Tình Cha (Trần Thị Nhật Hưng)

11/09/201307:53(Xem: 9330)
Tình Cha (Trần Thị Nhật Hưng)

Cu_ong_Tran_Van_Kinh

"Viết riêng tặng ba,

Cụ “Chí Thành“ Trần Văn Kính với lòng tri ân vô vàn của con"


Tr
ần Thị Nhật Hưng

 



Có phải bất công lắm không khi hằng năm vào dịp Vu Lan, trên thế gian này không biết bao nhiêu văn nhân, thi sĩ, nhạc sĩ múa bút tán tụng tình Mẹ: Huyền thoại mẹ, Phật giáo tôn vinh giá trị những bà mẹ, lạm bàn về mẹ, tản mạn về mẹ v.v... và v.v... bên cạnh đó, dường như mọi người đã vô tình bỏ quên một thứ tình cũng nồng nàn không kém, đôi khi còn thắm thiết hơn, đó là tình cha. Vâng, tôi có một người cha như thế.

Cho đến giây phút này, khi cầm bút viết về cha, tình cảm trong tôi bỗng dạt dào sống dậy. Tôi nhớ về công lao dưỡng dục sinh thành vô bờ bến của song thân. Giữa khi đã có nhiều người


viết về mẹ, tôi dành những trang giấy sau đây viết về cha tôi, để mọi người thấy rằng tình cha cũng đậm đà, sâu nặng không kém.

Mãi khi tôi vừa lớn, có đủ trí khôn, tôi luôn thắc mắc tìm hiểu nguồn cội, mới biết cha tôi từ Bắc vào Nam với hai bàn tay trắng. Vì còn nghèo, ông đành để vợ và các con ở tạm miền Trung tại nhà người dì, em họ của mẹ tôi; còn ông tha phương cầu thực, một mình lăn lộn khắp miền Nam từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau, trải biết bao gian lao khổ cực tìm kế sinh nhai, nuôi thân, lo cho vợ con. Nhờ siêng năng cần cù chịu khó cùng ý chí mãnh liệt và cũng nhờ Trời Phật đoái hoài, chẳng bao lâu, ba tôi trở thành một thương gia giàu có, rồi quay về miền Trung chọn chỗ định cư.

Để đánh dấu thành quả của mình, cùng để nhắn nhủ con cháu, ba tôi đã đặt tên cho cửa hiệu của ông “Chí Thành” (hàm ý có chísẽ thành công) như một định đề làm gương cho con cháu.

Từ đó, tôi được lớn lên trong kinh tế gia đình vững vàng, sung túc. Tôi không hề biết thiếu thốn là gì nữa. Thế nhưng, cuộc đời vô thường, không ai biết trước được số phận. Từ chỗ “không biết thiếu thốn là gì”, đùng một cái, tôi bỗng nghèo xác xơ, nghèo đến nỗi quả bắp luộc rẻ tiền đối với tôi trở thành hàng xa xỉ phẩm, cao lương mỹ vị, nhiều năm trời, có muốn ăn, tôi chỉ được liếc thấy, ngửi qua mà không bao giờ rờ tới.

Có rơi vào cảnh nghèo túng, sa cơ lỡ vận, mới dễ nhận chân lòng dạ con người “nước loạn mới biết tôi trung. Gia bần mới tri hiếu tử”, thiên hạ hay nói thế và tôi dựa theo ý câu này để thấy rõ tình của ba tôi.

Số là, tôi về làm dâu nhà cụ Phan, tôi không ngờ nhà cụ nghèo thế. Ngày đầu tiên trong đời, cụ đưa tiền tôi đi chợ, tôi mua 10 quả trứng gà, một bắp cải, vài trái cà chua. Mua một lúc cho vài ngày. Mâm cơm cho 3 người độc món luộc. Chỉ một nồi nước sôi tôi cho ra ba món: Một dĩa rau luộc. Nước luộc giằm cà chua. 2 trứng luộc giằm nước mắm. Bữa cơm như thế thật đơn sơ, tiện lợi, có gì cầu kỳ đâu, vậy mà bố chồng tôi đã kêu tôi lại bảo:

- Lương nhà con ăn thế này…sang quá! Không đủ trang trải đâu.

Tôi nghe, tôi hiểu và biết phải làm gì. Sẵn học ban B, toán là chính, tôi áp dụng ngay vào đời sống, đem lương của chồng tôi cộng trừ nhân chia, cuối cùng cho ra một đáp số: "Điểm tâm buổi sáng: Cơm nguội, mỗi người một chén (thay vì một tô bún bò kèm ổ bánh mì khi tôi còn ở nhà bố mẹ). Hai bữa ăn chính: Chủ lực rau: Rau muống, rau cải, rau lang, mồng tơi, rau đay, đọt bí v.v… Còn những loại rau như: Bắp cải, súp-lơ, cà rốt, cà chua, xu hào… thuộc hàng xa xỉ phẩm, không được ngó tới". Chất đạm chỉ là những con tép, cá lòng tong kho mặn; thỉnh thoảng được vài gram thịt cũng phải cõng cả ký lô củ đậu vào đó. Còn “chả lụa” theo “rề xếp” bố chồng tôi dạy, không làm từ thịt nạt thăn mà là từ những cục xương sống lưng, loại xương chỉ dùng để nấu súp, cứng như đá, tôi lấy sức “18 bẻ gãy sừng trâu” băm nhuyễn nhừ rồi viên tròn bằng ngón chân cái đem kho mặn, ăn khá ngon. Bố chồng tôi bảo ăn xương mới bổ xương!





Với tôi, nghèo không phải là cái tội. Cũng không ngại gì đời khinh. Nghèo mà sạch, rách mà thơm vẫn hơn giàu sang bằng tiền bất chính, mưu toan trộm cắp cướp đoạt tài sản của người khác. Nói tóm lại phải là tiền từ mồ hôi nước mắt làm ra. Khi chưa có khả năng, cơ hội thì cứ vui với cảnh nghèo. Chỉ vậy thôi. Tôi còn trẻ mà. Còn một quãng đời dài đang chờ đợi ở phía trước. Chịu khó phấn đấu, hợp sức cùng chồng lo gì tương lai không chào đón. Sự kham khổ bây giờ chỉ là giai đoạn “sông có khúc, người có lúc” mà thôi, tôi không bao giờ về nhà than thở với bố mẹ. Và tôi chịu đựng được nhờ ba tôi luyện từ khi anh chị em tôi còn bé. Không phải lúc nào ba tôi cũng cho ăn cao lương mỹ vị dù ba tôi là người “có tâm hồn ăn uống”. Thỉnh thoảng trong bữa cơm thường nhật, trên bàn ăn vỏn vẹn chỉ độc đĩa rau muống luộc chấm tương, xì dầu hay nước mắm. Chị em tôi nhao nhao phản đối. Ba tôi nói: “Cuộc đời không phải lúc nào cũng suông sẻ. Khi sung sướng phải biết lúc khổ cực để vô thường đến, đủ sức lực, nghị lực chịu đựng”.

Lời ba tôi nói quả không sai. Sau này, biến cố 75 làm chao đảo cuộc sống miền Nam, nhà chồng tôi vốn nghèo càng nghèo hơn, tôi trường kỳ rau muống luộc suốt nhiều năm trời, tôi vẫn vững vàng sống khỏe, sống dai và lành mạnh cho đến bây giờ.

Ở nhà chồng, ngày hai bữa “vỗ bụng rau bình bịch”, tôi vẫn vui trong nếp sống thanh đạm “bần nhưng lạc”. Tôi không kêu ca than van, nhưng thân thể tôi, độ chừng hơn nửa năm sau, từ 50 ký mập tròn, tôi trở thành mình dây, liễu yếu đào tơ còn 43 ký thôi đã tố giác với cha mẹ tôi, con ông bà thiếu dinh dưỡng. Từ đó, tôi được quan tâm đặc biệt. Nhưng những bữa cơm được mời về nhà, hay những bát canh, con cá, miếng thịt tiếp tế chỉ giữ ký lô tôi dừng lại không tụt xuống nữa, chứ không bù đắp phần thất thoát trong tôi.


Vài năm sau, vì việc học của tôi và công việc của chồng, chúng tôi đổi vô Sài Gòn. Mặc dù lương chồng tôi có tăng theo thời giá, vẫn không thấm vào đâu so với vật giá quá đắt đỏ của thủ đô. Cho nên, những phí tổn sách vở, học hành, tàu xe, tiêu vặt... tôi đành cầu cứu ba má tôi. Không chỉ một khoản tiền lớn bỏ nhà băng lấy lời để lo cho tôi, tôi còn quấy quả ba má tôi hãy “bưng” cái nhà theo tiêu chuẩn của từng người con “gởi” vô Sài Gòn cho tôi. Ba má tôi, thay vì… bưng, tức là bán căn nhà đó rồi gởi tiền cho tôi mua cái khác theo lời đề nghị của tôi, ông bà lại gởi một khoản tiền khác để mua một căn nhà khác.

Căn nhà nhỏ với một khoản tiền đủ sống, tôi ung dung từng bước vào đời. Phần chồng tôi, chàng cũng phấn đấu vươn lên, vừa đi làm vừa lấy "cua" học thêm. Con đường trước mắt thênh thang mở rộng. Chân trời phương xa, vừng hồng đang rực sáng như chào đón bước chân chúng tôi. Tôi vô tư hồn nhiên yêu đời. Ngây thơ như cô công chúa nhỏ tung tăng vào rừng hái hoa bắt bướm. Không hề nghĩ xung quanh có thú rừng rình rập, hay dưới chân mình đầy cạm bẫy chông gai. Tôi ngu ngơ không hề nghĩ trận cuồng phong có thể bất ngờ ập đến. Không, không nghĩ gì hết. Trước mắt tôi chỉ toàn là màu hồng, màu xanh, đầy hy vọng…

Thế rồi ở cuối chân mây, bầu trời bất ngờ đổi màu xám xịt. Mây đen vần vũ. Tôi vẫn chưa nhìn ra, cứ mải miết say sưa với niềm vui hiện tại, không chuẩn bị một chỗ ẩn núp. Để rồi phải te tua tơi tả bởi một trận cuồng phong. Trận bão của cuộc đời! Trận bão đó quét sạch mọi ước mơ, bao hy vọng, niềm tin yêu trong cuộc sống của tôi. Lúc bấy giờ tôi mới nhận chân ra cuộc đời tự nó vốn vô thường. Con đường trước mặt không luôn luôn bằng phẳng. Đường càng dài thì càng nhiều hố thẳm chông gai. Bấy giờ tôi mới nhớ lời ba tôi, thầm cám ơn ba đã luyện chị em tôi từ thuở bé. Có sung sướng phải biết lúc khổ cực. Ngoài những lúc học hành, ba không hề cho chị em gái chúng tôi ngồi không. Rảnh, chúng tôi phải ra vườn nhặt cỏ, tưới cây, phụ bếp hay thêu thùa may vá. Nhờ vậy biến cố 75, giai đoạn đen tối khó khăn nhất cho bao người miền Nam, làm đảo lộn mọi cuộc sống, dù ngất ngư, tôi vẫn gượng dậy giương to mắt trực diện đối đầu với đời.

Số tiền trong băng vốn cũng như lời mất sạch. Chồng đi tù không còn lương. Bố chồng tôi cả đời không kiếm một xu. Thành phần “vợ ngụy” như tôi không còn cơ ngóc đầu lên nổi. Đã vậy, bà con họ hàng con cháu bố chồng tôi ngoài Bắc lũ lượt vào thăm… Ôi, giữa lúc mọi tai ương đổ ập lên đầu con bé con hơn 20 tuổi, giữa lúc tôi chới với ngộp thở của thác lũ cuộc đời, tôi đang quờ quạng mò mẫm để tìm một lối thoát, thì bất ngờ ba tôi xuất hiện như một cứu tinh lặn lội từ miền Trung vào Sài Gòn thăm con. Ba như cái phao cho tôi chụp lấy. Nhưng nhìn tóc ba bạc phơ, mặt mày phờ phạc hốc hác vì tàu xe vất vả, tôi lại chạnh lòng xót xa và trong tôi dâng lên tình yêu kính cha tràn ngập biết nói sao cho hết.

Cha vào thăm tôi, mục đích thăm dò đời sống của tôi vài ba hôm rồi đi. Trước khi ra về, ba gặp riêng tôi, trao cho tôi một món tiền lớn, ân cần dặn:

- Bố chồng con cả đời không làm ra tiền, nay cụ già rồi, cụ muốn ăn gì con cố gắng phụng dưỡng cụ tử tế. Còn đối với người nghèo khó, con cứ giúp. Riêng con, đừng tiêu hoang là được.

Tôi hỏi:

- Con dùng tiền này thăm nuôi tiếp tế chồng con có được không?

- Điều đó hiển nhiên, con không phải hỏi.

Lời cha dặn, tôi tạc dạ ghi lòng, mặc dù tự thân, tôi tiết kiệm tối đa, tôi không thuộc loại “thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt, còn hơn buồn le lói suốt năm canh”, tôi chấp nhận “le lói suốt năm canh” để kéo dài khoản tiền tiêu khỏi làm phiền cha vất vả, thay vì “nhậu” một bữa cho đã đời, tôi chỉ trường kỳ rau muống luộc. Sáng rau muống luộc, chiều luộc rau muống. Riêng cụ bố chồng thì có thêm đĩa nhộng xào, vừa rẻ vừa bổ và cụ cũng ưa thích. Tôi sợ sâu nên không dám ăn nhộng. Tiết kiệm đến vậy, nhưng món tiền lớn ba cho vẫn không thấm vào đâu so với thời buổi gạo châu củi quế, mà chi tiêu lại gấp 10 lần hơn so với cuộc sống trước 75. Nào việc thăm nuôi, ăn tiêu cho hai bố con, và khoản chẳng đặng đừng cụ Phan hỏi để chu cấp tàu xe, quà cáp, ăn uống cho bà con, họ hàng con cháu cụ từ Bắc vào thăm… Những bữa thịt nai đường Hồng Thập Tự, những hôm thịt quay chợ Tân Định theo yêu cầu của bố chồng tôi đãi khách, món tiền chóng vánh hết nhanh.

Mặc dù ba tôi có dặn, khi nào hết tiền, nhớ thông báo ba tìm cách gởi tiếp. Nhưng xin để học, tôi không ngại miệng, vì học tức là làm việc, còn xin để ăn, tôi quyết không mở lời. Một cách tinh ý và tế nhị, ba tôi nhận ra điều đó. Không chuyển tiền qua bưu điện hay ngân hàng được và cũng không tin cậy ai để chuyển được, ba tôi lại vài ba bận vào Sài Gòn thăm tôi, để chỉ trao tận tay tôi một số tiền lớn, rồi về.

Tôi thương cha vất vả kiếm tiền, vất vả tàu xe, không muốn phiền lụy cha nữa, tôi mon men ra chợ trời kiếm sống. Tôi trải một tấm ny-lông ở vỉa hè trong con hẻm nhỏ chợ Bàn Cờ bán ly, tách, chén, dĩa… Trước là bán đồ gia dụng của nhà rồi từ đó “nghề dạy nghề” tôi biết thu mua để bán kiếm lời. Chỉ vài đồng kiếm được trong ngày cho tiền chợ cũng giúp tôi vui, vì đó là đồng tiền mồ hôi nước mắt lần đầu tiên trong đời tôi kiếm được. Thế nhưng, lại chữ “nhưng” trớ trêu, cuộc đời tưởng như tìm thấy một chút ánh sáng dù chỉ là ánh sáng le lói cuối đường hầm, một lần nữa tắt ngúm bởi trận cuồng phong ập tới…

Từng toán thanh niên băng đỏ được lệnh tung ra làm sạch đường phố, càn quét hết tất cả những gian hàng lê lết vỉa hè. Một cuộc rượt bắt trông thực ngoạn mục. Còn tôi, ly bát chén dĩa nặng nề cồng kềnh thì chạy làm sao? Thế là, tôi bị hốt về phường cùng hàng hóa bị tịch thu với tội danh bán chợ trời mặc dù rõ ràng tôi ngồi buôn dưới đất! Ôi, chợ trời cũng là chợ đời, gặp thời buổi nhiễu nhương, tôi ngộp thở trong không khí lạ hoắc đầy gian trá… Cuối cùng, một lần nữa, tôi mất hết cả vốn lẫn lời, chỉ “thu” được một món “lợi” duy nhất nhớ đời là nhận chân rõ về cuộc sống.

Cụ Phan bắt đầu vay nợ để trang trải những chi tiêu càng lúc càng tăng nhất là về quà cáp, tàu xe, ăn tiêu… cho con cháu cụ.

Tôi buồn vì cô đơn, vì cuộc sống mịt mù, không lối thoát. Để khuây khỏa, và cũng đã nhiều năm rồi, dễ chừng gần sáu năm, từ khi rời miền Trung, tôi chưa một lần trở lại. Tôi xin phép cụ Phan về thăm cha mẹ, gia đình…

Có đáp chuyến xe đò ọp ẹp, thời đó chỉ có xe vậy thôi, với giá vé chợ đen cắt cổ, nếu không muốn tờ mờ sáng xếp hàng mua vé chính thức (chưa chắc đã có), tôi bùi ngùi nhớ lại ngày nào mới chuyển vào Sài Gòn tôi tha thướt trong chiếc áo dài tươi mát bước lên máy bay, mà giờ đây trở về trong bộ dáng “bụi đời” bước xuống tận cùng của cuộc sống. Rồi xót xa, tôi nghĩ đến ba tôi. Ba tôi cũng ngồi trên chỗ này đây với đầy mùi hôi nồng nặc của người, của khói xăng lẫn với phân gà vịt… Cũng với con đường đầy ổ gà, bụi bặm này đây, chiếc xe như muốn nứt tung bởi sức chứa quá tải của người với hàng hóa. Ngồi co ro ngủ gà ngủ gật suốt đoạn đường dài một ngày một đêm, tôi cảm thương cha tôi ở tuổi già xế bóng. Tôi chưa làm được gì để đáp đền công ơn sinh thành dưỡng dục, còn quấy quả cha cả lúc tôi đã có gia đình. Vì tôi, cha đã phải thay tôi “gánh vác cả giang sơn nhà chồng” mà đúng ra trách nhiệm là của tôi như lời cha từng căn dặn trước cũng như sau ngày cưới của tôi: “Con gái về nhà chồng, có bổn phận gánh vác giang sơn nhà chồng. Đừng khuân của của người ta đem về cho bố mẹ, để họ chửi bố mẹ, tức là báo hiếu cho bố mẹ đó”. Lời giáo huấn vẫn văng vẳng bên tai, tôi biết phải làm sao bây giờ khi trên vai tôi không có cái đòn gánh?!

Về đến quê nhà sau bao năm xa cách, lòng tôi như mở hội, như cánh hoa khô héo lâu ngày gặp cơn mưa mát. Tôi reo lên khi gặp người thân. Tôi xiết tay cha. Ôm choàng lấy mẹ. Quấn quít với chị cùng em. Bạn bè lối xóm thuở ấu thơ, nghe tôi về cũng chạy đến thăm. Chúng ríu rít nói cười mời tôi về nhà bày biện nấu nướng. Có đứa giỏi “mánh mung” kiếm được tiền mời tôi ăn tiệm nữa.

Nhưng rồi niềm vui hội ngộ cũng qua mau. Cuộc sống trở lại bình thường. Tôi hay ở nhà quây quần với gia đình hơn là theo bạn bè rủ rê ăn uống. Với lại tôi không có tiền. Ăn mãi của bạn cũng kỳ…

Thế rồi một ngày, tôi đang đứng ngó mong ra ngoài, bâng khuâng nhìn vạt nắng lung linh ngoài khung cửa sổ. Những tia nắng vàng óng ánh xuyên qua kẽ lá lấp lánh như những tia lăng tinh trông thật đẹp mắt. Bầy chim sẻ từng cặp rượt đuổi nhau, tíu tít chuyền từ cành này sang cành khác trên cây si trồng trước nhà rồi bay vút vào khoảng không gian vô tận. Tôi ước gì tôi cũng là cánh chim để bay mãi, bay mãi về một phương trời nào đó, tôi cũng không biết được để xa lánh cuộc đời hiện tại, nơi đó tôi được tự do, tôi được sống đời tôi muốn sống. Có bước chân đi nhẹ đến bên tôi. Tôi quay lại, thì ra ba tôi. Ba không nói gì, chỉ nắm tay tôi vạch 5 ngón tay tôi xòe ra, rồi đặt vào đó một cọc tiền. Tôi ngạc nhiên hỏi:

- Tiền gì vậy, ba?

Tôi cứ ngỡ ba đưa tiền để sai tôi mua vật dụng gì đó cho gia đình. Nhưng không, tôi trố mắt khi nghe ba nói:

- Ba cho con để đi chơi với chúng bạn!

Nói xong, ba bỏ đi, để tôi ngơ ngẩn nhìn theo, không kịp nói được lời nào, dù chỉ là hai chữ “cám ơn” ngắn ngủi.

Tôi nhìn lại cọc tiền, bất giác mủi lòng, không muốn khóc mà nước mắt cứ từng giọt trào ra. Những giọt nước mắt ân tình trong như pha lê nhẹ nhàng rơi xuống cọc tiền nhưng lại thấm sâu vào hồn tôi, len vào từng ngõ ngách. Tôi nghẹn ngào cảm động vừa thương cha vừa thương mình. Biết nói sao bây giờ, tôi chỉ biết in thật sâu vào tim óc hình ảnh, cử chỉ đáng yêu của cha và nguyện một ngày nào đó có cơ hội tôi sẽ đáp đền tình cha.

Tôi thăm gia đình, ở chơi một tháng rồi trở về lại Sài Gòn. Trước ngày tôi lên đường, ba tôi hỏi:

- Trong đó con còn tiền không?

Đã hết sạch, còn nợ nần chồng chất, nhưng lòng tự trọng cùng niềm yêu kính cha, không muốn cha lo lắng, tôi đáp:

- Dạ còn, ba ạ.

- Nếu còn, thì ba cho thêm chút ít.

Nói như thế, nhưng ba tôi vẫn cho nhiều. Ít, nhiều rồi cũng thế thôi. Với thời gian và cuộc sống này vẫn chỉ là những chuỗi ngày mờ mịt…

Về tới Sài Gòn, nhà vẫn luôn có khách. Món tiền ba cho lại chóng vánh tiêu hao. Đồ đạc trong nhà cũng không còn gì để bán. Cùng tất biến. Biến tất thông. Thông tất thái. Tôi nghĩ như vậy rồi nhen nhúm trong đầu tôi hai chữ “vượt biên” mặc dù ba tôi luôn căn dặn: “Cuộc sống có thế nào, đã có ba. Con không được vượt biên. Nguy hiểm lắm”. Nhưng tôi đã cãi lời cha, bằng mọi cách, một mình, tôi tìm đường ra đi với hai bàn tay …đen! Đen, được tôi định nghĩa chẳng những trắng tay còn mang theo hai món nợ: Món nợ ân tình của cha tôi, và món nợ bố chồng tôi vay thiên hạ, chưa trả. May mắn cho tôi, tôi vượt biên chỉ một lần là trót lọt.

Bây giờ thì tôi đang định cư tại Thụy Sĩ. Một đất nước hiền hòa, êm đềm, “nhỏ mà ngon”, nhờ ơn Trời Phật tôi hưởng ké phúc lộc của đất nước này. Chỉ hơi buồn vắng vẻ làm tôi hay nhớ quê hương nhất là nhớ ân tình của ba tôi.

Ba tôi vậy đó. Rất hiền lành, nhân từ, sâu sắc. Tình cảm trong ông không thể hiện bằng lời. Ông vốn ít nói, nhưng khi nói rất thâm thúy, khiến tôi thường suy gẫm và coi như… danh ngôn: “Trong cuộc sống của ba, ai đối xử với ba thế nào, ba biết. Ai lấy của của ba, ba cũng biết. Nhưng ba không nói, ba chỉ cười thôi. Ba cười vì ba thấy ba có phúc. Mình có phúc mới có của cho người ta lấy. Vô phúc mới đi lấy của của người ta. Vậy các con chọn đi. Làm người bị mấtcủa hay là người lấycủa”. Câu nói này làm tôi nhớ đến lời thuyết giảng của Thầy Thiện Huệ: “Thà làm người đẩy xe, còn hơn ngồi xe lăn cho người ta đẩy”. Hoặc một lần, do tuổi tác cao, với tư cách đại diện hội cao niên, ba tôi được nhà nước cộng sản mời tham dự cuộc họp tham khảo ý kiến dân, ba phát biểu làm người nghe phải ngẩn tò te: “Tôi nhận thấy nhà nước ta cái gì cũng giỏi, nói rất hay, hứa rất hay và làm gì cũng rất hay. Chỉ có điều, tôi thật đáng tiếc, nhà nước lại GIẤU dân. Tôi vào Nam, cả đời vất vả mới tạo nên tài sản, còn nhà nước mới thoáng chốc mà ai cũng có nhà cao cửa rộng, giàu có, thế sao không chỉ cho dân làm giàu với mà lại...giấu dân!”

Bây giờ ba tôi đã 96 tuổi. Da dẻ ba vẫn hồng hào tươi nhuận. Thời gian dường như luôn giữ ba ở mức tuổi 80. Hằng năm, tôi vẫn về thăm cha, lòng thật vui khi thấy cha khỏe mạnh vui cảnh điền viên tẩn mẩn như một vị sư thư thái nhẹ nhàng cầm chổi quét sân chùa, quét những chiếc lá khô túm vào một góc. Tẩn mẩn sửa lại hàng giậu của giàn mồng tơi, tỉa những chậu cây cảnh, rải thóc gạo nuôi chim… Có hôm, buổi sáng tôi còn ngủ nướng, ông đánh thức tôi dậy, bưng cho tôi một tô phở ăn liền có đầy đủ thịt bò, rau, giá… do chính ông nấu. Có lần cách đây 2 năm, khi ba tôi 94 tuổi, cũng buổi sáng khi tôi còn ngủ nướng, ông cũng đánh thức tôi dậy để sai tôi mua ít gia vị cho ông làm món gà hầm. Chao ôi, tôi không ngờ, từng tuổi đó, ba tôi có thể đun nước sôi, cắt tiết gà, lặt lông… rồi tẩn mẩn bày biện nấu món này món kia để đãi con gái. Tôi vừa mừng vừa cảm động. Mừng vì thấy cha còn minh mẫn. Cảm động vì tôi vẫn được cha cưng. Cha còn khoe với tôi tập hồi ký viết dở dang, nét chữ ngoằn ngoèo xiêu vẹo kể về cuộc đời gian truân của ông với hai bàn tay trắng lưu lạc từ Bắc vào Nam. Tôi cười, nói với cha: “Ba cố viết cho xong đi, đưa bản thảo cho con, con sẽ gởi đăng ở báo Viên Giác. Tuổi già động não cũng tốt. Vận động tay chân một chút cho thư giãn gân cốt cũng tốt. Nhưng với con, nếu ba nghỉ ngơi đừng làm gì hết vẫn tốt hơn”.

Trong phố, ba tôi được tiếng hào sảng, hay thương người, đóng góp rất nhiều trong công tác từ thiện. Ở tuổi 90, ông còn về Bắc đích thân trông coi xây cất từ đường gia tộc, tậu nghĩa trang cho dòng họ, tu bổ đình làng, miếu đền… Suốt đời của cha, ông luôn là người thích gánh vác với tinh thần trách nhiệm cao.

Còn tôi, tôi luôn nhớ ơn cha. Khắc cốt ghi tâm những tình cảm sâu đậm cha dành cho tôi. Và tôi cũng vui đã thực hiện tất cả nguyện vọng trong đời của cha coi như đền đáp phần nào công ơn sinh thành dưỡng dục và nhất là cha đã đến với tôi trong những tháng ngày tôi gian khổ cùng cực nhất.

Mỗi lần về Việt Nam, trước khi trở lại Thụy Sĩ, bắt chước cha ngày nào, tôi thường xiết tay cha, xòe 5 ngón tay cha ra và trang trọng đặt vào đó một phong bì như ngày nào cha đã đặt vào tay tôi để thấy niềm vui xôn xao ánh lên trong mắt cha không hẳn vì phong bì mà vì có một người con hiểu và giống mình.

Vu Lan 2010.




Ý kiến bạn đọc
06/02/201710:41
Khách
DDoc ma rung rung cam ddong.
Uoc gi dduoc ddoc hoi ky cua nguoi cha, Han co nhieu ddieu dde toi hoc.
Tran trong cam on tac gia, va rat ung ho y kien viet ve cha, vi dda co qua nhieu tac pham van, tho, nhac ca tung me.
30/06/201517:11
Khách
rat hay va cam dong. rat hanh phuc chuc mung chi co mot nguoi cha so mot. cam on chi viet ra va chia se voi moi nguoi. cau mong ba chi van thanh thang va song nhu ong tung song.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/02/2018(Xem: 11104)
Hỏi: Thế nào là tâm bị ô nhiễm ? Đáp: Tâm gồm hai phần chính là tâm và sở hữu tâm (tâm sở). Sự thấy biết cảnh thuần khiết gọi là tâm. Sự pha màu vào thấy biết cảnh thuần khiết làm nó biến dạng gọi là tâm sở. Cả hai tâm này đồng sinh, đồng diệt, đồng cảnh, đồng trú căn. Cho nên rất khó biết được tâm (thuần khiết) mà chỉ biết được tâm sở. (Tâm sở là tâm nhận diện cảnh theo chức năng riêng của nó, như tâm sở Tham có chức năng là khao khát cảnh, tâm sở Sân có chức năng huỷ diệt cảnh). Giống như đường hoà vào nước, người uống chỉ biết vị ngọt của đường mà không thế biết sự không vị của nước tinh khiết trong nước đường. Nước bản chất là H2O, nếu lẫn cặn thì gọi là nước đục, lọc cặn đi gọi là nước trong, nhưng bản chất nước là nước, không trong, không đục. Tâm cũng như vậy. Vì lẫn vào sự khao khát, ham muốn cảnh của tâm sở Tham nên gọi là Tâm Tham nên chẳng ai còn biết đến Tâm nữa, chỉ bị thu hút bởi Tham tâm sở mà thôi.
08/02/2018(Xem: 5887)
Nhân dịp qua Houston dự Đại hội Phượng Vỹ, một chị bạn đã rủ tôi về Florida chơi cho biết. Nghe đến Florida tôi đã hình dung ra một miền nắng ấm, cây cỏ xanh tươi và sóng biển rì rào như mời gọi khách phương xa. Mà thật vậy, con đường từ phi trường về nhà chị đã quá quyến rũ du khách bởi những hàng cây, những thảm cỏ xanh um, trải dài ra tận chân trời. Bước xuống nhà chị, tôi bàng hoàng vì phong cảnh quá đẹp, trước nhà là một bãi cỏ mượt như nhung với những hàng cây cọ cao thẳng tắp, đẹp như trong tranh vẽ làm tôi cứ đứng ngẩn ngơ như người từ trên rừng thượng du về. Đứng trước cổng nhà, tôi đã reo lên: - A! bông cẩn Huế đây! Thanh thanh năm cánh mỏng uốn cong về phía sau làm bông hoa như cái lồng đèn tròn nhỏ, ôm lấy dây nhụy vươn dài có những hạt phấn nhỏ li ti màu vàng; khác với bông cẩn tây, hoa lớn hơn, dày, nhiều cánh xoắn xít lấy nhau, tràn sức sống mà thiếu nét mềm mại, ẻo lã... rất Huế.
02/02/2018(Xem: 21568)
Báo Chánh Phap - số 75 - Giai Phẩm Xuân Mậu Tuất 2018
29/01/2018(Xem: 6816)
Quan hệ gắn bó Nghệ An – Quảng Nam không chỉ thể hiện ở mặt Văn học mà còn để lại những dấu ấn sâu sắc nơi Võ học. Bên cạnh các thầy Đồ Nghệ dày công vun đắp cho văn học Quảng Nam phát triển rực rỡ còn có các võ sư xứ Nghệ đã giúp cho nền võ học Quảng Nam trở nên lừng lẫy một thời với các võ sĩ “bất khả chiến bại” trên võ đài và đóng góp nhiều vào sự nghiệp chống ngoại xâm của dân tộc.
27/01/2018(Xem: 5462)
Tác phẩm “Thong Dong Khắp Mọi Nẻo Đường” chỉ dài khoảng 360 trang, nhưng chứa đựng rất nhiều tâm lực – đó là những suy nghĩ của tác giả Bạch Xuân Phẻ (Tâm Thường Định) từ nhiều năm đứng dạy trong trường học Hoa Kỳ và nhiều thập niên hoạt động trong cương vị Huynh trưởng Gia Đình Phật Tử. Đó cũng là những chiều dài địa lý, qua những đại dương trên địa cầu, những nơi tác giả đã đi thật xa trên đường tìm học Thiền và rồi cũng đi thật xa trên đường hoằng pháp. Nói như người xưa là, cuốn sách quý độc giả đang cầm trên tay đã được viết từ người cư sĩ đã đi mòn biết bao nhiêu đôi giày và đã ngồi mòn biết bao nhiêu bồ đoàn để thâm nhập Phật pháp, và rồi hoằng pháp.
20/01/2018(Xem: 7989)
Ngày nay trái đất đã thu hẹp lại, đó là nhờ phương tiện di chuyển và phương tiện thông tin. Người ở bên này trái đất có thể rất gần gũi với người ở bên kia trái đất, giống như hai người kề cận nói chuyện với nhau, như cùng một nhà hay hàng xóm láng giềng. Cho nên quan niệm xa-gần chỉ là tương đối. Ngày xưa mẹ tiễn con, em tiễn chị lấy chồng ở bên kia sông (sang ngang) coi như “nghìn trùng xa cách” với những câu ca dao nghe đứt ruột: Chiều chiều ra đứng ngõ sau. Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều. Ngày nay câu ca dao “gả chồng xa” được các màn hài kịch/chọc cười sửa lại rất vui và rất thấm thía như sau: Mẹ ơi đừng gả con xa. Gả con đi Mỹ, Con gửi đô-la mẹ xài. Xin nhớ Việt Nam cách Mỹ 19 giờ bay của máy bay phản lực, chứ không phải là chuyến đò qua bên kia sông. Như vậy tiền bạc và tình cảm đã làm cho xa thành gần và gần thành xa mà Phật Giáo cho rằng mọi chuyện trên cõi đời nay do Tâm mình tạo ra “Nhất thiết duy tâm tạo”. Cho nên mặc dù ở xa vạn dặm, chưa một lần gặp mặt, Thượn
19/01/2018(Xem: 5524)
Hôm nay, tôi hân hạnh được Hội Đồng Giám Khảo Giải Viết Về Đạo Phật của Viet Ananda Foundation ủy thác nói vài lời. Bản thân tôi không có gì đặc biệt, chỉ do cơ duyên trong 3 thập niên gắn bó với báo chí trong đạo và ngoài đời thường, và là một người luôn luôn hối thúc các bạn đạo phải tu, phải học, và phải cầm bút viết. Bởi vì, tôi thường nói với bạn hữu rằng hãy hình dung, nếu nhiều thập niên trước, không có sách của quý Thầy như Thích Nhất Hạnh, Thích Thanh Từ, Thích Minh Châu và nhiều vị khác, Đạo Phật bây giờ đã không phong phú như hiện nay.
17/01/2018(Xem: 6414)
Lễ Trao Giải Viết Về đạo Phật Ananda Viet Awards Lần Đầu, 3 Giải Chính, 5 Giải Khuyến Khích Tổng Trị Giá Các Giải Là 7000 MK
13/01/2018(Xem: 6243)
Đọc Thơ Tuyển của Cư sỹ Đào Văn Bình, Tình cờ chúng tôi có được tập sách Tổ Ấm Cuối Cùng, Thơ tuyển và Kịch bản, của cư sỹ Đào Văn Bình xuất bản năm 1987, gởi tặng cố Hòa thượng Thích Thiện Trì, chùa Kim Quang tại thủ phủ Sacramento, CA. Tập sách có hai phần: Phần 1 là Thơ tuyển mà tác giả cho biết là "Sáng tác ròng rã qua 9 năm lưu đày tù ngục và 1 năm phiêu linh qua các trại tỵ nạn". Phần 2 là Kịch bản Tổ Ấm Cuối Cùng (Sáng tác từ tại tỵ nạn Sungei Besi). Ở đây tôi chỉ viết cảm hứng của mình khi đọc vài bài thơ trong lúc bị tù đày của một cư sỹ lão thành luôn có tâm với đạo pháp và dân tộc.
12/01/2018(Xem: 5764)
Nhớ lại 3 năm trước, tôi đến Seattle vào một chiều Thu cuối tháng Mười. Vừa rời khỏi sân bay, cảm nhận đầu tiên của tôi đối với đô thị xa hoa có nhịp sống bận rộn này là cái se se lạnh của tiết trời đang độ giữa Thu. Trong tôi lúc đó vẫn còn nỗi bồn chồn lo lắng, tâm trạng của một người vừa xa quê, bước chân vào một đất nước xa lạ. Sự mát lạnh của khí trời như xoa dịu phần nào nỗi lo lắng trong tôi. Có lẽ đó là lý do vì sao tôi vẫn nhớ như in cảm xúc đầu tiên ấy, và dần dần, tôi nhận ra mình có cảm tình với mùa Thu ở Washington.