Tình yêu và thiền quán

10/03/201106:24(Xem: 4724)
Tình yêu và thiền quán

toa-thien

TÌNH YÊU VÀ THIỀN QUÁN

Tánh Thiện

         


Có những cuộc tính đã được xây đắp bằng con tim và cũng có những mối tình đã được xây dựng bằng lý trí. Bất cứ tình yêu nào cũng mầu nhiệm, thiêng liêng. Vì nó tuy hai mà cùng một nhịp diệu, cảm thông, hòa hợp trong cùng một thổn thức sau những giây phút dài im lặngcủa hai tâm hồn. Còn thiền quán là cái thấy, cái biết, cái cảm nhận của tình yêu. Nó cũng là sự hợp nhất của niềm vui và nổi khổ. Sự dung hòa hợp nhất đó tạo ra sự nhịp nhàng, hòa điệu và thăng bằng như hai cánh chim trên bầu trời cao đẹp.

               Tôi thấy có rất nhiều cuộc tình đã đổ vỡ trong đau thương, tiếc nuối, trong ngậm ngùi, đắng cay. Sự đổ vỡ đó có nguyên nhân của nó. Tôi cũng thấy có những mối tình rất trọn vẹn, đầm ấm, yêu thương trong từng hơi thở, bước đi và nụ cười. Sự trọn vẹn ấy do những nguyên nhân nào mà thành tựu? Hãy thử đi tìm những nguyên nhân đổ vỡ trong tình yêu và thành tựu trong thiền quán.

               Cái chính yếu của đổ vỡ trong tình yêu là thiếu thiền quán trong đời sống tình yêu. Khi tình yêu được khơi dậy bằng xác thịt thì sự mệt mỏi chán chường không sao tránh khỏi được. Thân xác của con người lúc mạnh, lúc yếu. Thân tâm của con người có luc lành, lúc suy. Nếu tình yêu nhằm để thỏa mãn cho nhau về xác thịt, thì đó là tình yêu của dục vọng tầm thường, của đam mê phù phiếm. Sự đổ vỡ từ đó mà ra, sự ê chề từ đó mà phát sinh. Có những liều thuốc để chữa những cơn bệnh trầm kha đó mà không cần phải nhờ đến toa thuốc của bác sĩ, cũng như không cần phải tốn kém bạc tiền. Toa thuốc đó đã có sẵn trong lòng của mỗi chúng ta. Chúng ta chỉ cần mở mắt ra để thấy, mở tâm ra để nhìn và mở lòng ra để đón nhận. thiền quán giúp cho ta thấy, biết và đón nhận một cách im lặng huyền diệu chan hòa.

               Cái thấy của thiền quán rất quan trọng trong đời sống tình yêu. Vì nhờ cái thấy đó, làm cho tình yêu thêm tươi mát, tươi thắm, và tươi đẹp giữa đất trời. Hạnh phúc hay đau khổ đều do TÂM ta tạo ra trong tình yêu. Tình yêu hạnh phúc là tình yêu thoát xác, thoát ly và thoát nợ với nhau. Tình yêu đó sẽ không còn sự bám víu, níu kéo, buộc ràng, gá nương, giả tạo. Hãy thắp sáng lên ngọn đèn thiền quán. Hãy thức dậy trong tình yêu và hãy bước đi bằng sự cô độc trong mỗi phút giây hiện hữu của cuộc đời. Tình yêu thành tựu trong thiền quán là đó.

               Thiền quán ví như người cha. Tình yêu ví như bà mẹ. Trong mỗi người chúng ta đều có hai giòng máu của mẹ và của cha. Chúng ta có tình yêu bên trong chúng ta. Tình yêu đó chính là ta, mà không phải người khác mang đến.

               Có những cuộc tình đã đổ vỡ. Có những mối tình đã chia tay. Có những cuộc vui đã mỏi mệt và có những cuộc đời đã đổi thay. Rồi tất cả sẽ còn lại những gì trong cuộc sống? Mỗi ngươi phải tự trả lời câu hỏi ấy bằng chính cuộc đời mình. Mỗi người phải tự chúng nghiệm câu hỏi ấy bằng con tim và lý trí của mình. Nếu bạn đã ngã một lần hay bảy lần trong cuộc sống yêu đương, thì thiền quán sẽ giúp bạn đứng dậy chín lần trong im lặng để bạn có thể thong thả tự do cô độc bước đi trên những đoạn đường còn lại của cuộc đời.

               Tôi muốn viết thêm điều này. Mỗi người chúng ta dù có tình yêu hay không, dù có thiền quán hay không, hay dù không có gì cả trong cuộc đời. Nhưng cuối cùng, mỗi chúng ta vẫn phải bước đi như kẻ lữ hành cô độc và mỗi chúng ta cũng chỉ là những người lữ khách, đến và đi trong âm thầm lặng lẽ giữa cuộc đời. Dù trái đất ngừng quay, dù hoa kia ngừng nở, dù mây trời tắt lặn, thì sự cô độc của mỗi người chúng ta vẫn còn mãi với thời gian và với không gian. Sự cô độc đó, là người bạn đồng hành tuyệt cùng nhất, là người yêu lý tưởng tuyệt diệu nhất trên mỗi con đường trở về của mỗi chúng ta.


 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/02/2021(Xem: 13368)
Chữ “chùa” thường dễ khiến người ta liên tưởng đến những… chữ khác như kinh-kệ-chuông-mõ-sư-sãi…Xa hơn, có thể gợi nhớ đến chữ… thơ (vì, tu sĩ và thi sĩ vốn là bằng hữu, trong truyền t
01/02/2021(Xem: 16787)
Vào năm 1990, một nhà sư trẻ đến thị xã Lagi – Bình Thuận, dừng bước bên con suối Đó vắng vẻ, cảnh quan đơn sơ, mộc mạc, cách xa trung tâm Lagi. Con suối có cái tên hơi lạ, tên nguyên sơ là suối Đá do chảy qua nhiều tảng đá to, sau này khi người Quảng đến định cư, đọc chệch thành “suối Đó”. Vị sư trẻ dựng một thảo am bên cạnh con suối, cao hứng đặt tên thảo am là chùa Đây, tạo thành một cái tên hay hay và lạ mà du khách đến một lần không thể nào quên “suối Đó – chùa Đây”. Sau này, thảo am nhỏ được trùng tu dần thành một ngôi chùa trang nghiêm và tĩnh lặng với cái tên mang lại cho người ta cảm giác an nhiên tự tại khi nhắc đến như hôm nay – chùa Thanh Trang Lan Nhã.
01/02/2021(Xem: 17736)
Ngôi chùa nhỏ với không gian yên tĩnh nằm bên dòng suối Đó giáp ranh giữa xã Tân Phước và phường Tân An, thị xã La Gi có cái tên rất thanh vắng, tịch mịch “Thanh trang lan nhã” . Chùa do một vị Đại đức tuổi trung niên làm trụ trì, nhà sư Thích Tấn Tuệ. Sư Tấn Tuệ tên thật là Đinh Văn Thành (SN 1960), quê ở làng Duy Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Ông quy y từ lúc còn nhỏ được đào tạo học hành chu đáo, đi lại nhiều nơi nên kiến thức sâu rộng.
01/02/2021(Xem: 20115)
Nói thiệt lòng, tâm trạng của tôi mấy ngày qua vô cùng... bất ổn, tinh thần có chiều xuống dốc, phần vì "thử thể bất an", phần vì chuyện đời có nhiều đột biến vào năm cùng tháng tận, đã bình thản đương đầu đối chọi bằng các phương pháp tu niệm hành trì, giữ niềm tin vững chãi, liên tục ra vào các chốn già lam để lễ Phật bái Tăng, tác nghiệp thi văn... nên chế ngự được nhiều chướng duyên nghịch cảnh, nhưng nghiệp duyên quá khứ vẫn còn đầy dãy, vẫn đến đó, vẫy tay cười chào như chế giễu, thử thách...
30/01/2021(Xem: 12353)
Thời gian gần đây có khá nhiều nhà văn quay về với đề tài lịch sử. Sự đi sâu vào nghiên cứu cùng những trang viết ấy, họ đã tái hiện lại một triều đại, hay một giai đoạn lịch sử với góc độ, cái nhìn của riêng mình. Tuy nhiên, không phải nhà văn nào cũng thành công với đề tài này. Gần đây ta có thể thấy, Hoàng Quốc Hải với hai bộ tiểu thuyết: Tám triều nhà Lý, và Bão táp triều Trần, hay Hồ Qúy Ly của Nguyễn Xuân Khánh…Và cách nay mấy năm, nhân kỷ niệm lần thứ 40, ngày thành lập Báo Viên Giác (Đức quốc) Hòa thượng Thích Như Điển đã trình làng cuốn tiểu thuyết lịch sử: Mối Tơ Vương Của Huyền Trân Công Chúa. Thật ra, đây là cuốn (tiểu thuyết) phân tích, lời bàn về lịch sử thì chính xác hơn.
19/01/2021(Xem: 46536)
Đức Phật Quá Khứ Tỳ Bà Thi 💐🌹🥀🌷🌸🏵️🌻🌼💮🍂🍁🌾🌱🌿🍃 💐🌹🥀🌷🌷🌸🏵️🌻🌼💮🍂🍁🌾🌱🌿🍃 Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng giảng: từ 6.45am, Thứ Ba, 07/07/2020 (17/5/Canh Tý) Giải thích Nghi Thức Đảnh Lễ Tam Bảo do Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Thủ (1909-1984) biên soạn và hành trì trong suốt cuộc đời của Ngài. Bài kệ số 16: ĐỨC PHẬT TỲ BA THI 💐🌹🥀🌷🌷🌸🏵️🌻🌼💮🍂🍁🌾🌱🌿🍃 Nhẫn nhục đệ nhất đạo Phật thuyết vô vi tối Xuất gia não tha nhân Bất danh vị sa môn. Nhất tâm đảnh lễ Quá khứ Tỳ Bà Thi Phật. (1 lạy) Phật dạy: Hạnh nhẫn nhục Là pháp tu thứ nhất, Pháp vô vi tột cùng. Cho nên người xuất gia Gây khổ não cho người, Thì không gọi “sa môn”. Một lòng kính lạy đức Phật Tì Bà Thi. (1 lạy) Youtube: Tu Viện Quảng Đức (TT Thích Tâm Phương, TT Thích Nguyên Tạng, Melbourne, Australia)
18/01/2021(Xem: 14300)
Trong cộng đồng nhân loại, bất cứ chủng tộc nào, có tinh thần độc lập, có ý chí tự cường, có lịch sử đấu tranh lâu dài thì chủng tộc đó nhất định có sáng tạo văn hóa để thích ứng với mọi hoàn cảnh địa lý, với những điều kiện thực tế để tự cường, sinh tồn và phát triển. Dân tộc Việt Nam là một chủng tộc có ngôn ngữ riêng biệt thuần nhất, có nền văn hóa nhân bản đặc thù, siêu việt và nền văn hóa này có khả năng chuyển hóa, dung hợp tinh ba của tất cả nền văn hóa nhân loại biến thành chất liệu sống và ý nghĩa sự sống bồi dưỡng cho sanh mệnh dân tộc mang tánh chất Rồng Tiên nẩy nở phát triển và trường tồn bất diệt trải dài lịch sử hơn bốn ngàn năm văn hiến kể từ khi lập quốc cho đến ngày nay. Đặc tánh Rồng Tiên, theo Hai Ngàn Năm Việt Nam Và Phật Giáo của Lý Khôi Việt, trang 51 giải thích: Rồng tượng trưng cho hùng tráng dũng mãnh tung hoành, Tiên biểu tượng cho thanh thoát cao quý, hòa điệu. Vì có khả năng chuyển hóa và dung hợp của nền văn hóa Việt Tộc (Chủng Tộc Việt Nam), dân tộc Việ
10/01/2021(Xem: 11602)
8 giờ tối mùa Đông Âu Châu nói chung, Thụy Sĩ nói riêng thật thê thảm. Trời tối đen, lạnh cóng, trên đường không bóng người qua lại. Đã vậy thêm dịch bệnh covid 19 kéo dài mấy tháng nay, mọi người bị giam hãm lâu ngày đã ê chề, nay thời tiết như thế càng ảm đạm thê thảm hơn. Vào mùa này, ngay cả người bản xứ còn than vãn, chán chường, huống chi người Việt tha hương buồn đến...thúi cả ruột! Gần nhà tôi có cái thung lũng tình yêu, gặp lúc thất tình, tuyệt vọng, có người còn nhảy xuống tự tử mắc công chính quyền sau này phải giăng lưới hứng họ! Nhưng chính trong không gian ảm đạm như thế càng tăng thêm sự ấm áp thân thương khi nhìn thấy, dù chỉ qua màn hình và nghe tiếng nói của vị đạo sư tôi hằng kính mến, không ai xa lạ, còn có nhân duyên quen biết từ mấy chục năm nay, đó là Hòa Thượng Phương Trượng Thích Như Điển. Thầy không ở đâu xa, hiện diện ngay trước mặt đây thôi xua đuổi hết bao cảm giác cô đơn lạnh lẽo nơi xứ người.
10/01/2021(Xem: 10728)
Đã lâu lắm rồi, từ lúc cơn dịch Covid-19 hoành hành đến giờ chúng tôi (Hoa Lan và Nhật Hưng) chưa được cùng nhau viết chung một đề tài về Phật pháp. Tưởng chừng ngòi bút sẽ rỉ mòn theo Covid, làm gì còn các khóa tu học mà viết bài tường thuật. Một nỗi buồn sâu lắng! Thế nhưng sáng nay, ngày thứ hai đầu tiên trong năm 2021 mùng 4 tháng giêng, nhận được tin nhắn khẩn cấp của Nhật Hưng qua Viber, phải gắn chương trình Zoom vào máy để tối nay lúc 8 giờ tối giờ Âu Châu nghe HT Sư Phụ giảng Pháp. Không cần biết Người sẽ cho mưa Pháp kiểu nào? Nghe lệnh là phải có mặt ngay, để chứng tỏ tinh thần Tứ Trọng Ân với Thầy Tổ.
09/01/2021(Xem: 14540)
“Tha Nhân Là Địa Ngục” (L’enfre, cest les autres/Hell is other people) là câu nói thời danh của triết gia Pháp Jean Paul Sartre. Trong vở kịch nhan đề Huis Clos (Cửa Đóng) tiếng Anh dịch là “Không lối thoát” (No Exit) và tiếng Việt có nơi dịch là “Phía Sau Cửa Đóng” trong đó mô tả ba nhân vật lúc còn sống đã làm nhiều điều xấu. Khi chết bị nhốt vào địa ngục nhưng không phải là “địa ngục” với những cuộc tra tấn ghê rợn về thể xác mô tả trong các tôn giáo, mà bị nhốt vĩnh viễn trong một căn phòng kín. Tại đây ba nhân vật bất đồng, cãi vã nhau- không phải vì cơm áo mà vì quan điểm, sở thích, cách suy nghĩ, tư tưởng, lối sống. Cuối cùng một người không sao chịu đựng được đã thốt lên “Tha nhân là địa ngục”. Câu nói này trở nên nổi tiếng và tồn tại cho tới ngày nay.