran huu le (5)

Tôi đến với anh, dù tuổi tác chênh lệch những 15 tuổi, có lẽ do nhân duyên nợ nần anh từ bao kiếp trước để kiếp này chia sẻ cùng anh những vui, buồn gian khổ trong cuộc sống. Tôi đến với anh, không vì danh lợi dù anh có chức vụ quan trọng, vì nếu như thế, khi anh ngã ngựa sa cơ thất thế, tôi đã bỏ anh, để chạy theo “người tình” đang sẵn sàng sưởi ấm tim tôi giữa bao sương gió phũ phàng do hoàn cảnh gia đình anh mang lại (kết hôn với anh, tôi không hề biết anh đã có một đời vợ và có một người con trai ngoài Bắc). Mà tôi *“thương anh không hẳn vì tình thương, không phải vì sang giàu (anh vốn chẳng sang mà cũng chẳng giàu) mà vì cùng chung chí hướng”. Vâng, đúng vậy. Vốn là một chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa có lý tưởng, anh trôi nổi với những hoài bão vượt trên mọi vật chất tầm thường chỉ để phụng sự nhân sinh, xã hội, dân tộc theo khả năng mình hơn là đeo đuổi vật chất để phục vụ đời sống bản thân khi anh có cơ hội làm giàu trên những chức vụ anh có. Hằng ngàn chiếc xe đạp Phượng Hoàng, hằng ngàn chiếc máy ảnh, chăn mền, tôn, xi măng..v.v.. nhiều lắm (anh không hề mang về cho anh, cho tôi một món gì) do Hoa Kỳ viện trợ để xây dựng nông thôn hoặc anh chỉ cần nhận lương cán bộ ma cũng đủ giúp anh giàu nứt đá đổ vách. Anh rất thanh liêm, trong sạch, còn là một công dân gương mẫu hiền lành không cờ bạc, rượu chè, trai gái, hút sách. Một điếu thuốc cũng không, một ngụm bia cũng chưa uống đừng nói chi là rượu, thậm chí cà phê cũng không. Nhiều lần, anh thường nói với tôi “không có em anh có thể trở thành tu sĩ”. Quần áo anh, ngoài duy nhất hai bộ “si vin”, còn thì chỉ ba bộ bà ba đen thay qua đổi lại. Chính điều này làm tôi ngưỡng mộ, kính trọng anh và càng phục anh hơn, khi tôi thấy anh nuôi chí vươn lên. Bên cạnh công việc của một vị chỉ huy, anh nhờ bạn lấy tài liệu Luật khoa ở Sài Gòn gởi về để anh tự học. Anh mong sau này khi giải ngũ có một tương lai vững chải khá hơn mang lại cho tôi và thân phụ anh khỏi cảnh buổi sáng điểm tâm chỉ có chén cơm nguội chan nước mắm, đổi bữa thì nửa ký bún chia cho ba người chan xì dầu, đến trái bắp luộc, ổ mì xíu cũng là hàng xa xỉ ngoài mức lương anh có.





Rồi sau khi bị ám sát hụt bằng hai quả lựu đạn ném vào nhà, may có Phật Trời che chở, cả ba người chúng tôi thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Hôm đó, khoảng 8 giờ tối, bỗng dưng có người gần nhà đến mời bố chồng tôi sang bắt mạch kê đơn thuốc (Cụ có nghề Đông Y, ai cần thì cụ giúp không nhận thù lao). Khi cụ đi rồi, có hai cán bộ đến chơi. Tôi bỏ qua nhà hàng xóm để anh xã tự nhiên trò chuyện. Chính lúc này, kẻ khủng bố đứng ngoài hàng rào ném thẳng hai quả lựu đạn vào phòng khách. Có lẽ gần quá, nên lựu đạn chưa kịp nổ thì ba người đã chạy thoát ra khỏi phòng. Về sau, sau năm 1975, kẻ ném lựu đạn ra kể công với chính quyền mới, không ai khác hơn chính là anh cán bộ từng là tài xế riêng cho anh xã do Việt cộng cài. Từ đó, gia đình tôi phải tìm cách chuyển đi.

Đổi vô Sài Gòn, ngoài việc làm trong bộ Nội Vụ, anh chỉ còn thi năm cuối là xong bằng Cử Nhân Luật. Tiếc là biến cố 1975 đã cuốn đi hết những mộng đẹp của bao người, trong đó có anh, có tôi (tôi đang theo học Đại Học Văn khoa mơ sau làm cô giáo). Anh vào tù. Sau chín năm bị đọa đày gian khổ nơi rừng thiêng nước độc miền Bắc, anh được thả về mang theo một nghề mới cũng tự học: Châm cứu.

Trong tù, anh từng cứu giúp bao bịnh nhân vì nơi đó không có thuốc men, ngoài tù và sau này ở Thụy Sĩ, anh chữa mát tay cho bạn bè, tiếng lành đồn xa, được một phòng mạch và một bịnh viện ân cần mời anh làm việc (anh chưa tự kiếm việc vì còn lo học tiếng Đức, mà việc tìm đến anh).

Trở lại sau ngày anh ra tù, vì thời cuộc, hoàn cảnh xã hội, đất nước, anh không thể ở lại Việt Nam với cộng sản để sum họp với người vợ đã chờ anh hơn hai mươi mấy năm qua, đẩy anh vượt biên sang đoàn tụ cùng tôi (tôi đã bỏ nước ra đi trước đó 6 năm để trốn chạy nghịch cảnh đau thương đổ ập đến đời mình), đưa tôi vào việc đã rồi phải chấp nhận.

tran huu le (6)
Anh Lễ tham dự Khóa tu học Phật Pháp Âu Châu 



Rồi cuộc sống cứ thế tiếp diễn, cũng như bao người khác, ẩn nhẫn làm việc, tiết kiệm tối đa để lo cho gia đình, gia tộc vực họ dậy từ vực sâu sau cơn bão dữ của thời cuộc. Chỉ tiếc là số phận trêu ngươi, mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên, tất cả đều trở thành bọt biển. Vợ con anh vẫn chung thân nơi núi đồi Yên Bái. Ở đó sinh con đẻ cái tiếp nối đến ba đời: Con, cháu và chắt của anh.

Tuổi già thì bịnh tật đến. Chín năm tù cũng làm hao mòn sức khỏe anh khá nhiều. Anh bắt đầu vướng những bịnh thông thường mà người cao tuổi thường bị “mỡ, đường, máu”. Không muốn chết để bỏ lại người vợ trẻ là tôi, anh ăn kiêng tối đa đến tội. Chè, anh ăn không cho đường. Bánh cuốn, không chan nước mắm..v.v..Nhờ vậy, anh vẫn khỏe mạnh cho đến 87 tuổi vẫn du lịch đó đây. Nhưng chính vào thời điểm mà bạn bè, họ hàng khao đãi anh: Tuổi già rồi, đi chơi ăn uống cho thoải mái, kiêng làm gì. Cũng có lý, tôi để anh ăn thả giàn hết chè ba màu ngọt lịm, đến tô phở tàu bay đậm đà đầy thịt và mỡ màng, trái cây như hồng, sầu riêng tha hồ ăn vô tội vạ... Định bụng khi về lại Thụy Sĩ kiêng cũng không muộn. Thế nhưng, tất cả đã muộn màng, đúng là bịnh tòng khẩu nhập. Một tháng sau vừa về tới nhà anh bị biến chứng tiểu đường thêm huyết áp cao làm suy thận giai đoạn cuối và bàng quang, anh phải kiêng ăn tối đa còn hơn trước đó nữa. Tiểu tiện phải dùng ống thông, tăng cường thuốc men, ngoài uống còn chích insolin vô cùng vất vả. Anh bắt đầu hay quên, tôi chăm anh như chăm một em bé...

Thế nhưng, anh không đau đớn gì, vẫn ăn ngon ngủ yên nên luôn nghĩ mình khỏe mạnh. Anh không hề nghĩ, anh như chiếc xe đã có một phụ tùng trục trặc, chỉ cầm cự cho đến lúc đồ phụ tùng đó hư, thì xe đứng máy.

Biết anh như vậy, nhân dịp Tết, tôi đưa anh về thăm quê hương, gia đình, họ hàng và nhất là con cháu ruột anh lần cuối cho trọn tình trọn nghĩa, rồi sau đó về lại Thụy Sĩ nghỉ ngơi không nghĩ chuyện đi đâu nữa. Không ngờ trạm cuối cùng tại Việt Nam lại là ngày vĩnh viễn anh để lại thân xác nơi núi đồi Yên Bái anh từng mong đợi.

Chuyến về Việt Nam lần đó kéo dài những bốn tháng rưỡi. Tôi đưa anh đi Bà Rịa, ngoài thăm người em con chú bác của anh có vườn cây cà phê, ca cao, tiêu còn để hưởng không khí trong lành, sau đó ra Quảng Ngãi thăm gia đình tôi, rồi về tận quê Thái Bình, nơi anh sinh ra để ăn Tết tại đây. Vì là nơi chôn nhau cắt rốn, anh gặp toàn bộ họ hàng từng sống với anh trong thời tuổi thơ. Anh vui và họ cũng vui. Ngày ngày họ lần lượt kéo về tụ tập tại căn nhà, chính là nhà của anh khi xưa đã giao cho người em con chú bác trông nom hương khói từ đường (từ đường sát bên cạnh nhà) mà đúng ra là nhiệm vụ của anh.

Nửa đêm 28 Tết trời bỗng đổ cơn giông, gió từng cơn thổi về rờn rợn, tôi giật mình khi nghe một tiếng “rắc” như vật gì gãy đổ xuống. Sáng ra mới biết đó là cây nêu thật cao trên có treo một lá cờ. Tôi chợt rùng mình khi nhớ về những câu chuyện tôi đọc trong sách sử. Khi ra quân, lá cờ gãy đổ là ứng vào chủ tướng tiêu. Vậy trong nhà này, ai là chủ tướng? Anh Lễ ư, hay người em họ anh? Tôi không dám nghĩ tiếp.

Thế rồi, theo chương trình, mồng 6 Tết, tôi đưa anh lên Yên Bái, nơi mà ba đời con cháu anh đang ở đây. Còn người vợ đã mất trước đó chín tháng rồi.
Đến Yên Bái vào một giờ sáng mồng 7, anh còn ăn được một tô phở gà nóng do cháu dâu nấu. Thế mà sáng hôm sau, anh bắt đầu hục hặc ho và nóng sốt. Tôi cho anh uống thuốc cảm ho, anh có phần mệt mỏi đi đứng hơi xiêu vẹo, nhưng ăn vẫn ngon miệng.

Cảm ho là bịnh thông thường, anh có phần thuyên giảm sau khi uống thuốc. Thế mà ngày thứ ba tối mồng 9 Tết, trong khi anh dùng cơm với một khúc cá hấp thật lớn, một đĩa đậu que xào, anh vẫn ăn rất ngon. Ăn xong, tôi hỏi thăm:

-Anh Lễ khỏe không?
-Khỏe.
-Anh thấy trong người thế nào?
-Vẫn bình thường.
-Có nghe tiếng thở khò khè trong họng không?
-Không.

Rồi anh đi ngủ. Nửa đêm chạng vạng, lúc 1 giờ hơn, tôi có thói quen thức dậy tiểu đêm, nhìn sang anh, mền tốc ra khỏi người. Nhân tiện đắp chăn lại cho anh, tôi đưa tay sờ trán, cổ và gáy anh để thăm dò nóng sốt thế nào, tay tôi ươn ướt. Tôi lần dò sờ xuống lưng thì thấy anh đẫm mồ hôi. Tôi chạy ra ngoài tìm chiếc khăn tắm để lau lưng cho anh. Anh nặng quá, tôi vội gọi cho Điển, cậu cháu nội phòng bên cạnh sang giúp đỡ. Tôi và cháu luồn tay nhau đỡ anh dậy, anh mở mắt nhìn tôi rồi con ngươi anh như đờ đẫn đứng tròng, tôi không bao giờ quên được ánh mắt cuối cùng này của anh như gởi gắm điều gì ở tôi. Rồi anh khép mắt lại, thở dốc. Tôi linh cảm có việc chẳng lành nhưng chẳng biết làm sao hơn. Núi đồi Yên Bái không có bịnh viện ngoài cái trạm xá, và cũng chẳng có taxi. Người cháu gọi Thụy, bố cháu lại, nhà cũng gần đó. Đỡ anh dựa vào tường, anh vẫn thở dốc. Tôi và Điển vừa thay phiên nhau đập đập ngực anh vừa cùng Thụy, người con trai anh bàn tính. Phải đưa anh đến trạm xá. Nếu cứu không được sẽ đưa anh ra bịnh viện thành phố Yên Bái cách đó gần hai tiếng xe hơi. Cậu cháu nội gọi điện thoại người bạn thân có xe hơi giúp đỡ. Chỉ vài phút xe đến. Cậu con trai của anh bế thốc anh vào xe. Trời lâm râm mưa và lạnh. Chúng tôi lếch thếch mang cả chăn mền theo để đắp cho anh.

Khi đến trạm xá, chỉ là một căn nhà nhỏ như một ngôi trường làng. Có hai vị trực ban tiếp chúng tôi. Không rõ là bác sĩ hay y tá. Một anh đem cả dàn máy thúc oxy trợ lực thở cho anh. Một chị đo huyết áp. Vừa đo, chị vừa lắc đầu “nặng quá rồi, sợ không qua khỏi”. Khi chị lấy máy ra, chị phán “ông đi rồi”. Lúc đó nhìn đồng hồ, đúng 2 giờ 20 phút sáng mồng 10 Tết.

Chúng tôi chưng hửng ngó nhau. Mọi cảm giác như tê liệt, không rõ tâm trạng lúc đó ra sao nữa. Tôi sực nhớ, vội nói “hãy niệm Phật cho ông”. Nhưng cũng chỉ niệm được vài câu, Thụy hỏi “giờ làm thế nào?”, “thì lo chôn cất chứ làm sao”. Bàn tính một lúc, quyết định đưa anh về nhà Thụy, con trai anh, nơi có một cái sân trước nhà cũng tiện.


Tang lễ được cử hành chóng vánh theo lệ làng. Cái lệ mà đến phép vua cũng chịu thua. 9 giờ sáng ngay hôm đó mọi sự đã hoàn tất từ trang trí, quan tài, ban thờ, thầy cúng (không phải sư) do dịch vụ phụ trách, rồi tẩn liệm luôn để sáng hôm sau chôn. Chỉ cần thưa với làng xã một tiếng là mua được đất đối với người ngoài làng. Người trong làng, đất chôn được miễn. Nhân lực trong làng dường như có sẵn. Phân bổ theo luật bất thành văn, nhóm này đào mộ, nhóm kia nấu ăn, nhóm nọ chạy linh tinh...chỉ phôn một tiếng là mọi sự sẵn sàng. Công cán chỉ lo cho họ những bữa ăn kể cả người đến phúng điếu. Lạ một điều, anh chẳng quen ai, nhưng dân làng ở đây, họ thân tình, hễ nhà nào có tang lễ là kéo nhau đến chung lo. Tôi chả biết ất giáp gì, nhập gia tùy tục, mọi sự để con cháu anh quyết định. Riêng mộ chôn đúng ra sẽ để anh nằm kề mộ người vợ cũ, nhưng xem hướng thì tréo nhau, đành chọn cho riêng anh một chân đồi khác nhìn xuống bao mộ phần bên dưới và nhìn thấy gấm vóc giang sơn Việt Nam anh từng ấp ủ dựng xây. Anh sẽ là người “lãnh đạo” nghĩa trang này, vì vị trí anh nằm không mộ nào xen vô “ngồi” trên đầu mộ phần anh được.

tran huu le (6)tran huu le (7)



Anh đã toại nguyện với ước mơ được nằm trên đồi Yên Bái, ra đi đúng lúc, đúng chỗ, đúng thời, đúng tuổi và xung quanh có con, cháu, chắt trông nom hương khói. Ai cũng cho anh đầy phước báu, sống an lành, tuổi già có tôi chăm sóc, còn chết thì bình yên, không đau đớn gì, được bao người cùng nhau lo cho anh. Tôi tự hỏi, đây có phải là nhân lành anh từng gieo khi sinh tiền luôn giúp đời, cứu người nên an bài cho anh mọi điều như có bàn tay vô hình sắp sẵn.

Còn tôi, bên nỗi buồn chia ly, vĩnh viễn không bao giờ còn gặp anh nữa, tôi ở lại trần thế đối đầu với bao công việc hành chính tại Việt Nam mà mọi người thường hay nói “hành dân là chính”. Niềm an ủi cho tôi lúc bấy giờ là sự ân cần thăm hỏi, tận tụy hướng dẫn, giúp đỡ của mọi người khắp nơi. Từ Úc có Thầy Nguyên Tạng, bạn bè gần xa từ Canada, Pháp, Đức, Thụy Sĩ và nhất là những con, cháu, chắt, họ hàng của anh nỗ lực từng ngày, từng giờ để lo tang lễ và thủ tục.

Giấy báo tử tại thôn làng không khó.Vì rõ ràng họ thấy trước mắt tang lễ của anh. Giấy chứng nhận anh mất đêm qua thì trạm xá không chịu làm, lý do, sợ chúng tôi thưa kiện họ làm chết người. Quái vậy đó, không muốn nói dối, cũng đành khai gian anh mất tại nhà do tuổi già sức yếu. Sau đó cầm giấy báo tử trình lên huyện cách đó 45 phút đi Honda để xin cho được “Trích lục khai tử”, nó như dạng trích lục khai sinh. Sinh hay tử đều phải báo mới có giấy chứng nhận này. Giấy này rất quan trọng để tiếp tục gởi đến bộ ngoại giao tại Sài Gòn xác nhận, rồi mới trình lên Tòa Đại Sứ sở tại để có giấy chứng thực đem về nước trình làng.

Ôi, thật là nhiêu khê trong một xã hội kim tiền, chỉ dùng tiền để giải quyết mọi vấn đề. Luật chỉ để hành dân.

Thấy cái hộ chiếu nước ngoài trong tay, họ coi như trúng mánh. Họ bày vẽ, làm khó dễ để tăng phần công sức mà đòi tiền. Cậu cháu nội phải đi hai, ba lượt và phải “bôi trơn” (danh từ này tôi mới nghe qua khi sự việc xảy ra) nhét vào túi chúng một triệu rưỡi (trên 60 đô la US) mới nhận được giấy “trích lục”. Tưởng đã yên, khi nộp đến bộ ngoại giao tại Sài Gòn, họ không nhận với lý do, đó không phải bản chính thức có chữ ký bằng mực xanh của vị chủ tịch. Một lần nữa, cậu cháu nội lại vất vả đi lại cầu cạnh, lại phải “bôi trơn” cho huyện để có chữ ký bằng mực xanh rồi chuyển giấy vô Sài Gòn. Tưởng đã yên, một vấn đề khác xảy ra. Chữ ký cũng như con dấu của ông chủ tịch huyện tại Yên Bái chưa đăng ký với bộ ngoại giao nên không có giá trị. Trời hỡi, dù đã lên tiếng khiếu nại, giải bày, nhưng ông chủ tịch đâu vì một người dân mà lo giải quyết. Họ ngâm dấm không biết khi nào mới xong. Có muốn thúc hối...bôi trơn thêm nữa không chừng bị bọn cắc ké cấp dưới phĩnh gạt. Chúng tôi chết trân trước sự việc như thế. Sau gần một tháng rưỡi kể từ khi anh mất, đến ngày tôi có chuyến bay, đành bó tay gác hết lại về trình với chính quyền Thụy Sĩ trăm sự nhờ họ giải quyết. Họ thông cảm cho qua, thế là yên chuyện.

Nhưng không, sự việc chưa ngừng ở đó. Tại Thụy Sĩ, sau những thủ tục theo qui tắc phải trình làng, hết cơ quan thuế vụ, bảo hiểm, ngân hàng, di chúc, tiền hưu...hiển nhiên thôi, điều khiến ai cũng nhức đầu đó là luật Thụy Sĩ, một người vừa khuất, trước khi giải quyết vấn đề thừa kế, ngân hàng khóa hết trương mục tên người vừa mất, cùng gởi cho tôi không biết bao nhiêu giấy tờ để khai báo thế nào hợp lệ sổ sách khai thuế mới được sử dụng tài sản người mất.

Chúng tôi không có con riêng, nhưng vướng con này, con nọ từ phía anh, cũng khiến tôi mệt mỏi. Chao ôi, trăm dâu đổ đầu tằm, một mình tôi xoay sở, giữa khi mà năng lượng trong tôi đã hao mòn suốt thời gian hai năm dài chăm sóc anh cũng như khi anh mất. Tôi sụt mất bảy ký lô, héo hon từ thân xác đến tâm hồn...

Trở về Thụy Sĩ, với một tâm hồn nặng trĩu, bước vào căn nhà trống trải, đâu đâu cũng thấy bóng hình anh. Chỗ kia anh ngồi, chỗ nọ anh đứng, nằm. Anh cười, nói, ăn, uống...mà bây giờ vắng lặng đìu hiu như lòng tôi đang hiu quạnh.

Từng đối đầu để vượt qua những nỗi cô đơn lẫn cô độc ngay khi còn ở Việt Nam với dân số mấy chục triệu người và khi một mình sống tại Thụy Sĩ toàn những người xa lạ, tôi đã tập quen, tìm quên, làm bạn với những nhân vật trong truyện do tôi dựng nên. Ngày đó tôi còn trẻ, còn háo hức một tương lai chào đón, còn hy vọng có ngày gặp anh. Còn bây giờ, tuổi đời chồng chất, anh vĩnh viễn ra đi không bao giờ trở lại, tôi rũ xuống héo hon với nỗi cô đơn lẻ loi hiện tại. Nhưng mà, học Phật để làm gì. Đức Phật đã chẳng dạy điều vui hay buồn rồi cũng sẽ qua sao?! Nghịch cảnh chính là thử thách để tôi luyện hành giả, nếu vượt qua được sẽ chuyển hóa phiền não thành bồ đề. Đời vô thường mà. Thời gian sẽ là liều thuốc hay chữa lành mọi thứ tâm bịnh. Tôi cố gắng kiên trì chịu đựng, tự an ủi, kẻ cô đơn sẽ là người đi nhanh trong cuộc sống.

Và bây giờ, chuỗi ngày còn lại, trước khi rời bỏ cõi tạm này, cố gắng sống sao cho có ý nghĩa.

Tôi luôn nhớ ánh mắt cuối cùng anh nhìn tôi. Đó không là ánh nhìn gởi gắm cháu chắt anh cho tôi mà trong tờ di chúc anh từng ghi “theo sự sắp xếp của em” đó à. Đúng rồi, bao lâu, tuy anh không nói ra, nhưng anh ngấm ngầm buồn khi “tu thân” anh đã trọn, mà “tề gia” thì chưa hoàn thành khi ba đời con, cháu, chắt anh còn “chung thân nơi núi đồi Yên Bái”. Anh thất bại trong cuộc đời này, những hoài bão anh mong ước đã không thành công nhưng với tôi thì anh đã thành nhân.

Thôi thì, không ai qua khỏi qui luật sanh, lão, bịnh, tử. Kẻ trước người sau thôi. Chỉ khác là, khi sống, sống sao cho cuộc đời có ý nghĩa để khi xuôi tay nhắm mắt còn có người thương, người nhớ, và nhắc đến mình.

Mong anh yên nghỉ, sớm về cõi Phật A Di Đà, nơi mà anh khi sinh tiền, trước khi đi ngủ thường tụng kinh, niệm Phật ao ước về nơi ấy.
Qua bài này, con/tôi cũng xin trân trọng tri ân Chư Tôn Đức Tăng, Ni quí Tự Viện, tất cả họ hàng, bạn bè thân thuộc gần xa đã ân cần giúp đỡ thăm hỏi phân ưu đến anh Trần Hữu Lễ. Xin hồi hướng công đức này đến thập loại chúng sanh mong cầu thành Phật đạo.


Trần Thị Nhật Hưng

*(Nhạc phẩm: Quen nhau trên đường về. Nhạc sĩ Thăng Long)





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/10/2016(Xem: 18132)
Vào Thu đọc thơ Nguyễn Du: Hai bài thơ mang tên Thăng Long của Nguyễn Du Một phần nghiên cứu dịch văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du qua bài Thăng Long 昇龍 [1] Tản mạn nhận diện Quốc hiệu Việt Nam trong ý thơ của bài thơ Thăng Long Khái niệm lịch sử của Thăng Long Thăng Long, là kinh thành - kinh đô của đất nước Đại Việt, từ vương triều Lý , (gọi là nhà Lý hoặc Lý triều, 1009-1225) cho đến triều đại nhà Lê Trung Hưng (1533-1789), tổng cộng 564 năm[2]. Thăng Long cũng được hiểu và được biết đến trong lịch sử vốn là địa danh tên cũ của Hà Nội hiện nay. Thăng Long nghĩa là “rồng bay lên” theo nghĩa Hán-Việt, hay 昇隆[4] nghĩa là “thịnh vượng”. Từ Thăng Long: “昇隆” là từ đồng âm với tên “昇龍: Thăng Long”, nhưng mang nghĩa khác với “昇龍”.
27/09/2016(Xem: 9754)
Không bíết từ bao giờ những chú chim đã quây quần về đây càng ngày càng đông, nhảy nhót ca vang trên cành cây bên cạnh nhà mỗi ngày khi mặt trời chưa ló dạng. Nằm nướng vào những ngày cuối tuần, hay những hôm trời mưa rỉ rã, lúc trời đất giao mùa nghe chúng riú rít gọi nhau đi tìm mồi mình cũng thấy vui vui.
22/09/2016(Xem: 46277)
Đã có nhiều người nói và viết về nhạc sĩ Hằng Vang . Phần nhiều là những bài viết trong sáng, chân thực. Thiết tưởng không cần bàn cãi, bổ khuyết . Viết về anh, nhạc sĩ Hằng Vang, tôi chỉ muốn phác một tiền đề tổng hợp cốt tủy tinh hoa tư tưởng, sự nghiệp sáng tác của anh ; rằng : Anh là một nhạc sĩ viết rất nhiều ca khúc cho nền âm nhạc Phật Giáo Việt Nam, anh là một thành phần chủ đạo trong dòng chảy âm nhạc nầy ngay từ khi khởi nghiệp sáng tác thời phong trào chấn hưng Phật giáo, xuyên suốt qua nhiều biến động lịch sử trọng đại của PGVN cho đến tận bây giờ, anh vẫn miệt mài, bền bĩ cảm xúc, sáng tạo trong dòng chảy suối nguồn từ bi trí tuệ đạo Phật.
29/08/2016(Xem: 5960)
Cứ thế, một ngày vụt qua, lững thững ra đi không lời ước hẹn, cứ vậy, mịt mùng trao đổi, thân phận dòng đời, chờ chực vây quanh, chạy quanh lối mộng. Chiều xuống, nỗi buồn miên man gởi bay theo gió, trên kia cơn nắng chói chang của mùa hạ còn vương lại đâu đây, lặng nhìn núi đồi hoa lá, từng ấy trong lòng, một cõi mù khơi. Những giọt mồ hôi uể oải, từng nỗi đớn đau lũ lượt đọng lại, từng cơn hiu hắt thấm vào hồn, bây giờ trở thành những đơm bông kết nụ, những đắng cay ngọt bùi. Đâu đó, một chút hương lạ, làn gió bất chợt nhẹ lay, điểm tô không gian lắng đọng phiêu bồng, những thinh âm cao vút tận trời không, những hằng sa bất tuyệt chốn không cùng.
21/08/2016(Xem: 6421)
So sánh cách đọc Hán Việt (HV) với các cách đọc từ vận thư ("chính thống") của Trung Quốc (TQ) cho ta nhiều kết quả thú vị. Có những trường hợp khác biệt đã xẩy ra và có thể do nhiều động lực khác nhau. Chính những khác biệt này là dữ kiện cần thiết để xem lại hệ thống ngữ âm Hán Việt và tiếng Việt để thêm phần chính xác. Bài viết nhỏ này chú trọng đến cách đọc tên nhà sư nổi tiếng của TQ, Huyền1 Trang (khoảng 602–664, viết tắt trong bài này là HT) 玄奘 hay Tam Tạng, có ảnh hưởng không nhỏ cho Phật Giáo TQ, Việt Nam, Nhật và Hàn Quốc. Sư HT đã dịch nhiều bộ kinh và luận Phật giáo từ tiếng Phạn qua tiếng Hán, đưa Phật giáo gần đến nguồn Ấn Độ nguyên thủy hơn so với nhiều kinh dịch sai sót nhưng rất phổ thông vào thời trước (và cho đến ngay cả bây giờ).
13/08/2016(Xem: 5206)
Đức Phật đã dạy: " Mọi chuyện đều khởi đi từ duyên; duyên còn còn hiện hữu, duyên tan mọi sự trở về với trống không." Thật vậy, tôi chưa từng quen biết với các anh em trong " Hội Xây Dựng Tượng Đài Tỵ Nạn Hamburg", vậy mà mới lần đầu gặp gỡ khi các anh kéo nhau về ở München, tôi đã bị lôi cuốn bởi vẻ linh hoạt của anh Huấn, dáng điệu khoan thai, trầm tĩnh đầy chất Huế của anh Phù Vân, sự hăng say nồng nhiệt của anh Dũng, lời lẽ hài hước của anh Thoảng và dáng vẻ hiền từ dễ thương của chú Dũng Scirocco. Như vậy tôi phải có duyên lành với các anh nên mới nhận lời nối tiếp công việc các anh đang làm từ phút giây gặp gỡ ban đầu. Hơn nữa, đây là một nghĩa cử cao đẹp đầy ý nghĩa và cũng là dịp để Cộng đồng Việt Nam tỏ lòng biết ơn con tàu CAP ANAMUR, biết ơn nhân dân Đức đã cưu mang chúng tôi; vì vậy tôi đã hăng hái bắt tay vào việc với
31/05/2016(Xem: 18723)
Chữ NHƯ được thông dụng rất phổ biến trong văn chương và lời nói thường nghiệm của các dân tộc trên thế giới và trong Phật Giáo . Trong văn chương, chữ Như được thấy ở một số trường hợp : Xác định, phủ định, tương tợ, không thực…(như ảo, như hóa) đối với các vật thể hiện thực. Lãnh vực văn chương ở lời nói và viết thành văn, thơ. Ta thường nghe dân Việt nói và viết lời xác định về chữ như : Trắng như tuyết, cứng như đá, mềm như bún, nóng như lửa đốt, lạnh như băng giá, lạnh như đồng, xưa như trái đất, xưa như Diễm, chua như chanh, nắng như lửa đổ, mặn như muối, lạc (nhạt) như nước lã, tối như đêm ba mươi, đen như mực tàu, ốm như ma trơi, bén như gươm, cao như bầu trời, rộng như biển cả, ốm như cây sậy, nhanh như chớp, lẹ như sóc, dữ như cọp, ngu như bò, ngang như cua, v.v…
24/05/2016(Xem: 5576)
Xin chào. Xin chào Việt Nam! Thank you. Thank you so much. Xin cám ơn Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã dành cho tôi sự chào đón nồng ấm và cho tôi hưởng lòng hiếu khách của người Việt trong chuyến thăm này. Và cũng xin cảm ơn các bạn Việt Nam có mặt ở đây ngày hôm nay, những người đến từ khắp nơi trên đất nước tuyệt vời này, trong đó có rất nhiều người trẻ đại diện cho sự năng động, tài năng và niềm hy vọng của Việt Nam.
10/05/2016(Xem: 23849)
Hằng triệu dân Miền Nam nói chung trong các tôn giáo, nói riêng Quân, Cán Chính VNCH, (KiTô Giáo, Tam Giáo), tất cả các cấp từ trung ương đến địa phương, đều thấy biết chốp bu (VIP) của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, đều là Tướng, Tá các cấp trong Tam giáo, do Đại Tướng Dương Văn Minh làm chủ tịch có lời hiệu triệu kêu gọi toàn quân binh chủng tham gia Cách Mạng nhưng, những Tướng, Tá các cấp Cần Lao KiTô Giáo ngồi im và có hành động chống lại. Tức thì liền bị bắn chết ngay. Như Đại Tá Quyền (Cần Lao – Bộ Tư Lệnh Hải Quân) bị bắn chết trên xa lộ, do không tham gia, chống lại HĐQNCM. Nói rõ hơn, Tướng, Tá gốc Cần Lao Thiên Chúa không ai lên tiếng xin tham gia, đánh điện ủng hộ. Đến khi nghe ĐT Quyền bị bắn chết, liền gọi điện thoại, đánh công điện về Bộ Chỉ Huy Cách Mạng xin tham gia, nói lời ủng hộ. Nhưng, tất cả đều giả vờ, không thật lòng, là ý tưởng chung của các ông Cần Lao, họ đã hội kiến với nhau, với các giới KiTô trong nhà thờ, ngoài xóm đạo, là cứ giả theo, để rồi sau đó
23/04/2016(Xem: 18485)
Các giới văn học Việt Nam xưa nay, thường nói : “Là thi sĩ, ai cũng có tâm hồn rất lãng mạn, đa tình trước trăng, sao, núi non, sông, hồ, suối reo, biển cả, trời xanh, đồng nội cò bay, sắc hương nữ nhân và ưa ru với gió, mơ theo trăng và lơ lững cùng mây . . .”.