Sở Tri Chướng

17/05/202517:25(Xem: 2522)
Sở Tri Chướng

hoasen_10


SỞ TRI CHƯỚNG

 

Là một thuật ngữ âm Hán – Việt, có lẽ khó hiểu với một số Phật tử cũng như những người trẻ. Sở tri chướng nói một cách dễ hiểu là chướng ngại từ chính cái biết của mình. Tại sao cái biết, cái tri kiến của mình lại là chướng ngại? lẽ ra phải là điều phát triển đáng quý chứ, nghe thì tưởng chừng vô lý nhưng thật ra thì rất chính xác, nhất là trong giới học Phật.

Chính cái tri kiến cuả ta làm chướng ngại ta, chúng ta chấp vào cái sở tri của chính mình để rồi mắc kẹt chết cứng và đóng khung mà không thể tiến được.

Con người ta gồm có thân (sắc) và tâm (danh), chính cái tâm mới quyết định, mới là chủ nhân. Cái thân chỉ là kẻ thừa hành, sai đâu đánh đó và gánh lấy cái hậu quả của mọi việc. Trong kinh Suy Niệm Về Nghiệp đức Phật ví cái tâm như con bò còn cái thân như cỗ xe. Muốn cái xe di chuyển thì đánh con bò chứ không phải đánh cỗ xe.

Thân ngũ uẩn danh - sắc là: thọ, tưởng, hành, thức và sắc. Thân tứ đại được cấu thành: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Sáu giác quan này tiếp xúc sáu trần: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp thì sanh ra sáu thức. Chúng ta dính mắc và chấp chặt vào sáu thức này mà sanh ra lắm mê lầm.

Thông thường hễ sáu giác quan tiếp thu cảnh trần thì lập tức cảm thọ và tưởng. Thọ và tưởng dính liền nhau, không thể tách rời. Hễ thọ là lập tức tưởng, tuy nhiên từ tưởng đến hành thì lại có một khoảng cách xa. Có khi tưởng sẽ hành nhưng cũng có khi chỉ dừng lại ở tưởng, dù có hành hay không hành thì tất cả đều lưu trong tạng thức. Ví dụ khi mắt ta gặp một người nào đó, lập tức cảm nhận đây là một con người và cũng lập tức sanh tâm phân biệt đây là người da trắng, da đen, da vàng. Đây là một người đẹp hay xấu, cao hay thấp, mắt toét hay mắt xinh, sang trọng hay bần hèn… có vô số điều phân biệt và cái tưởng cũng song hành: người này lười hay siêng, thông minh hay ngu dốt, dễ thương hay dễ ghét… tưởng sâu hơn chút nữa, nếu hợp với cái gu (những điểm thích chủ quan có trong tạng thức) thì ước mơ chiếm hữu hoặc giả là không thích hợp gu của mình thì muốn đập cho một trận (nếu mẫu người ấy trùng hợp với nhũng đặc tính của oan gia trái chủ lưu trong tạng thức). Cái tâm phân biệt, cái cảm thọ và tưởng nó diễn ra nhanh không thể tưởng, vì nhanh quá mà chính bản thân ta cũng không nhận biết. Những đặc điểm phân biệt ấy chính là cái định kiến kiên cố, chính cái sở tri này cản trở chúng ta nhìn nhận sự thật: Đây chỉ đơn giản là một con người, là một sự kết hợp của nhiều yếu tố đất, nước, gió, lửa và thần thức mà thành. Là một con người tạm gọi, là giả danh chứ không thật sự có cái gọi là một con người. Một con người do chúng duyên hợp lại mà sanh ra. Bởi vậy làm sao có xấu – đẹp, sang – hèn, trí – ngu… để rồi yêu – ghét mà chấp chặt vào đó. Những yếu tố mà chúng ta phân biệt: Tốt – xấu, trí – ngu, sang – hèn… là giả tướng, là kết qủa của quá trình tạo tác trong quá khứ. Cái giả tướng với những yếu tố ấy cũng không thật, nó biến hoại, nó thay đổi liên lỉ. Cái biết, cái hiểu (sở tri) của chúng ta hình thành từ môi trường sống, môi trường giáo dục của gia đình và xã hội. Nó không đúng với chánh kiến, chánh tư duy vì vậy mà chúng ta thiếu chánh ngữ, chánh nghiệp… Cái sở tri của chúng ta trở thành cái chướng ngại cản trở chúng ta nhìn ra sự thật. Chúng ta dính mắc trong cái biết, cái hiểu sai lầm, vì kẹt trong cái sở tri ấy mà chúng ta không thể tiến về trước, không thể tiến về phương trời cao rộng được, không thể giải thoát khỏi khổ đau, không thể thoát sanh tử luân hồi.

Mắt nhìn thấy và cảm thọ, phân biệt, tưởng như thế. Tai nghe cũng thế, cho đến mũi, lưỡi, thân, ý cũng đều như thế! Vì sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà mê lầm nên không thấy “mộng huyễn bào ảnh”, không biết rằng đó cũng chỉ là “Như lộ diệt như điện”, chấp cái biết của mình, lấy đó làm dài lâu, làm cơ sở cho suy nghĩ, nói năng và hành động.

Cái sở tri của người Ấn Độ giáo cho rằng con người được tạo ra bởi thần Brahma. Hàng tăng lữ, Bà La Môn, Sát Đế Lợi được sanh ra từ miệng thần nên cao quý và ở địa vị thống trị. Hàng Chiên Đà La, Thủ Đà La sanh từ bàn chân thần nên là nô lệ, là giai cấp thấp và vĩnh viễn phải chịu như thế. Chính cái tri kiến này đã làm chướng ngại cho sự bình đẳng, yêu thương, tu học, giải thoát. Chính cái biết, cái hiểu sai lầm này đã khiến cho con người khổ đau và gây khổ đau cho nhau, đày đọa lẫn nhau… Nghĩa là tất cả cùng tạo nghiệp xấu và vì thế mà vĩnh kiếp luân hồi, lên xuống trong ba ngã sáu đường. Cái sở tri của chính ta chướng ngại ta giác ngộ. Đức Phật thuyết pháp, nói lời thật, chỉ ra cái “sở tri” sai lầm kia: “Tất cả chúng sanh là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự nghiệp, chính nghiệp phân chia sự dị biệt cao thấp trong đời” hoặc là: “Không phải do dòng dõi thọ sanh mà một người thấp hèn hay cao quý. Chính hành vi tạo tác  khiến người ta thấp hèn hay cao quý” – (Kinh Suy Niệm Về Nghiệp)

Cái chướng của sở tri cản trở việc hòa hợp, dung thông, thăng tiến. Nhiều chùa Phật giáo Nam Tông và Nguyên Thủy không cho người nữ xuất gia hay thọ đại giới bởi vì cái tri kiến cho rằng: Người nữ không thể đắc ngôi vị chánh đẳng chánh gác, không thể làm chuyển luân vương, không được làm ma vương…Trong khi ấy người tu học theo Bắc truyền lại có cái sở tri chướng ngại là cho rằng người tu học theo Phật giáo Nam truyền, Nguyên thủy là “tiêu nha bại chủng”…

Cái tri chướng trong đạo đã thế, ngoài đời còn ghê gớm hơn. Cái thấy sai lầm, cái biết phiến diện cản trở con người tiếp nhận cái đúng, chướng ngại sự phát triển. Người da trắng chấp vào sắc tướng và văn hóa của mình mà tự phụ cho mình cao cấp, thượng đẳng và từ đó tự cho mình cái quyền “khai hóa” người khác, thực chất là xâm lăng, cai trị, nô lệ người khác, thậm chí họ đánh giết và tàn sát nhiều dân tộc nhược tiểu khác. Cái tri kiến của họ sai lầm, họ không biết sở dĩ họ cia những ưu điểm ấy là cái quả của quá trình tạo tác trong quá khứ. Thuyết đại đồng của người Cộng Sản cũng thế, lúc đầu có vẻ tốt, họ muốn tranh đấu chống lại bất công xã hội, xóa bỏ sự áp bức, bóc lột. Họ mơ tưởng một thế giới đại đồng, bình đẳng nhưng lại làm sai hoàn toàn. Cái tri kiến sai nên họ không thể nhận ra nguyên nhân thật sự của sự bất công và khổ đau. Họ hành động để xóa bỏ bóc lột nhưng chính họ lại trở thành một giai cấp bóc lột mới. Họ cai trị còn tàn bạo hơn những thể chế mà họ tiêu diệt. Họ chấp chặt vào cái biết của họ mà không biết gì nhân – duyên – quả. Cái sở tri của họ quá thô thiển, tàn bạo và mê muội đã cản trở họ thực hiện một thế giới đại đồng như họ từng tưởng.

Trong đạo ngoài đời đều có vô số chuyện về sở tri chướng. Một người học đạo hay học nghề  với cái tâm đơn sơ, trong trắng, chưa có ý niệm gì thì dễ tiếp nhận và tiến bộ nhanh. Còn một người học đạo hay học nghề với cái mớ hiểu biết lêch lạc và định kiến sẽ khó tiếp nhận và phát triển hơn. Chuyện một ông giáo sư đại học đến cật vấn một thiền sư Nhật. Vị thiền sư chẳng nói năng chi, cư bình thản rót nước trà vào cái chung, nước chảy tràn mà ông vẫn cứ rót, điều ấy khiên ông giáo sư phải la lên “dừng lại”. Bấy giờ vị thiền sư mới cười bảo: “Ông hãy làm cạn cái chung của ông trước khi tiếp nhận cái mới”. cái sở tri của ông giáo sư đầy ắp, đó là chướng ngại khiến ông ấy không thể tiếp nhận hay học thiền được.

Cái sở tri, cái biết của mỗi con người hình thành từ nhỏ, chịu ảnh hưởng bởi giáo dục của gia đình và xã hội, tác động bởi những mối quan hệ, từ chính sự học, đọc sách của người ấy, trong đó có một phần tác động lớn từ những chủng tử trong tiềm thức. Bởi vậy mà có trường hợp anh em một nhà nhưng sở tri khác nhau, quan điểm khác nhau, kẻ đi xuống người đi lên. Học trò chung lớp, chung thầy, chung một nền giáo dục nhưng có kẻ phát triển theo hướng chánh ngược chiều với số đông, ấy là vì họ vượt qua cái sở tri của mình.

Có rất nhiều Phật tử chúng ta cũng đi chùa, tụng kinh, niệm Phật… nhưng vì cái biết không đúng đã làm chướng ngại trong việc nhìn nhận giáo lý căn bản, không chịu làm theo lời Phật mà cứ mê xin xăm, bói quẻ, hầu đồng, cúng sao giải hạn, cầu cúng quỷ thần…Ngay cả nhiều vị xuất gia cũng thế, vì cái sở tri mà chướng ngại việc thực hành chánh pháp. Nhiều vị lơ là điều cốt lõi của Phật pháp, chỉ thích phù diễn tắc trách, nặng về hình tướng, màu sắc, âm thanh… Nhiều người vì cái sở tri mà không hành như lý như pháp, chỉ thích kết giao quan gia, quyền lực thế tục, mua thần bán thánh, kinh doanh tâm linh, mặc cả danh lợi, biến chốn A Lan Nhã thành cái chợ mua bán danh lợi, quyền lực và kiến tạo vây cánh cát cứ.

 

Tiểu Lục Thần Phong

Ất lăng thành, 0525





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14/10/2025(Xem: 1514)
(Nhân dịp người đoạt giải Nobel Văn Học 2025 László Krasznahorkai là nhà văn vĩ đại thuộc truyền thống Trung Âu, dòng chảy từ Kafka). Với trí óc tò mò sẵn có mình đã tìm về thế giới Franz Kafka – mà mọi bài phê bình đều khẳng định “Ông là một linh hồn cô độc nhưng sáng rực như ngọn đèn trong đêm của nhân loại” , và khuyên những ai có thể cảm nhận tinh thần Kafka như một hành trình tâm linh nghịch chiều: đi qua bóng tối để hiểu thế nào là ánh sáng.
14/10/2025(Xem: 1480)
Có những khoảnh khắc trong đời, ta bất chợt dừng lại giữa dòng chảy vội vàng của cuộc sống — chỉ vì một câu chữ, một ý tưởng hay một hình ảnh trong trang sách. Văn chương, tự thuở nào, vẫn có quyền năng lạ lùng ấy: đánh thức trong lòng người đọc những rung động tưởng chừng đã ngủ quên. Khi đọc một tác phẩm của những nhà văn lớn, ta không chỉ gặp những nhân vật, những cảnh đời, mà còn gặp chính mình – trong những suy tư, trong nỗi cô đơn, trong khát vọng sống và yêu thương.
08/10/2025(Xem: 1650)
Trong lịch sử nhân loại, những công trình đồ sộ, những danh tướng lẫy lừng thường là mục tiêu của tranh chấp, đố kỵ, và phá hoại. Càng cao lớn, càng dễ bị đánh phá. Càng nổi bật, càng phải chiến đấu để tồn tại. Giống như những bông hồng kiêu sa, đẹp nhưng đầy gai, luôn phải tự vệ trước gió bão. Ngược lại, những vị đạo cao đức trọng, sống khiêm hạ, giản dị, thường không cần phải tự vệ. Họ như loài hoa mắc cỡ – chạm vào là khép lại, nhưng chính sự khép mình ấy lại khiến hoa mọc ra khắp nơi. Hương thơm của đức hạnh không cần quảng bá, vẫn lan tỏa. Sự khiêm cung không cần tranh giành, vẫn được kính trọng.
07/10/2025(Xem: 1291)
Anh hớn hở trải tấm thảm ra phủ lên lớp rong rêu cũ kỹ. Từ nay nó sẽ che hết những gập ghềnh của tháng năm hao gầy, cô quạnh. Nó đã qua rồi, anh nghĩ vậy. Đôi chân chai sạn, khô cứng của anh còn lấm lem bụi khổ, khiến bàn chân ấy khó mà đặt vào đôi giày quý phái cao sang. Anh cứ hì hụt, bực mình để nông vào cho bằng được dù bước gượng gạo trên tấm thảm đổi đời.
06/10/2025(Xem: 4681)
Thư Mời Tham Gia Cuộc Thi Viết chủ đề "Hành Trình Vượt Sóng"
06/10/2025(Xem: 1848)
Qua 3 buổi hội thảo về HT Thích Thiện Hoa ( 1918-1973)- HT Thích Thắng Hoan ( 1928-2024) HT Thích Tâm Châu (1921-2015) trong dịp Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày “Về Nguồn” 14 được tổ chức tại Hoa kỳ đồng thời Mừng Chu niên 35 năm chùa Bảo Quang , Cali, Hoa Kỳ (26-28/9/2025)
28/09/2025(Xem: 1768)
Trời đất vào Thu, sơn hà khoác chiếc áo màu đẹp nhất trong năm. Chiếc áo kỳ diệu của thiên nhiên với muôn hồng nghìn tía, rực rõ sắc màu. Sơn hà tươi sáng trong sắc Thu. Trời Thu trong xanh đến vô cùng tận, những ao, hồ, sông, biển của miền ôn đới màu nước xanh lơ như ngọc bích. Con người đang tưng bừng với những lễ hội mùa Thu. Mùa màng bội thu: lúa mì, bí ngô vàng ruộm cả đồng quê lẫn phố phường. Muôn loài cũng rộn ràng tíu tít lên, chim muông đã sẵn sàng cho cuộc di cư về phương Nam khi trời rét. Các loài thú lo lót ổ và thức ăn trước khi mùa Đông đến. Côn trùng sâu bọ đẻ ấu trùng hoặc trứng để chuẩn bị cho mùa sau tái sinh. Cái vòng sanh diệt chưa bao giờ dừng dứt. Thiên nhiên bốn mùa thay đổi không ngừng nghỉ. Thế sự thăng trầm liên lỉ suốt chiều dài lịch sử.
22/09/2025(Xem: 2616)
Blog Việt Úc Ngày Nay – “Giữ hồn Việt nơi đất Úc” hân hoan phát động Cuộc thi viết “Ánh Trăng Quê Hương Tôi” nhân dịp Tết Trung Thu 2025. Tết Trung Thu luôn gắn liền với ký ức tuổi thơ: đêm trăng rằm sáng trong, tiếng trống múa lân rộn ràng, lồng đèn lung linh và hương vị bánh nướng, bánh dẻo ngọt ngào. Cuộc thi mong muốn tạo không gian để cộng đồng người Việt tại Úc cùng chia sẻ những câu chuyện, kỷ niệm và cảm xúc về Trung Thu – dù ở quê nhà hay nơi đất khách.
13/09/2025(Xem: 1973)
Theo nhà phân tâm học Alfred Adler (1870 - 1937) trong mỗi người đều có “ý chí vượt thắng” (will to power) – một thôi thúc nội tại muốn vượt khỏi mặc cảm yếu kém.
03/09/2025(Xem: 1701)
Mấy ngày nay, Thầy cùng quý Phật tử tất bật dỡ mái hiên, dọn dẹp để chuẩn bị xây dựng lại Chùa. Công việc tưởng chừng chỉ là nhọc nhằn lao động, vậy mà lại trở thành một bài học đạo lý sâu xa.