Mùa Sen

17/04/201806:27(Xem: 4027)
Mùa Sen



hoa_sen (24)

MÙA SEN

 

Vĩnh Hảo

 

 

 

Lá và cành khô đã gẫy đổ, giạt theo mặt hồ từ những ngày tàn xuân. Một số cành khác đã mục rữa từ dưới nước, nhưng vẫn gắng bám rễ nơi sình lầy, đong đưa những chiếc lá khô teo rúm cho đến khi thực sự bật gốc. Rồi một ngày, hai ngày, rồi nhiều ngày qua đi... khi nắng hạ oi ả nóng bức bắt đầu thiêu đốt những lá khô sót lại cuối mùa, những chồi xanh mơn mởn của lá sen vươn lên; từng lá, từng lá, mở ra tròn đầy, mạnh mẽ như thể đang chuẩn bị bảo vệ, chào đón sự xuất hiện phát tiết của những cành hoa. Và khi lá đủ lớn, màu trở nên xanh thẫm hơn, thì những nụ sen cũng vừa trồi khỏi mặt nước, đong đưa theo làn gió nhẹ trưa hè.

 

Thế gian như ao tù vẩn đục. Con người và chúng sinh lặn hụp trong ấy. Mịt mờ bụi đỏ, rêu xanh. Tìm vui trong những trò chơi tạm bợ. Tranh giành những điều vớ vẩn, vu vơ. Tham lam chiếm đoạt của người. Sân hận gieo rắc tai ương cho kẻ khác. Si mê đẩy xô nhau vào những hầm hố của khổ đau và nỗi chết. Hăm hở đốt cả tuổi thanh xuân cho những giấc mộng hão huyền. Quờ quạng một đời chỉ để vinh danh một cái tôi hay nhiều cái tôi giữa trùng trùng những cái tôi vô minh, điên đảo. Một đời, hai đời, rồi nhiều đời trôi qua... cho đến khi ánh triêu dương bừng lên sau đêm dài đằng đẵng u mê, Người đã hạ sinh nơi trần gian mộng mị nầy.

 

Không có sự mặc khải của thần linh hay sự ủy thác từ bất cứ quyền năng tối thượng nào, Người đã đến với những bước chân trần của con người, như bao nhiêu người, bao nhiêu sinh loại đã sinh ra nơi đây. Hình thể và tinh thần của Người cũng mượn hợp chất của đất, nước, gió, lửa, tâm thức, không gian, và thời gian trần thế; để từ đó, Người có thể cảm được nỗi thống khổ vô vàn của chúng sinh vạn loại. Người đã có ngai vị vững chắc của một vương quốc để trải nghiệm cuộc sống vương giả cao sang; đã bước xuống đời sống dân dã để chia sẻ cơn đói lạnh triền miên của những kẻ bần cùng hạ tiện. Người đã làm con, làm chồng, làm cha, để rung động xót xa về nỗi ly biệt của tình thường. Người đã dãi dầu trải thân dưới những cơn mưa tầm tã, dưới những ngày nắng bỏng cháy rát thịt da, dưới những đêm sương giá lạnh và những mùa tuyết phủ mênh mang, tê cóng đến tận xương cốt. Rồi một sớm tinh mơ nơi rừng già tịch lặng im vắng, Người đã nhìn ra tất cả sự thực của thế gian, của tất cả vạn loại chúng sanh, của tận cùng vô biên thế giới. Ánh đạo từ đấy bừng khai. Chân trần rảo khắp bao vương quốc và lãnh địa xa xôi. Từ hàng đế vương đến người hạ tiện, từ hàng tu sĩ đến kẻ cùng đinh, ai cũng được bình đẳng tiếp nhận và thực hành những sự thực cao cả (1) để vượt thoát khổ đau, đạt đến cảnh giới an vui tuyệt đối.

 

Lòng tràn ngập niềm hoan hỷ và tri ân sâu xa đối với Đức Phật và giáo pháp vi diệu của Ngài, tự cảm nhận đời mình thật hạnh phúc, quá hạnh phúc! Và cũng thật tuyệt vời khi nhận ra rằng chính mình và tất cả sinh loại nơi trần gian nầy đều bao hàm phẩm tính cao quý của Như Lai (2). Nghĩa là, không riêng Đức Phật, mà tất cả mọi người đều có khả năng đạt được toàn giác, nếu tri kiến, tư duy, sống và nỗ lực thực hành đúng đắn theo con đường Ngài đã đi qua.

Người đã một lần sinh ra, đã một lần đi qua cõi nầy với bước chân trần trụi của một du sĩ không nhà. Dấu chân năm ấy đã phai nhòa đi theo gió bụi trần gian, nhưng âm hưởng còn dội mãi đến ngàn sau. Sinh ra như thế, là bất sinh; đi qua như thế, là bất diệt.

 

Bầu trời trong vắt khi nắng hạ đầu mùa trở nên vàng hanh, thúc đẩy mầm sống của những gì khô chết, làm bừng lên nhịp sống từ những ao hồ và cánh đồng rộ nở muôn sen. Sinh ra và lớn lên từ nơi sình lầy ấy, những sen hồng, sen trắng, sen vàng, sen xanh..., khi thời tiết nhân duyên đến, sẽ lần lượt mãn khai.

 

California, ngày 15 tháng 4 năm 2018

Vĩnh Hảo

(www.vinhhao.info)

 

________

 

(1)  Tứ Diệu Đế hay Tứ Thánh Đế, là bốn sự thực (chân lý) cao cả — giáo lý cốt lõi được tất cả các truyền thống Phật giáo công nhận là nền tảng giáo pháp của Đức Phật, gồm: Khổ đế (chân lý về thực trạng khổ đau), Tập đế (chân lý về nguyên nhân của khổ đau), Diệt đế (chân lý về sự chấm dứt khổ đau) và Đạo đế (chân lý về con đường chấm dứt khổ đau).

(2)  Là một trong mười danh hiệu dùng để tôn xưng Đức Phật (Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật-Thế Tôn).

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/08/2018(Xem: 5667)
ĐA TẠ VÀ TRI ÂN Những nhà dịch thuật kinh sách Nam Tông, Bắc Tông và Mật Tông Không hiểu từ bao giờ khi đã bước vào thế giới triết học, khoa học và tôn giáo của Đạo Phật, mặc dù nghe rất nhiều pháp thoại đủ mọi trình độ tôi vẫn không tin có THỜI MẠT PHÁP. Vì sao vậy? Có lẽ lý do tôi biện minh sẽ không được nhiều người chấp nhận, nhưng theo thiển ý của tôi, từ khi nền công nghệ văn minh vi tính hiện đại phát triển, ta không cần chờ đợi một quyển sách được in ra và chờ đợi có phương tiện thích nghi để giữ nó trong tủ sách gia đình, ta vẫn có thể theo dõi qua mạng những bài kinh luật luận được dịch từ tiếng Pali hay Sankrit hoặc những bản Anh Ngữ, Pháp ngữ mà người đọc dù có trình độ học vấn vào mức trung trung vẫn không tài nào hiểu rõ từng lời của bản gốc.
03/08/2018(Xem: 20251)
Hàn Mặc Tử hay Hàn Mạc Tử, tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22 tháng 9 năm 1912 – từ trần ngày 11 tháng 11 năm 1940 là nhà thơ nổi tiếng, khởi đầu cho dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam, là người khởi xướng ra Trường thơ Loạn. Hàn Mặc Tử cùng với Quách Tấn, Yến Lan, Chế Lan Viên được người đương thời ở Bình Định gọi là Bàn thành tứ hữu, Bốn người bạn ở thành Đồ Bàn. Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ở làng Lệ Mỹ, Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình; lớn lên ở Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Tổ tiên Hàn Mặc Tử gốc họ Phạm ở Thanh Hóa. Ông cố là Phạm Chương vì liên quan đến quốc sự, gia đình bị truy nã, nên người con trai là Phạm Bồi phải di chuyển vào Thừa Thiên – Huế đổi họ Nguyễn theo mẫu tánh. Sinh ra ông Nguyễn Văn Toản lấy vợ là Nguyễn Thị Duy (con cụ Nguyễn Long, ngự y có danh thời vua Tự Đức), Hàn Mạc Tử, Lệ Thanh, Phong Trần là các bút danh khác của ông. Ông có tài năng làm thơ từ rất sớm khi mới 16 tuổi. Ông đã từng gặp gỡ Phan Bội Châu và chịu ảnh hưởng khá lớn của
29/07/2018(Xem: 6050)
Nhà văn Hoàng Mai Đạt --cũng là Chủ Bút Nhật Báo Viễn Đông -- cho biết số báo ra mắt đã mất nhiều tháng mới làm xong, nhưng hy vọng tương lai sẽ được chư tôn đức Tăng Ni và quý cư sĩ hỗ trợ để thuận lợi cho việc hoằng pháp. Số ra mắt Tinh Tấn Magazine in trên giấy láng, nhiều màu, dày 90 trang, khổ báo tạp chí. Trong số ra mắt Tinh Tấn Magazine, có nhiều bài tập trung chủ đề Quan Thế Âm Bổ Tát hoặc chủ đề từ bi, trong đó có bài: Hạnh Nguyện Cứu Độ Chúng Sanh của Đức Quán Thế Âm (tác giả HT Thích Tịnh Từ);
21/06/2018(Xem: 5168)
Phần này bàn về các cách gọi thời gian như giờ, ngày, tháng trong tiếng Việt vào thời LM de Rhodes sang An Nam truyền đạo. Tài liệu tham khảo chính của bài viết là các tác phẩm Nôm của LM Maiorica và Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), Phép Giảng Tám Ngày (PGTN) và từ điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là từ điển Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra từ điển này trên mạng, như trang này chẳng hạn http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false.
14/06/2018(Xem: 14716)
Khoảng tháng 3 vừa rồi, Hòa Thượng Thích Như Điển, Phương Trượng Chùa Viên Giác (Đức Quốc) gởi cho chúng tôi bản final cuốn Mối Tơ Vương Của Huyền Trân Công Chúa với lời dặn dò: viết Lời cuối sách. Đọc thư Thầy, chúng tôi vô cùng băn khoăn, lo lắng và hơi bị “ngộp” dưới cái bóng quá lớn và ảnh hưởng rộng khắp của Thầy. Chúng tôi “ngại” vì biết Thầy có nhiều mối quan hệ thân thiết với các bậc tài danh khắp nơi. Ngược lại, chúng tôi chỉ là kẻ sơ học nhiều mặt mà lại dám chắp bút viết Lời cuối sách này? Chúng tôi rất đắn đo trước cái vinh dự to lớn ấy, trước cái trách nhiệm nặng nề này. Nhưng rồi anh Văn Công Tuấn nhiều lần “trấn an”, khích lệ. Và rồi, lại nghĩ rằng, Thầy Như Điển có lòng ưu ái, thương tưởng và muốn tạo điều kiện cho chúng tôi trong bước đầu tập tễnh học Phật. Xin cung kính niệm ân Thầy; và cũng qua đây kính mong quý vị độc giả thông cảm và lượng thứ cho những thiếu sót và non nớt không sao tránh khỏi, dù đã có nhiều
09/06/2018(Xem: 10361)
Tóm lược Khác với hầu hết những cộng đồng sắc tộc tại Úc Châu, người Việt đã đến đây thật đông đảo trong một thời gian tương đối ngắn, khi xã hội văn hóa đa nguyên của đất nước định cư nầy hãy còn trong tình trạng non trẻ. Sự hiện diện của một cộng đồng thiểu số Châu Á mà hình dáng bên ngoài dễ nhìn thấy, dễ nhận dạng, đã là một thách đố lớn lao cho giới lãnh đạo chính trị tại Úc, và sự bao dung của công chúng Úc nóí chung.
21/05/2018(Xem: 20634)
Một Cõi Đi Về Thơ & Tạp Bút Tập 3_Thích Phước Thái
10/05/2018(Xem: 5881)
Đó là tên được đặt cho tác phẩm nhiếp ảnh đầu tiên của tôi. Ảnh chụp năm 1993, bằng Máy ảnh Pentax cũ, mua được từ Tòa soạn Báo Khánh Hòa đợt thanh lý, với giá thời điểm đó là 100.000 đồng. Người mẫu: "Con gái rượu" Tịnh Thủy lúc được 2 tuổi.
10/05/2018(Xem: 5269)
Những biến động đàn áp Phật Giáo khởi đầu vào năm 63. Lúc ấy tôi cũng vừa tròn 13 tuổi. Cái tuổi của thắt nơ tóc bím đầy thơ mộng. Thì cũng chính vào những năm tháng thơ mộng nhất của đời tôi, tôi lại trực nhận rõ rằng cuộc đời quả là khổ, quả là vô thường !
10/05/2018(Xem: 5086)
Như vậy là Thầy đã thực sự xa lìa cõi trần ai tục lụy nầy hơn một năm rồi mà hình như trong lòng con vẫn không thấy có sự gì thay đổi hay khác biệt giữa mất và còn cũng như xa với gần, lạ và quen…Bởi thế mà hôm nay con mới có bức thư này xin gởi đến Thầy. Con vẫn thấy như còn mãi đó, trước mắt con, dáng dấp của Thầy với chiếc cà sa màu vàng rực, bờ vai trần và nụ cười thật hiền hòa luôn nở trên môi, làm cho khuôn mặt của Thầy càng thêm rạng rỡ. Con xin nói rõ hơn, dù Thầy không còn nhưng những gì con đã học được từ Thầy, đã được đọc, được nghe, qua những bài giảng dạy, thuyết pháp, những bài báo, bài viết, bài dịch thuật, qua các công trình đóng góp đồ sộ của Thầy mà Thầy đã được trân trọng vinh danh như là ngài Huyền Trang của nước Việt mình, thì trong lòng con, hình ảnh Thầy vẫn mãi sống động, hiển hiện và không bao giờ mất cả.