Một cuộc đời

20/01/201304:20(Xem: 4783)
Một cuộc đời



que huong
Một cuộc đời

 

(Riêng tặng Tâm Phương, em học trò cũ của tôi)

 

 

 

Cuộc đời bầm dập nổi trôi của một em học trò cũ đã thôi thúc tôi viết nên truyện này.

Người ta thường bảo „sông có khúc, người có lúc“ nhưng phải nhìn nhận cả cuộc đời của em đã phản ảnh lại nhận xét trên. Bao đau thương đã dồn dập lên đôi vai yếu ớt của em, nhiều lúc tưởng chừng như không còn gượng đứng dậy được nữa, nhưng em vẫn phải sống, vẫn phải đương đầu với mọi khổ đau tràn ngập vây quanh.

 

Ngày xưa em cũng là một nữ sinh má hồng môi thắm của trường Đồng Khánh, ngôi trường màu hồng ngập tràn hoa phượng trên các lối đi. Buổi sáng sớm mai cũng tung tăng đến trường, tóc con gái còn thơm mùi hoa cau hoa bưởi trong khu vườn trăng của đêm qua, trái tim vẫn còn đập những xao xuyến vì ước mơ! Con đường Lê Lợi đã mang nặng những bước chân đi về của những cô nữ sinh với mái tóc mây buông xõa, thẹn thùng với chiếc nón nghiêng nghiêng và em cũng như bao nhiêu người con gái mới lớn khác, cũng yêu thương và đắp xây mộng ước cho cuộc đời mai sau của mình. Rồi em đã gặp và yêu một chàng trai trong quân ngũ, họ đã thành hôn và đã có với nhau hai mặt con: một trai, một gái.

 

Lấy chồng được 4 năm, những tưởng dòng đời cứ êm xuôi mãi với gia đình bé nhỏ của em, nhưng rồi cơn bão táp 30.4.1975 đã làm tan nát biết bao gia đình. Chồng em cũng phải đi cải tạo như bao nhiêu người khác nhưng anh ấy lại là người bất khuất, không chịu cúi đầu nhịn nhục lũ Việt Cộng dã man, đã vùng lên chống đối lại và đã bị bắn chết trong ngục tù sau 3 năm bị giam giữ.

Nỗi đau đớn tưởng chừng như chết được, nghe như có những hạt sỏi lao xao đang nghiền nát trái tim khô héo nhưng em vẫn phải gắng sống để còn nuôi một mẹ già và 2 con.

 

Sau đó ba mẹ con đã làm đơn xin đi US theo diện HO vì chồng chết trong trại cải tạo. Hồ sơ nộp đã 10 năm trời vẫn chưa thấy một tia hy vọng nào lóe sáng! Cuộc sống quá khó khăn, em phải gom góp tiền bạc, lo đút lót chạy chọt để được đi lao động ở Đông Đức - giấc mơ này đã làm cho bao nhiêu người ao ước.

Kiếm được bao nhiêu tiền, em đều gởi về nuôi mẹ, nuôi con, giúp đỡ anh em nữa. Rồi bức tường Bá Linh sụp đổ, em được qua Tây Đức, sống một cuộc sống tự do và an bình. Tưởng rằng qua được đây là một chân trời mới mở rộng cho em, với đôi tay và khối óc, em sẵn sàng kiếm việc làm, cực nhọc bao nhiêu cũng cam lòng, chỉ mong sao kiếm được cho nhiều tiền để lo cho những người thân còn ở lại quê nhà. Không ngờ việc em qua Đức lại làm cản trở, thiệt thòi tương lai của 2 đứa con! Thật đúng là ở đời không làm sao tính trước được mọi sự việc; qua Đức được 2 năm, hồ sơ đi US lại được cứu xét. Nếu còn ở lại Việt Nam, 3 mẹ con em sẽ được qua US theo diện HO; nhưng đơn xin của 2 đứa con đã bị chính phủ US từ chối vì mẹ đã ở Đức, đã có nước Đức cưu mang rồi!

 

Chỉ có một điều an ủi là em đã về được thành phố München này, rất dễ kiếm việc làm, em đã ra sức làm việc để kiếm tiền nuôi mẹ nuôi con. Tôi vẫn thường khuyên nhủ em, thôi thì không được đi US cả 3 mẹ con nhưng em vẫn còn may mắn hơn bao nhiêu người khác là đã đến được bến bờ tự do, không phải lênh đênh trên biển cả, trong khi đó hàng trăm ngàn người đã chết ngoài biển khơi mịt mù!

 

Rồi em lại gặp được một người đã yêu thương em hết lòng, đó là anh Nguyễn. Anh Nguyễn vẫn còn độc thân, có công ăn việc làm vững chắc; dù biết rằng em đã có một đời chồng và hai con nhưng anh ấy vẫn một lòng yêu thương và xin cưới em. Em còn trẻ, hơn nữa qua xứ người một thân một mình bơ vơ cô quạnh, cuối cùng em đã nhận lời làm vợ anh Nguyễn Họ đã sống với nhau những tháng ngày thật hạnh phúc, anh Nguyễn đã chăm sóc, thương yêu lo lắng cho em từng ly từng tí. Ai cũng mừng cho cuộc đời em đã được đền bù xứng đáng, em đã có một nơi nương tựa vững chắc. Mỗi lần đi làm đều có chồng đón đưa, em đã sống những ngày mật ngọt, ấm êm.

     Nhưng rồi, cũng lại chữ „nhưng“ quái ác, anh Nguyễn lại bị bịnh và chỉ trong một thời gian ngắn, thật bất ngờ, anh ấy đã ra đi!

 

Nhận được điện thoại báo tin, tôi quá bàng hoàng sững sốt, không tin đó là sự thật; sao cuộc đời lại quá đắng cay nghiệt ngã đối với em như vậy?

Vội vã chạy đến nơi, chỉ còn thấy anh Nguyễn nằm bình yên như ngủ, trút bỏ lại đằng sau tất cả ưu tư phiền muộn của cuộc đời; còn em gục đầu bên xác chồng, đôi mắt vô hồn làm lòng tôi quặn thắt! Em như con đò nhỏ chao đảo giữa bão táp đại dương, niềm đau đang giày xéo tâm can, đôi vai rung lên theo nhịp thổn thức làm nước mắt tôi cũng tuôn tràn theo em.

Thôi hết, từ nay em lại trở thành một thân một mình, sao bao nhiêu khổ đau của cuộc đời này lại dồn hết lên đôi vai yếu ớt của em như vậy?`Tôi đứng sững như trời trồng, cổ họng khô cứng, tôi lo em sẽ không đủ sức chịu đựng muôn ngàn đớn đau như thế này!

Kể từ hôm đó tôi luôn luôn túc trực bên em, phụ giúp em lo ma chay; ngày đưa đám em lại muốn tôi là người điều khiển chương trình tang lễ, rồi 7 tuần cúng thất, tôi theo em lên chùa đều đặn.

Chỉ còn một mình, em không đủ sức trả tiền thuê hằng tháng cho căn nhà rộng mênh mông của 2 vợ chồng, đành phải kiếm một chỗ ở nhỏ hơn. Nhờ con tôi giới thiệu và đứng ra bảo lãnh nên đã thuê cho em được một căn hộ ở gần nhà tôi, chỉ cách một trạm xe U-Bahn nên rất tiện lợi cho em những khi tối lửa tắt đèn.

Ngày ngày, sau khi đi làm về, em tìm khuây khỏa bằng cách ra nghĩa trang thắp nhang cho chồng, ngồi bên mộ tỉ tê một hồi rồi mới chịu ra về. Nhiều khi chán nản cùng cực vì cô đơn quá, em muốn trở về Huế để ngồi yên dưới mái nhà xưa, bên mẹ bên con, nhưng em phải sống, phải làm việc hết mình để còn lo cho những người thân yêu đó. Đúng là em đã can đảm, đã có một sức mạnh, sức mạnh ấy là tình thương, là nước mắt hướng về quê nhà với một trái tim hiếu thảo và nhân hậu bao la!

 

Tôi biết niềm đau của em không ai chia xẻ nổi, trong tất cả những mất mát trên đời này, chỉ có mất tiền là nhẹ nhàng vì mình cũng có thể kiếm lại được, còn mất mát nào cũng đau đớn cả. Biết vậy nhưng tôi cũng phải an ủi khuyên lơn em, giúp cho em được việc gì tôi cũng không từ nan và em đã nhận tôi như một người mẹ thứ hai trên xứ người. Tôi cố hết sức đem lòng thương yêu của mình để xoa dịu trái tim tan nát của em được phần nào hay phần đó vì chỉ có tình thương mới hàn gắn bớt được mọi khổ đau của cuộc đời.

Là một Phật tử thuần thành nên em đã đặt hết niềm tin của mình vào phép Phật nhiệm mầu, tìm khuây trong lời kinh tiếng kệ. Lên chùa, quỳ trước Phật đài, nhìn bóng dáng từ bi của chư Phật, em cảm thấy tâm mình được bình an hơn. Tâm bình thì giọt sương đọng trên ngọn lá, tâm động thì giọt sương là nước mắt và tâm an nhiên tự tại thì giọt sương đó là hạt kim cương. Cổng tam quan của mỗi ngôi chùa không phải chỉ là cái mốc êm đềm trên một quãng đường học trò thời trẻ dại, hình ảnh ấy chính là nơi tu dưỡng và nơi tái tạo cuộc sống trong suốt cuộc hành trình viên miễn của kiếp nhân sinh và tiếng chuông chùa bồng bềnh dội vào những tầng mây cao như mời gọi lảng  khuây.

*

*     *

Chỉ có ánh sáng của Đạo Pháp mới mở lòng từ bi cứu độ chúng sanh cũng như vầng trăng có bao giờ thiếu vắng, vầng trăng ấy vẫn không ngừng đi tìm bóng tối để soi sáng vô minh. Từ đó, em đã biết tự mỉm cười với chính mình trong ý nghĩ: „Cơn bão nào rồi cũng qua“; những gì hiện hữu hôm nay rồi cũng sẽ tan theo vô thường, chợt đến rồi chợt đi mà thôi:

„Thiên thượng phù vân như bạch y“.

 

München....

Nguyên Hạnh HTD

Ý kiến bạn đọc
27/04/201500:22
Khách
Một câu chuyện buồn trong một khung cảnh bất an của một đất nước lắm nhiêu khê cìm nổi được tái tạo qua ngòi bút giản dị, trong sáng nhưng đấy ắp tình người và đạo lý của một người vưa là chị cả vừa là bạn hiền của tôi, chị Hoàng thị Doãn.
Em chúc chị luôn thanh an, vui khoẻ để tiếp tục công hiến cho bè bạn bốn phương những bài viết đậm đà như vầy mãi nghen chị,
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/12/2014(Xem: 5087)
Đêm đã khuya, sao tôi còn thao thức mãi! Cứ mỗi lần nhận được thư của những người bạn còn ở lại bên trời quê hương lận-đận là tôi nao cả lòng! Tất cả những thông tin về Huế làm cho tôi xúc động bâng khuâng! Tôi chỉ còn nửa mảnh đời ở đây, còn nửa mảnh đời vẫn gởi lại cho Huế. Buổi chiều với mảnh trời tím cũng gợi nhớ, buổi sáng với nắng cũng xôn xao, cũng không khuây khỏa nỗi rờn rợn Huế trong tim!
25/11/2014(Xem: 5808)
Có một “truyện cổ Khờ-me”, như sau:“- Ngày xửa, ngày xưa có ông vua, một đấng minh quân, cùng với mấy vị quan trọng thần rong thuyền ngoạn du sông nước. Trời nắng như đổ lửa, dòng nước ngược chảy xiết nên những người phu chèo đầm đìa mồ hôi, mặt mũi đỏ au, ráng tận sức lực để chèo đẩy con thuyền đi.
25/11/2014(Xem: 5879)
Tôi không nhớ đã đọc ở đâu câu nói này: Nếu không có gì quý giá để lại cho đời, thì ít nhất cũng đừng để lại một điều gì tệ hại. Khoảng trống đó cũng có thể gọi là một thứ di sản không tệ. Tôi nhớ đến câu nói đó, chỉ vì chiều nay đọc thấy trên Internet một tin nhỏ mà thú vị: Các nhà khoa học Anh quốc vừa phát minh một kiểu lò hỏa táng, được đặt tên Resomator, không khói, không tạo ra bất cứ khí độc nào có hại cho môi trường thiên nhiên và sức khỏe con người.
23/11/2014(Xem: 13056)
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi. Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên. ( Chinh Phụ Ngâm Khúc) Trong cuộc sống có những ân tình, nhưng vì hoàn cảnh, hay vì lý do nào đó không trả được, tôi ghi mãi trong lòng, ấp ủ sâu thẳm tận trái tim như báu vật để rồi một lúc nào đó chợt nhớ lại, trân trọng với lòng tri ân vô bờ bến.
22/11/2014(Xem: 5998)
Mùa thu dường như chưa qua mà gió đông đã về tới. Mặt trời mọc sớm nhưng ánh nắng vẫn không xuyên qua nổi những tầng mây xám trên cao và sương mù nặng trĩu trên những con đường nườm nượp xe cộ của thành phố. Thời tiết bắt đầu lạnh, hơn cả tuần nay. Người không nhà đứng co ro nơi hiên của một ngân hàng ở góc đường, chờ đợi kẻ từ tâm.
20/11/2014(Xem: 13086)
Tôi đã lớn lên cùng với những dòng Bát Nhã Tâm Kinh. Những lời sắc bất dị không đã nghe âm vang như tiếng mõ ban mai, như tiếng tim đập của những ngày vui và của những đêm buồn, như tiếng mưa rơi mái hiên trong những buổi chiều ngồi đọc thơ Nguyễn Du.
20/11/2014(Xem: 17080)
Vị trí địa lí và các sinh hoạt văn hóa kinh tế giữa Trung Quốc (TQ) và Việt Nam (VN) đã để lại nhiều dấu ấn trong ngôn ngữ theo dòng thời gian, nhất là khi Phật giáo (PG) du nhập vào Đông Nam Á và TQ. Phần này chú trọng vào các cách đọc (âm Hán Việt) của chữ 梵 phạn hay phạm trong các tài liệu cổ TQ và các dữ kiện tương ứng trong tiếng Việt. Các tài liệu viết tắt là TVGT (Thuyết Văn Giải Tự - khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), Tập Vận (TV/1037/1067), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), Tự Vị Bổ (TViB/1666), KH (Khang Hi/1716), HNĐTĐ (Hán Ngữ Đại Tự Điển/1986), Thiết Vận (ThV/601), Vận Kinh (VK/1161), VBL (Dictionarium Annamiticum-Lusitanum-Latinum,
19/11/2014(Xem: 7467)
Có người không hiểu Phật, than Phật giáo tiêu cực, nói toàn chuyện không vui. Từ đó Tăng ni chỉ được nhớ tới trong những ngày buồn như đám tang, cúng thất, cầu an cho người sắp đi. Rồi thì người ta còn đi xa hơn, xuống thấp hơn một tí, là khi nói đến Tăng ni là họ tưởng ngay đến những người mất sạch, một cọng tóc cũng không có. Thậm chí họ cho mình cái quyền châm chọc khiếm nhã khi nhìn thấy Tăng ni đâu đó. Một chuyện mà có uống mật gấu họ cũng không dám làm đối với những người thế tục cạo trọc.
17/11/2014(Xem: 24812)
Trên chuyến bay từ Paris đến Reykjavik, thủ đô Iceland, tôi không khỏi mỉm cười khi thấy trên màn hình giới thiệu du lịch có những từ “mindfulness” (chánh niệm), “meditation” (thiền), “here and now” (bây giờ và ở đây). Hôm trước cũng nghe một thiền sinh ở Làng Mai (LM) chia sẻ rằng cô thích thú khi nghe một nữ tiếp viên hàng không nói với khách: “Please have mindfulness to bring your luggage down…” (xin chánh niệm khi đưa hành lý xuống…). Thiền tập đã đi vào đời sống người châu Âu đến vậy, có phần ảnh hưởng khá lớn của LM.
16/11/2014(Xem: 5726)
Vẫn biết rằng ai sinh ra cũng có một quê hương để yêu dấu, để gắn bó, để tưởng nhớ khi chia xa. Tuy nhiên tôi luôn luôn có cảm nghĩ là người Huế sống và bộc lộ tình quê hương mãnh liệt hơn bất cứ người dân vùng nào khác chăng?