Thiền Sư Và Gã Cờ Bạc Bịp

03/12/202208:27(Xem: 7246)
Thiền Sư Và Gã Cờ Bạc Bịp


zen master


Thiền Sư Và Gã Cờ Bạc Bịp

Tại kinh thành Lạc Dương có một tay, trước là thương buôn sau chuyển sang nghề cờ bạc. Nhờ lanh lợi trong mánh lới buôn bán, gã học được nghề bịp rất nhanh. Tài bịp của gã giỏi tới mức không một ai biết mà chỉ cho rằng gã “số đỏ” hoặc “thiên tài”. Bao nhiêu tiền ngày hôm nay đều do cờ bạc mà có. Thế nhưng không hiều sao, có thể do ‘tổ trác” hay do “hết thời” mà gã thua liên tiếp, mất 50 lượng vàng tại một sòng bài lớn. Vừa tiếc của, vừa tức giận, vừa xấu hổ, gã cho mời viên  quản lý ra, lớn tiếng nói:

-Ta sống bằng nghề đánh bạc đã hơn hai mươi năm, chỉ có ăn mà không có thua. Nếu ta thua tức sòng bài gian lận. Yêu cầu quản lý trả lại 50 lượng vàng, nếu không ta sẽ thưa lên quan phủ.

            Nghe vậy viên quản lý vô cùng ngạc nhiên, nói:

-Thưa khách quan, sòng bài của chủ nhân chúng tôi mở ra đã năm mươi năm, cha truyền con nối. Nhiều phú gia, vương tôn công tử đến đây chơi, ăn có, thua có nhưng chưa một ai nói chúng tôi gian lận. Xin khách quan nghĩ lại.

            Biết rằng không thể đòi lại tiền. Vùng vằng, văng tục mấy tiếng, gã tức giận bỏ đi, về nhà nạp đơn lên quan phủ kiện đòi lại vàng. Khi nhận được đơn, quan phủ đăng đường, hỏi:

-Nhà ngươi có bằng chứng sòng bài gian lận  không?

            -Gã ấp úng nói:

-Thưa quan phủ không có…nhưng con cảm thấy có sự gian lận vì mặt tên quản lý trông rất gian. Cả tên hồ lỳ trông cũng gian lắm…và những con bạc có lẽ do chủ sòng bài gài vào làm cò mồi để lường gạt con không biết chừng.

            Quan phủ phán:

-Nhiều kẻ mặt mũi trông đẹp đẽ, hiền lành nhưng cũng làm chuyện gian ác. Mặt trông gian nhưng chưa chắc làm chuyện gian. Mặt mũi nhà ngươi trông cũng “gian” lắm nhưng ta không thể bỏ tù nhà ngươi vì bộ mặt được. Ngoài ra, những kẻ bước vào sòng bài có kẻ nào hiền lành đâu? Toàn là thứ ghê gớm cả, toàn là thứ muốn ăn tiền của thiên hạ. Ngươi đỏ-đen với họ thì phải biết chớ. Ngươi có biết câu “Cờ gian bạc lận” không? Nếu chẳng may bị lường gạt là đáng đời, còn thưa kiện gì nữa?

            Nói rồi truyền bãi chầu.

Vừa thất vọng vừa tức giận, nhưng do tiếc của và cho rằng mình bị xử oan, một lần nữa gã lại nạp đơn

lên quan thượng thư để đòi lại tiền. Nhận được đơn thưa, quan thượng thư bắt quỳ trước công đường, hỏi:

-Nhà ngươi có bằng chứng sòng bài gian lận không? Ai làm chuyện gian lận và gian lận thế nào?

            Lần này do đã nấu nung suy nghĩ và do kinh nghiệm thất bại ở tòa dưới, gã khôn ngoan nói:

-Bẩm quan thượng, sòng bài nào mỗi năm cũng đều đóng một số thuế rất lớn vào công khố. Nếu họ không ăn thì làm sao có tiền để đóng thuế? Mà muốn ăn thì phải gian lận. Nói tóm lại sòng bài là nơi gian lận có tổ chức để móc túi con bạc. Xin quan thượng thương tình ra lệnh cho họ trả lại 50 lượng vàng cho con.

            Nghe vậy quan thượng thư nói:

-Sòng bài là chỗ đỏ đen, sát phạt, chỗ bao kẻ nhiều tiền lắm của ném đi để giải trí. Nó cũng là chỗ tụ họp của bao kẻ lưu manh kiếm tiền. Nó là chốn địa ngục, nó là chốn gia đình tan nát. Nó là chỗ dẫn ra nghĩa địa hay vào ngục thất nhanh nhất. Rất nhiều kẻ đã sống bằng nghề cờ bạc, nhưng cũng có nhiểu kẻ tự vẫn vì cờ bạc. Điều này chứng tỏ cờ bạc có người ăn người thua. Chủ sòng bài lấy tiền hồ. Chính tiền hồ đã nuôi sống sòng bài và đóng thuế chứ chẳng phải lường gạt chi cả. Nhà ngươi thua kỳ này nhưng có thể ăn kỳ sau. Nhưng chung cuộc nếu nhà ngươi cứ tiếp tục đi vào con đường đỏ đen…thì sẽ tự treo cổ hoặc vào tù. Đòi tiền thua ở sòng bài cũng giống như đòi tiền cho gái vậy.

Ngừng lại rồi quan thượng thư phán tiếp:

-Khi nhà ngươi ăn, con bạc khác thua. Nếu con bạc thua đi kiện sòng bài gian lận thì ngươi nghĩ sao? Ngươi có trả lại tiền cho người ta không?

            Nói xong quan thượng thư truyền sai nha đuổi ra ngoài.

Vừa hận vừa buồn vừa tiếc của, vẫn chưa chịu thua, gã về nhà bán một số đồ vật quý giá, gom được một lạng vàng đút lót cho sai nha ở dinh quan tể tướng, nạp đơn thưa kiện một lần nữa.

Trong số sớ, công văn và trình báo từ các phủ bộ gửi về, quan tể tướng ngạc nhiên sao lại có một đơn thưa kiện cờ bạc lọt vào đây. Đọc xong quan tể tướng nổi giận phê, “Ta lo chuyện quốc gia đại sự, không  có thì  giờ giải quyết chuyện cờ gian bạc lận. Nếu còn lằng nhằng ta sẽ tống vào ngục thất!”

            Nghe sai nha đọc lời phê của quan tể tướng, gã choáng váng cả mặt mày. Quá tuyệt vọng, không về nhà, gã lang thang như một tên mất hồn giữa đường phố. Lang thang một hồi, gã tới trước cổng Bạch Mã Tự- một ngôi chùa nổi tiếng của kinh thành Lạc Dương lúc nào không hay. Quá mệt mỏi, gã bước vào chùa, chẳng phải để lễ Phật mà chỉ để nghỉ chân.

            Sân chùa hoàn toàn vắng lặng, thỉnh thoảng có tiếng chuông ngân nga vọng tới từ chính điện. Dưới tán cây cổ thụ, một vị sư đang ngồi tĩnh tọa trên một tảng đá vuông vức giống như một chiếc bàn, tay cầm một cuốn   kinh. Sự trầm mặc và thanh thản của nhà sư, nhất là khuôn mặt, dường như lan tỏa ra  cây cối, cảnh vật chung quanh khiến tạo nên một không khí vô cùng yên bình.

            Con người ta, khi đã tận nhân lực mà không giải quyết được chuyện đời và khi cùng đường, tuyệt vọng, thường bám víu vào thần linh, cúng vái, cầu nguyện khắp nơi, thậm chí gốc đa, tảng đá cũng lạy. Gã chợt có ý nghĩ là biết đâu nhờ Phật mà mình có thể lấy lại 50 lạng vàng không biết chừng vì nghe nói chùa này rất linh thiêng. Ngồi xuống một tảng đá bên cạnh, gã lặng yên quan sát nhà sư một hồi rồi lên tiếng:

-Chào thầy. Tôi muốn nhờ thầy một chuyện.

            Lặng lẽ bỏ cuốn kinh xuống, nhà sư đưa mắt hỏi:

-Ông muốn hỏi tôi chuyện gì?

            Gã cờ bạc bịp nói ngay:

-Tôi nghe nói Phật pháp nhiệm màu. Tôn Ngộ Không mà Phật Tổ còn trị được huống chi mấy kẻ gian lận. Xin thầy cho tôi biết liệu pháp Phật có thể giúp giải quyết được chuyện đời không?

            Sư hiền từ đáp:

-Pháp Phật bao trùm lên pháp thế gian. Mọi chuyện trên đời này đều do tham-sân-si biến hiện ra. Pháp Phật nhằm diệt trừt tham-sân-si cho nên có thể giải quyết tận gốc rễ chuyện của thế gian. Có chuyện gì xin ông cứ cho tôi biết. Nếu giúp được thì tôi nói “có” còn không giúp được thì tôi nói “không”.

            Được lời như cởi tấm lòng. Gã thành thực kể lại chuyện mình đánh bạc thua 50 lượng vàng vì sòng bài gian lận, kiện khắp nơi nhưng thất bại và mong thầy giúp cho một kế để lấy lại số vàng ấy.

            Nghe vậy sư nói:

-Phật pháp không giúp ông lấy lại được 50 lượng vàng. Nhưng Phật pháp có thể giúp ông quên đi số tiền đó. Tôi hỏi thật, số vàng ấy là do mồ hôi nước mắt của ông làm ra hay do đánh bạc mà có?

            Gã cờ bạc bịp thành thực thú nhận:

-Tiền đó là do đánh bạc mà có.

            Nghe thế sư nói:

-Nếu tiền đó không phải của ông thì nếu mất đi, có gì đâu mà tiếc? Con chim bay trên trời đâu phải của ông. Nay ông bắt được con chim, chẳng may sẩy tay, con chim bay đi thì có gì tiếc đâu?

            Nghe thuyết giáo như vậy, gã nổi cáu, gằn giọng, nói:

-Tiền bạc một khi đã ở trong tay tôi là của tôi. Nếu đã là “của tôi” thì mất đi phải thương tiếc chứ, “Của đau con xót” mà. Chẳng hạn như chiếc y thầy đang mặc kia là của thầy. Nếu có kẻ lấy đi thì thầy có đòi lại không?

            Vẫn với giọng hiền từ, sư nói:

-Cái y này không phải của tôi mà là của Phật tử bố thí cho. Ngay cả cái thân xác này cũng không phải của tôi bởi vì khi chết đi tôi chẳng thể mang theo. Cái ngai vàng kia cũng chẳng phải của vua. Cái phủ điện kia cũng chẳng phải của quan tể tướng. Thậm chí vợ con, của cải, tôi tớ mà ông đang có cũng chẳng phải của ông. Ông có thấy hồn ma nào hiện lên cùng với vợ con, của cải, thành quách không? Tất cả chỉ là những cái bóng trắng tay, cô đơn, vất vưởng. Tất cả những gì ông đang nhìn thấy trước mắt đây đều do nhân duyên giả hợp mà thành. Khi nhân duyên tan thì nó cũng sẽ chia ly, tan vỡ. Không có cái gì vĩnh viễn là của ông hay của tôi.

Nghe nói thế gã đâm bực bội, bèn lý sự với thiền sư:

-Thầy nói thế nghe sao được? Ít ra trên cõi đời này con người ta cũng phải có một cái gì chứ, chẳng lẽ trần trụi hết sao?

            Thiền sư mỉm cười nói:

-Có chứ. Có một thứ thật sự là của ông hay của tôi, đó là: cái thần thức, cái đầu óc linh mẫn, cái tâm, cái nghiệp. Những thứ này sẽ theo ông sau khi chết, kiếp này sang kiếp kia mà không một ai có thể đánh cắp, chiếm đoạt, lấy đi. Làm thế nào mà ai đó có thể chiếm đoạt, đánh cắp cái tâm từ bi hỷ xả, cái lòng độ lượng, cái nết bao dung của ông? Tất cả những gì thuộc thế giới hữu hình, hữu vi đều giả tạm và phải diệt mất. Còn tất cả những gì thuộc vô vi, thuộc tâm thì sẽ tồn tại mãi mãi. 50 lạng vàng kia nó đã qua tay nhiều người, nhiều đời và nó sẽ luân hồi mãi như thế. Ông đang tiếc nuối cũng như bao nhiêu người trong quá khứ đã tiếc nuối nó.

            Nghe sư giảng giải thế, dĩ nhiên gã chẳng hiểu nhiều, cuối cùng gã nói:

-Xin thầy ngắn gọn cho tôi biết làm thế nào để tôi có thể lấy lại 50 lạng vàng. Nếu lấy lại được tôi xin cúng chùa mười lạng.

            Sư cầm cuốn kinh đặt vào tay gã rồi nói:

-Đây là cuốn Bát Nhã Tâm Kinh, là thần chú vô cùng kỳ diệu. Ông đem về đọc đi, đọc thật nhiều cho đến khi nào không còn nuối tiếc, thương tiếc bất cứ cái gì trên cõi đời này…là thành công, là có thể lấy lại được vàng, muốn bao nhiêu cũng được. Nếu ông còn nuối tiếc bất cứ một cái gì trên cõi đời này thì hỏng tức không bao giờ có thể lấy lại được vàng. Ông có nghe chuyện Thục An Dương Vương xứ Âu Lạc bị mất nước, biến thành con chim kêu “Quốc!Quốc!” ngày đêm mà có lấy lại được nước đâu? Ngoài ra, nếu lấy lại được vàng xin ông làm việc phước thiện để đức cho con cháu. Nhà chùa giữ vàng bạc, châu báu để làm gì?

            Nói xong sư nói lời từ giã rồi chậm rãi bước vào bên trong. Cầm cuốn kinh, bước ra khỏi cổng chùa, trên đường đi, gã lẩm bẩm:

            -Không biết cuốn kinh này có giúp mình lấy lại 50 lạng vàng không? Khi nào quên hết thì có thể lấy lại vàng. Ngược lại nếu còn nhớ đến nó thì không sao lấy lại được. Không biết ông thầy này có điên không? Nhưng dầu sao cứ thử xem, có mất mát gì đâu.

Lời người kể chuyện:

            Khi Bát Nhã Tâm Kinh đã thấm vào máu thì có-không, được-thua, mất-còn cũng như nhau. Còn nếu cứ chấp trước rằng cái này là của tôi thì chung cuộc chẳng níu kéo được gì, mà chỉ khổ đau. Khi quan phủ không thể giúp gã lấy lại 50 lạng vàng. Khi quan thượng thư không thể giúp gã lấy lại 50 lạng vàng. Khi quan tể tướng cũng không thể giúp gã lấy lại 50 lạng vàng thì làm sao thiền sư có thể giúp gã lấy lại được? Thế nhưng khi gã đã hỏi, chẳng lẽ không giúp? Chỉ còn cách giúp gã buông bỏ, quên đi mà thôi. Đó là pháp Phật, pháp tối thượng của Phật, ngoài ra thì không còn pháp nào khác. Chính “cái của tôi” và lòng tham khiến con người không còn lý trí nữa. Nếu vì nghiệp chướng sâu dày,  gã cứ mãi tiếc thương 50 lạng vàng thì - một là gã sẽ hóa điên, hai là rầu rĩ sanh bệnh mà chết hoặc giả gã sẽ tới giết viên quản lý để lấy lại vàng và kết cuộc sẽ lên đoạn đầu đài hoặc ở tù suốt đời. Pháp Phật chỉ độ được người có trí tuệ, có thiện căn mà không thể độ được kẻ vô minh dày đặc.



Thiện Quả Đào Văn Bình

(Trích sách Kinh Hạnh Phúc Của Tôi sắp xuất bản)

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25/03/2026(Xem: 1260)
Góp nhặt vô thường xếp lại ngăn, Trí tuệ giao thoa nhẹ bước chân Giấc mơ hiện về nhắc tâm trí Nhìn đời bao dung lẫn tri ân Thế gian vạn biến, đừng dính mắc Với lòng bi mẫn giải mã dần Duy trì thói quen hằng quán chiếu Chúc phúc đến ai, chữa sai lầm
20/03/2026(Xem: 434)
Trong bối cảnh Phật giáo đang đối diện với thương mại hóa, hình thức hóa, và sự suy giảm chiều sâu giáo lý, việc tìm lại những mô hình cư sĩ lý tưởng không chỉ mang tính lịch sử mà còn mang tính định hướng cho tương lai. Hai hình tượng nổi bật nhất trong Đại thừa — Duy Ma Cật và Thắng Man Phu Nhân — không chỉ là những nhân vật kinh điển, mà còn là biểu tượng của trí tuệ, từ bi nhập thế và phụng sự xã hội. Điều đặc biệt là cả hai đều: không rời bỏ gia đình, không rời bỏ trách nhiệm xã hội, không rời bỏ đời sống kinh tế – chính trị, nhưng vẫn đạt trí tuệ sâu xa và phát đại nguyện Bồ-tát.
19/03/2026(Xem: 607)
Rơi vào trầm cảm sau khi mẹ qua đời, Lilly Hubbard quyết định quay lại Việt Nam và tìm thấy sự "chữa lành" từ tình người ấm áp ở vùng đất xa lạ. Sáng ngày cuối tháng 2, Lilly, 41 tuổi, theo người bạn đến thăm họ hàng tại khu chợ Đồn, phường Thuận Lộc, TP Huế. Trong lúc chờ đợi, cô ngồi nép vào một góc, dùng điện thoại ghi lại nhịp sống rộn ràng. Một phụ nữ lớn tuổi bán hàng gần đó chú ý đến cô. Bà mỉm cười, đưa tay dùng ngôn ngữ ký hiệu của người câm hỏi Lilly đến từ đâu. Cuộc trò chuyện không lời diễn ra bằng những cái gật đầu, nụ cười và ánh mắt. Khi Lilly xoay màn hình điện thoại cho bà xem đoạn video vừa quay, thấy mình xuất hiện, người phụ nữ bật cười.
19/03/2026(Xem: 584)
Những tia nắng đầu ngày lấp lánh trong trẻo như pha lê, vườn cây hớn hở tắm trong ánh nắng tươi mát, từng phiến lá hả hê nhả dưỡng khí vào đất trời. Màu xanh cây lá mát mắt, mát dịu cả tâm hồn. Màu xanh chắt ra từ nguồn nước mẹ thiên nhiên, từ năng lượng ấm áp của nắng gió để rồi chuyển thành năng lượng sống của vô số chiếc lá. Thần ánh sáng Helios trên chiếc xe kéo bởi những con ngựa có bờm lửa lướt qua bầu trời. Ánh sáng tràn ngập cả không gian khiến cho gã người phải mở mắt ra.
19/03/2026(Xem: 1297)
Cảm tác khi đón nhận tin Thành phố Melbourne theo bản thống kê trong 50 thành phố đáng sống trên thế giới vào năm 2026 (bảng xếp hạng mới nhất của Time Out 2026, Melbourne đã vươn lên vị trí số 1 thế giới) nhờ sự bùng nổ về văn hóa, ẩm thực và sự hài lòng của người dân. Trùng hợp thay, đọc lại tác giả Walter Benjamin (1892-1940) mới thấy người triết gia này từ lâu thể hiện rõ nhất những suy nghĩ của mình về thành phố hiện đại trong bộ tác phẩm đồ sộ (nhưng chưa hoàn thành) mang tên The Arcades Project (Dự án hành lang - Das Passagen-Werk): Đây là "cuốn kinh thánh" về đô thị hiện đại. Nơi ông giải phẫu Paris để thấy linh hồn của chủ nghĩa tư bản và sự tiêu thụ và những thay đổi trong trải nghiệm của con người, hơn thế nữa nó còn là sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại.
18/03/2026(Xem: 717)
Trong các truyện nhà Thiền, chúng ta vẫn nghe ngài Triệu Châu ưa trả lời những câu hỏi về Phật Tánh bằng cách không trả lời, hay có khi chỉ vào gốc cây ngoài sân cho chúng ta ngó nếu người hỏi đang đứng ngoài sân, hay có khi nói rằng hãy uống trà đi nếu người hỏi đang ngồi bên bàn với các ly trà. Làm cách nào chúng ta có thể nâng ly trà lên mà nhận ra Phật Tánh? Dĩ nhiên, không hề có chuyện Tánh Phật ẩn giấu trong lá trà, nước trà, hương trà, vị trà.... Câu chuyện như dường đầy bí ẩn. Thực ra thì không bí ẩn, nếu chúng ta lúc đó trực ngộ rằng Phật Tánh không hề lìa xa thân tâm mình, không hề cụ thể ở ngoải hay ở trong thân tâm mình, nhưng là một toàn thể một thế giới (và đừng gọi là trong/ngoài, đừng gọi là có/không) vẫn không ngừng hiển lộ với chúng ta.
16/03/2026(Xem: 1113)
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù.
13/03/2026(Xem: 2048)
“Đời người như áng mây trôi bồng bềnh giữa hư không. Biết buông nhẹ giữa nhân gian, để mai này thong dong trở về với mênh mông.” Có những lúc giữa dòng đời tất bật, ta bỗng dừng lại và tự hỏi: rốt cuộc mình đến với thế gian này để làm gì? rồi mai này sẽ đi về đâu? Bao năm tháng mải miết chạy theo danh lợi, tình tiền, hơn thua, được mất… đến khi ngoảnh lại mới thấy tất cả chỉ như một giấc mộng dài. Những điều từng khiến ta vui buồn, giận hờn hay tiếc nuối, rồi cũng sẽ lặng lẽ trôi qua như áng mây bay cuối trời.
12/03/2026(Xem: 790)
Thỉnh thoảng, các mạng xã hội của cộng đồng Việt Nam trong và ngoài nước lại nổi lên sóng gió về chuyện các nhà sư nói sai Chánh pháp, hay sống không phù hợp với Chánh pháp. Chuyện đó bây giờ xảy ra thường hơn, tới nổi rất nhiều người trong chúng ta lại cố ý bỏ qua, hy vọng chuyện này sẽ sớm được quên. Tuy nhiên, khi bên cạnh nhà sư xuất hiện thêm một phụ nữ, chuyện lại tăng thêm một bậc sôi nổi để trở thành các phim bộ kiểu mới. Tình, tiền... Biết làm sao bây giờ? Không lẽ chúng ta cứ mãi lặp lại lời dạy rằng hãy y Pháp, chứ đừng y nhơn. Rằng hãy nương dựa vào Pháp, chứ đừng nương dựa theo người...
10/03/2026(Xem: 2140)
Tình hình chiến tranh bây giờ khó làm chúng ta hình dung về một Iran cổ đại nơi được nghe kể về những cổ tích thơ mộng, nơi các nhân vật mang tâm hồn Bồ Tát bước ra từ sương khói của truyện Ngàn Lẻ Một Đêm. Chúng ta cũng sẽ kinh ngạc khi nhớ rằng lịch sử đã từng có các nhà thơ sáng tác trong ngôn ngữ Ba Tư cổ đại (Persian: Farsi), tiền thân của tiếng Iran hiện nay, hay và thâm sâu tới mức không dễ có bao nhiêu thi sĩ hiện nay bước tới mép bờ giấy mực của họ. Và bạn sẽ thấy truyện võ hiệp Kim Dung cũng đã từng lấy một mảng Minh Giáo của Iran cổ đại rất mực từ bi và khắt khe – nơi tu sĩ phải sống độc thân, khổ hạnh, bất bạo động, ăn chay, không rượu thịt -- để chế biến thành cảm hứng văn học, nơi các truyền nhân đều lãng mạn và võ học phi thường như Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu...