Vọng Âm Chùa Hoằng Pháp

07/09/201809:28(Xem: 8216)
Vọng Âm Chùa Hoằng Pháp

VỌNG ÂM CHÙA HOẰNG PHÁP

 

 

  

Chua Hoang Phap tai My (1)

Chùa Hoằng Pháp tại Việt Nam

 

 

Chùa Hoằng Pháp, sinh hoạt và phát triển hợp với tên gọi từ thời khai sơn năm 1957, đã thực hiện vai trò hoằng pháp trong nước suốt 60 năm qua mà tích cực nhất là từ năm 1975 đến thời hiện tại.

Những người theo đạo Phật hay có khuynh hướng tìm hiểu đạo Phật đã khá thích thú theo dõi nội dung sinh hoạt tổ chức tại chùa Hoằng Pháp với hơn 60 chương trình tu học đã được thực hiện, bao gồm nhiều đề tài chuyên biệt về tôn giáo, xã hội, giáo dục… dành cho đại chúng thuộc nhiều thành phần và lứa tuổi.
Chua Hoang Phap tai My (2)

Pháp sư, giáo thọ, diễn giả… thuyết pháp, pháp thoại, thuyết trình, nói chuyện… đã quy tụ nhiều nhân vật trong đạo cũng như ngoài đời nổi tiếng hay có bề dày trải nghiệm thực tế ở mức độ sâu và đặc biệt về mặt nầy hay mặt nọ. Nhưng tổng quát, đều có một mẫu số chung là tìm về Phật pháp để chiêm nghiệm, học hỏi hay tu trì sau những trải nghiệm thăng trầm của cuộc sống giữa đời thường. Nhiều nhân vật bày tỏ tấm lòng chân thành qua quá trình nương nhờ Phật pháp và các chương trình tu học của chùa Hoằng Pháp để hóa giải, hồi sinh và vươn lên từ những hố sâu của bất hạnh và tội lỗi đã lôi kéo và nhận chìm quảng đời quá khứ trước khi gặp được “Phật pháp Nhiệm mầu”.

 

Chùa Hoằng Pháp tại Mỹ

 

            Cùng với nhiều làn sóng người Việt đến định cư tại các nước phương Tây mà đông nhất là Hoa Kỳ trong vòng 30 năm qua, nhiều Tăng, Ni Phật giáo Việt Nam cũng đến thăm và xin thường trú tại Mỹ theo tinh thần Visa R1, cho phép tu sĩ và thị giả của các tôn giáo đến Mỹ hoạt động tôn giáo trong vòng 5 năm và sau đó có thể xin thường trú tại Mỹ.

Trong khung cảnh chính trị và xã hội còn tranh tối, tranh sáng giữa hai khuynh hướng Cộng sản và không Cộng sản; thân Cộng hay chống Cộng của người Việt trong cũng như ngoài nước, sự nhập cư của các tu sĩ Phật giáo với mục đích hoằng dương Phật pháp từ Việt Nam qua Mỹ càng đông thì những vấn đề tâm lý chính trị dấy lên càng nhiều. Một số các vị tu sĩ Phật giáo thuộc hàng giáo phẩm cao cấp từ Việt Nam sang thường gặp phải sự chống đối dưới nhiều hình thức, nhưng phổ biến nhất là từ các tổ chức chống Cộng nhiệt thành trong cộng đồng người Việt Hải ngoại.

Phía chống đối cho rằng, các tu sĩ chức sắc trụ trì các chùa lớn hay đứng đầu các đạo tràng, học viện ở Việt Nam là những Đảng viên hay là người của Đảng, được cử ra ngoại quốc làm “tôn giáo vận”. Chùa Hoằng Pháp là một chùa lớn, có danh tiếng ở Việt Nam, được các thành viên đủ mọi khuynh hướng chính trị tham dự tu học đông đảo và chính quyền trong nước hỗ trợ nên các vị tu sĩ chùa Hoằng Pháp không nằm ngoại lệ của sự đánh giá và phản ứng nầy. Rất gần đây, các vị tu sĩ Phật giáo như quý thầy Thích Nhật Từ, Thích Phước Tiến, Thích Chân Tính… là những đối tượng đã gặp phải sự chống đối vừa đơn cử ở trên trong những lần ghé thăm và thuyết pháp ở các chùa.

            Tin mới nhất và tương đối nóng bỏng là Dự Án xây dựng Chùa Hoằng Pháp 2 tại Hoa Kỳ. Theo Thông Tin và Giấy Mời chính thức được thông báo trên các trang mạng và Trang Nhà Hoằng Pháp - cả tiếng Việt và tiếng Anh - ở địa chỉ: www.chuahoangphap.com.vn thì Lễ đặt đá xây dựng chùa Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ sẽ được tổ chức vào ngày 7 tháng 10 năm 2018 lúc 11:00 giờ sáng tại địa chỉ: 10535 Halfway Road, Elk Grove, Sacramento, California. USA.

 

Chua Hoang Phap tai My (4)Chua Hoang Phap tai My (3)Đồ án xây dựng chùa Hoằng Pháp tương lai tại Mỹ

 

            Với cư dân Phật tử người Việt ở tại thành phố Sacramento như chúng tôi thì đây quả là điều khá thú vị trước nguồn tin Phật sự mới mẻ nầy. Là những người Việt tới định cư tại thành phố Sacramento nầy đã hơn 35 năm, chúng tôi được chứng kiến và trải nghiệm dòng sinh hoạt Phật giáo Việt Nam nơi đây từ khi ngôi chùa Phật giáo đầu tiên là chùa Kim Quang được xây dựng từ năm 1978 cho đến nay đã có hơn 22 ngôi chùa lớn nhỏ được lập nên.

 

            Sacramento là thành phố thủ phủ (capital city) của tiểu bang California với khoảng 35.000 người Việt đang sinh sống so với dân cư toàn vùng Sacramento Metropolitan là 2.500.000 người.

            Về vị trí mới của chùa Hoằng Pháp tại Mỹ, chúng tôi có dịp đi ngang qua vùng Silver Spring ở Elk Grove và ghé tạt tới khu đất có dự án xây dựng chùa Hoằng Pháp tương lai. Đây là khu đất rộng 10 mẫu Tây với hai mặt tiền, đường Excelsior RoadHalfway Road. Đây là vùng đất đang phát triển ở trong một khu vực đang phát triển. Dân cư còn thưa thới nhưng nhà cửa xung quanh kiến trúc khang trang theo kiểu mới. Trong khu đất 10 mẫu thênh thang, có sẵn một ngôi nhà cũ đang được sửa sang lại. Nhóm thợ Việt Nam và Mỹ đang sửa nhà còn cho biết thêm thông tin là khu đất nầy vừa được một gia đình doanh nhân người Việt tại điạ phương Sacramento (M-Đ), kinh doanh ngành mỹ phẩm, mua cả triệu đô la và cúng dường xây dựng chùa Hoằng Pháp. 

 

 Chua Hoang Phap tai My (5)

 Chua Hoang Phap tai My (7)Chua Hoang Phap tai My (6)

Địa điểm mới chùa Hoằng Pháp tại Mỹ

 

            Nhân ngày lễ Lao Động (Labor Day 3-9-2018) của Hoa Kỳ, tôi được nhóm Văn Nghệ Phật Giáo Hải Ngoại (VNPGHN) mời dự cuộc mạn đàm về đề tài “Phật Giáo và Chính Trị” tại Clear Lake. Trong cuộc gặp mặt nầy, các anh chị em trong nhóm VNPGHN có chiếu lại bài nói chuyện của Thượng toạ Thích Chân Tính nhằm giải thích và chứng minh về vấn đề: Chư tăng chùa Hoằng Pháp có phải là Việt cộng không?”

Để có được một cách nhìn độc lập và khách quan riêng của từng cá nhân, không gì hơn là theo dõi bài nói chuyện của Thượng toạ Thích Chân Tính đã được loan tải rộng rãi trên các trang mạng xã hội toàn cầu:

 
ht thich chan tinh
Mời vào nghe: https://www.thuyetphap.net/chu-tang-chua-hoang-phap-co-phai-la-viet-cong-khong/


Qua băng nói chuyện dài khoảng 45 phút, sau phần thuyết giảng kể chuyện về các chuyến viếng thăm và thuyết pháp của mình tại Mỹ, đồng thời nhấn mạnh về câu hỏi thắc mắc là “Có phải chư tăng chùa Hoằng Pháp là Việt cộng không?” Thầy Thích Chân Tính xác định: “Nếu hỏi rằng các Thầy ở chùa Hoằng Pháp là Cộng sản phải không thì câu trả lời là ‘Không’ vì cácThầy là con Phật xuất gia nên chỉ biết theo Phật mà thôi chứ chẳng theo ai cả . Nhưng nếu hỏi các Thầy có phải là Việt cộng không thì câu trả lời sẽ là: ‘Các thầy là Việt cộng’ vì đang ở trên một đất nước theo chủ nghĩa Cộng sản nên mọi người Việt đều là Việt cộng; cũng tương tự như người Việt đang ở các nước ngoài thì gọi là ‘Việt kiều’ vậy!”

Về luận điểm nầy, anh Minh Khiết và chị Tâm Phùng trong nhóm chủ biên VNPGHN đặt lại vấn đề là: Liệu trong số 95 triệu người Việt trong nước hiện nay, ngoài khoảng 5 triệu Đảng viên đảng CSVN có thể là người Cộng sản; còn lại 90 triệu người Việt Nam đều đương nhiên tự nhận mình hoặc tự động bị đồng hóa là “Việt cộng” hay sao? Tiền đề của Tam đoạn luận (Syllogism)  mà Thầy Chân Tính dùng để lý luận và chứng minh nhãn hiệu cũng như thực` chất “Việt cộng” áp dụng cho đại chúng Việt Nam có tương ứng với thực tế hay đấy là một sự quy kết mang tính giả định xa rời thực tế?

Và, khi xin nhập cư vào nước Mỹ để hoạt động tôn giáo mà tự khai lý lịch bản thân là “Vietnamese Communists” thì liệu có được luật pháp Hoa Kỳ chấp nhận hay không?

 

Thảnh thơi ngôn ngữ Phật Đà

 

Cho đến khi chia tay bên hồ Clear Lake, tôi vẫn chưa nghe các anh chị thuộc nhóm VNPGHN có câu trả lời nào cả. Trong một số trường hợp, không trả lời cũng có nghĩa là đã trả lời: Chẳng khẩn thiết để trả lời ngay hay đi xa thêm nữa (?).

Băn khoăn ngôn ngữ nặng nề quá sẽ không thấy được ngôn ngữ như quỷ Lưu Linh không thấy được một giọt nước của sông Hằng đang cuồn cuộn chảy về khơi.

Trên đường núi rừng quanh co và hoang vu của Xa lộ 20 về lại Sacramento, tôi bỗng cảm nhận cái phù du của ngôn ngữ, nhất là khi lắng đọng trong tinh thần quán niệm rỗng lặng của đạo Phật. Một chút buồn nao nao khi nhớ lại mấy câu thơ trong bài thơ của anh Tâm Minh ngâm bên vòng lửa trại tối hôm qua:

 

Thời mạt pháp cả lời cao như núi

Mà rỗng không chẳng đọng giữa mây trời

Nghìn pho sách đốt lên chiều nắng vội

Tâm lạc bầy bóng tối vẫn ngàn khơi

Phải chăng, cách trả lời nào cũng chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng, nghĩa là phương tiện tạm bợ đời thường. Nhưng trong đạo Phật thì ngôn ngữ, chữ nghĩa là phương tiện nghèo nàn “sơ lậu” nhất ở thế chẳng đặng đừng mới phải tạm sử dụng mà thôi. Quá tin vào sách thì tốt hơn là đừng nên có sách. Quá bám vào lời thì tốt hơn là đừng nên nghe lời. Quá chấp vào nói thì tốt hơn đừng nói. Cũng như “say kinh oan Phật, rời kinh theo ma!” (Y kinh liễu nghĩa, tam thế Phật oan; ly kinh nhất tự, tức đồng ma thuyết) là lời dặn cẩn trọng mà đầy khai phóng của tinh thần Phật giáo.

Điều tôi có thể trao đổi với anh chị em trong nhóm VHPGHN – những người đang góp phần hoằng pháp trong lãnh vực văn chương, nghệ thuật –  là cố gắng giữ sự Thảnh Thơi Chữ Nghĩa khi mình tiếp cận với đạo Phật dù trên cương vị hay tư thế nào.
            Chữ nghĩa thường là phương tiện thường xuyên và gần gũi nhất. Nhưng chữ nghĩa thường là con ngựa cừ khôi chạy ngày nghìn dặm; nhưng cũng vừa là con ngựa chứng. Nó vừa có khả năng đưa bạn đi xa nhưng cũng có thể hất bạn rơi xuống đất, xuống hố bất cứ lúc nào.
            Bởi vậy, theo tinh thần Phật giáo thì chữ nghĩa là một phương tiện phải dùng bất đắc dĩ mà thôi.
            Biểu tượng sự im lặng sấm sét trong sinh hoạt nhà Phật là một cách đánh giá vai trò yếu đuối và giới hạn của chữ nghĩa.
            Ngôn ngữ thượng thừa của nhà Phật là Vô Ngôn là sự rỗng lặng không dấu vết. Biểu tượng tổ sư Thiền Đạt Ma chín năm im lặng đối bóng với bức tường (cửu niên diện bích) nói lên sức mạnh càn khôn vũ trụ của Vô Ngôn. Đại tạng kinh Bát Nhã 600 tập, ngài Huyền Trang dịch Bát Nhã Tâm Kinh cô đọng lại còn 280 chữ, Lục Tổ Huệ Năng nắm bắt tinh tuý Bát Nhã còn 20 chữ (Bồ đề bổn vô thọ... : Bồ Đề cũng thể đài gương, vốn không thật có sao vương bụi hồng, từ không tự tánh hoàn không.) Và đến thi hào Nguyễn Du của chúng ta thì chẳng còn vương lại chữ nào:


            “Ngã độc Kim Cương thiên biến linh,

Kim Cương vô tự thị chân kinh.”

 

(Nghìn lần ta đọc Kim Cương,

Kim Cương chân thật chẳng vương chữ nào.)
           
Cứ hãy thong dong như kẻ mục đồng tìm trâu trên đồng vắng. Bạn thoáng nghe đâu đây tiếng hét khai ngộ của thiền sư, tiếng gầm sư tử, sự rỗng không sấm sét, sự im lặng của chánh pháp và sự thảnh thơi chữ nghĩa vô ngôn của ngôn ngữ Phật Đà như Đức Phật đã thuyết pháp 49 năm mà nhắn nhủ: “Ta chưa nói một lời nào!”

  Lan man đi xa vào những nẻo đường trầm tư quán niệm Phật giáo, tôi như bị lạc đề trên những bước chân đi vào vùng đất còn trống trải trước mắt tôi bây giờ; nhưng sẽ là một khu chùa viện Hoằng Pháp tháng sau, năm sau.
           

 

Clear Lake, Labor Day 2018

Trần Kiêm Đoàn

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/04/2026(Xem: 577)
Nhiều học giả và người dân thường gọi tắt con đường học Phật là tu tâm, dưỡng tánh, đôi khi gọi Cửa Phật là Cửa Không. Tuy nhiên, bước đầu tiên và cũng là bước quan trọng cho tới tột cùng phải là Giới, vì Đức Phật nói rằng con đường giải thoát phải là Giới-Định-Tuệ. Cả ba phần có khi là một lộ trình thứ tự, và đôi khi là một bước đi hội nhập cả ba, cũng đều là tu tâm. Do vậy, phần lớn những cuộc vấn đáp trong Thiền sử là nói về tâm. Trên trang Wikipedia, mục từ Pháp Nhãn Văn Ích, ghi lại một giai thoại khi ngài Pháp Nhãn (885-958) kết bạn với hai vị tăng Thiệu Tu và Hồng Tiến cùng đi hành cước, gặp mùa tuyết rơi, ghé trú tuyết ở La Hán Viện, nơi ngài La Hán Quế Sâm (867-928) trụ trì.
18/04/2026(Xem: 728)
🍵 Tĩnh Lặng Giữa Dòng Chảy Nhân Duyên (Uống trà sáng và đàm đạo với chính mình) Mời bạn cùng tôi nâng chén trà lên một cách chậm rãi. Hãy cảm nhận hơi ấm dịu dàng lan tỏa nơi đầu ngón tay, rồi thấm sâu vào từng nhịp thở. Trong khoảng lặng yên này, tâm dần lắng xuống, như mặt hồ thôi gợn sóng. Mọi vội vã dường như tạm lui, chỉ còn lại sự có mặt trọn vẹn của ta với chính mình. Đã bao lần ta tự hỏi: vì sao khổ đau vẫn cứ quay về, như một vòng tròn chưa khép? Ta quen nhìn ra bên ngoài, tìm nguyên do nơi hoàn cảnh, nơi người khác, nơi những điều không như ý trong đời. Ta nghĩ rằng nếu mọi thứ đổi khác, lòng mình sẽ bình yên hơn. Nhưng khi thật sự dừng lại, chỉ để thở, chỉ để nhìn sâu, ta chợt nhận ra một điều rất nhẹ mà rất thật: khổ đau không đến từ đâu xa. Nó được nuôi lớn từng ngày từ chính những hạt giống trong tâm mà ta đã gieo trồng, có khi vô tình, có khi không hay biết. Và cũng trong giây phút ấy, ta hiểu rằng: khi thôi tìm kiếm bên ngoài, khi quay về chăm sóc khu vườn nội
17/04/2026(Xem: 457)
Tôi có thói quen mua hàng tại tiệm tạp hóa Grocery Outlet – một hệ thống bán lẻ rất lớn của Hoa Kỳ vì hàng ở đây tương đối rẻ hơn Wal-Mart. Cách đây hơn một năm, vừa bước ra khỏi tiệm nằm ở Down Town, San Jose, tôi thấy một cô gái Mỹ trắng tuổi khoảng 30 đang ngồi tựa vào tường, bên cạnh là một cái bọc, có lẽ đựng quần áo hay cái gì đó. Mặt cô ta rất buồn, mắt như nhìn vào cõi hư vô. Rõ ràng cô là một người vô gia cư.
15/04/2026(Xem: 2754)
Giữa dòng đời vô thường biến động, hiếm có ai khi tuổi đã xế chiều mà tâm vẫn an nhiên, trí vẫn sáng suốt, và lòng vẫn hướng trọn về Tam Bảo như lão cư sĩ Thị Tâm Ngô Văn Phát (hình trên, cụ đứng bên phải HT Bảo Lạc, bên trái là con trai cụ, anh Thị Chơn Ngô Ngọc Diệp). Cuộc đời của Cụ là một hành trình dài qua bao thăng trầm lịch sử, nhưng cũng chính là một minh chứng sống động cho sức mạnh của chánh tín và hạnh nguyện tu tập bền bỉ. Lão cư sĩ Thị Tâm sinh ngày 30/10/1929 (Kỷ Tỵ), từng là Thủ khoa Khóa 11 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (1955), giữ cấp bậc Trung Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Cụ đã trải qua những năm tháng gian lao trong lao tù cải tạo tại Hoàng Liên Sơn. Sau đó, định cư tại Hannover (CHLB Đức) từ năm 1984, Cụ tiếp tục dấn thân phụng sự đạo pháp và cộng đồng, cộng tác lâu dài với báo Viên Giác, đảm nhiệm vai trò Hội trưởng Hội Phật tử Việt Nam tại CHLB Đức suốt nhiều năm.
14/04/2026(Xem: 461)
Nghiệm tâm tu học…! Từng thời khắc trong cuộc đời này, ai biết tìm về hơi thở, ai biết tìm về đức tính từ bi, ai biết tìm về đức tính kham nhẫn thì chúng ta sẽ luôn luôn an trú trong từng hạnh nguyện nghiệm tâm tu học như từng dấu ấn xưa nay. Nghiệm tâm tu học, là pháp hành trong từng thời khắc, quán chiếu về hơi thở, tập nhìn bằng đôi mắt tình thương, nở nụ cười trong từng khoảnh khắc đi qua, trì niệm trong từng thời công phu tu tập cảm thấy tâm tự tại. Nghiệm tâm tu học, là pháp hành trong pháp hoa kinh, ở phẩm Trì, trong đó có đoạn: ….”Lại có bậc học và vô học tám nghìn người đã đặng thọ ký đồng từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay hướng về phía Phật nói lời thệ rằng : “Thế Tôn! Chúng con cũng sẽ ở cõi khác rộng nói Kinh này. Vì sao? - Vì người trong nước Ta-bà nhiều điều tệ ác, ôm lòng tăng thượng mạn, công đức cạn mỏng, giận hờn, dua vạy tâm không chơn thật”. Nghiệm tâm tu học trong đoạn kinh trên, chúng con rút ra được ba điều: 1: Tâm cung kính cá
13/04/2026(Xem: 1294)
Bài viết này phân tích các mối liên kết xuyên quốc gia giữa các chùa Phật giáo Việt Nam ở hải ngoại tại châu Âu, Úc Châu và Nhật Bản thông qua lăng kính của sự lưu chuyển của Tăng sĩ. Thay vì xem các ngôi chùa này như những không gian tôn giáo dân tộc biệt lập, nghiên cứu này khái niệm hóa chúng như những thực thể vừa gắn kết với địa phương, vừa được liên kết với nhau thông qua sự di chuyển của chư Tăng, mối quan hệ thầy–trò, và các thực hành nghi lễ chung. Tập trung vào một vị Hòa Thượng, lãnh đạo Phật Giáo người Việt tại Đức [2], đóng vai trò như một nút trung tâm trong mạng lưới này, nghiên cứu dựa trên khảo sát thực địa nhiều địa điểm (2023–2025) để lập luận rằng các mối quan hệ liên tự viện có thể được hiểu như một cấu trúc năng động được duy trì bởi sự lưu chuyển Tăng sĩ mang tính lặp lại. Bằng cách nhấn mạnh vai trò của sự lưu chuyển Tăng sĩ, bài viết trình bày các chùa Phật giáo Việt Nam hải ngoại như những tác nhân mang tính quan hệ, được định hình bởi cả sự gắn kết địa phương
10/04/2026(Xem: 3311)
Đặng Tấn Tới là thi sỹ của đất trời. Anh từ vũ trụ, càn khôn đến đây để rong chơi, Chơi Trong Buổi Hội Mấy Màu Thanh Thiên, như một bài thơ mà anh đã viết cách đây hơn nửa thế kỷ.Với anh, thi ca là Hơi Thở: “Một hơi vừa đi mất Cho ta hơi mới đầy Chan hòa hương màu đất Vui trời chơi gió bay”
09/04/2026(Xem: 935)
Cố vấn tâm lý, theo tôi học được từ Lifeline là sau khi lắng nghe ông ta tâm sự, tôi sẽ cùng ông tìm ra các hướng đi và cùng ông thảo luận các lợi hại của từng hướng đi...để rồi sau đó tự ông quyết định hướng đi cho mình. Ông không trả lời tôi vội, ông đắn đo cân nhắc khá lâu, rồi ngập ngừng nói với tôi: “Thôi, tôi không làm đâu” Tôi hỏi nhẹ: “Vì sao vậy ông?” Ông trả lời: “Dù sao tụi nó cũng là con tôi. Kiện tụi nó ra tòa, đưa tụi nó lên báo, tôi có thắng, thì tụi nó thua cả đời” Ông nói thêm, giọng rất nhỏ: “Tôi già rồi. Ráng chịu thêm nữa…cũng chẳng sao, dù gì nước mắt cũng chảy xuống mà”. Làm gì được, được làm gì…trong cảnh đời “bơ vơ ở tuổi xế chiều” này đây?
03/04/2026(Xem: 1436)
Làm sao để giá trị tinh thần không bị thời gian và công nghệ AI làm lu mờ. ( Cảm tác sau khi đọc bài viết của TT Thích Nguyên Tạng nhân kỹ niệm lễ Huý Nhật của HT Thích Trí Tịnh vào ngày 6/4/2026 ) Có những bậc cao tăng và ngay cả những bậc trí tuệ như Socrates, Friedrich Nietzsche hay Lao Tzu… cũng từng bị hiểu sai, lãng quên, rồi được “tái khám phá”. Không phải vì họ mất giá trị, mà vì:”Thời đại thay đổi nhanh hơn khả năng tiếp nhận của con người, hơn thế nữa giá trị tinh thần thường không “ồn ào” như công nghệ và nhất là đám đông thường bị cuốn vào cái mới, không phải cái sâu.” Do vậy tên tuổi đáng kính thường bị che khuất tạm thời bởi dòng chảy thời đại. Phải chăng cái nguy cơ lớn nhất của thời đại AI ngày nay không phải là quên… mà là “nông” Phải chăng AI có thể: (Viết thay ta-Nghĩ nhanh hơn ta-Tổng hợp tri thức nhanh chóng) Nhưng AI cũng tạo ra một nguy cơ tinh vi: Con người tưởng mình hiểu… nhưng thực ra chỉ “chạm bề mặt”. Do đó nếu chỉ sống bằng tri thức vay mượn, thì
03/04/2026(Xem: 1213)
“Khi Thế giới của chúng ta ngày càng nhỏ lại, nhưng chúng ta lại cứ nghĩ mình ngày càng lớn ra”. Trong xã hội ngày nay, khi con người thường đề cao bề nổi, ưa thích sự thể hiện bản thân vượt qua giá trị đích thực, thích thổi phồng những danh xưng, thành công hay một cuộc sống ngập tràn sự hào nhoáng. Nó tạo ra sự khao khát để khẳng định mình so với người khác bởi tâm lý sợ bị lãng quên, sợ bị nhạt nhòa và sợ bị bỏ lại sau lưng. Nó giúp con người tạo ra một bề mặt “kiêu hãnh” và khi tâm kiêu hãnh hình thành, trở thành chất xúc tác gây nghiện, con người sẽ bắt đầu trở nên kiêu mạn và lệ thuộc vào những thứ phù phiếm bên ngoài mà quên đi những giá trị cốt lõi bên trong.