Thanh Thản đời hưu

14/01/201115:12(Xem: 4983)
Thanh Thản đời hưu


vo dai sinh 

Thanh thản đời hưu

 

Cách đây hơn một tuần, trong lúc chuẩn bị nấu nước pha trà buổi sáng, tự dưng lòng tôi nhớ quay quắt những chén trà năm xưa tôi đã từng chia sẻ với Thầy Tâm Phương trong những buổi sáng tĩnh lặng tại ngôi chùa nghèo Quảng Đức ở Broadmeadows. Tôi đã vội gọi Thầy Tâm Phương và hết sức may mắn Thầy vẫn còn nhớ tên tôi..dù rằng Thầy đã quên mất giọng nói quen thuộc của tôi rồi! Thầy rất mừng vì nghe được qua một số Phật tử  biết cuộc sống của tôi lúc nầy an nhàn lắm. Tôi thưa với  Thầy về cuộc đời  hưu của tôi mấy năm gần đây cũng như nói với Thầy là tôi thèm vô cùng được cùng Thầy nhâm nhi lại những chén trà xưa!

Đời hưu, nghĩ lại, có lẽ sướng thật, một đặc ân của tuổi già! Không có gì hết, không cần gì hết, không muốn gì hết. Hương vị... vô danh thật tuyệt vời!

Nói không phải khoe chớ cuộc đời tôi hình như đi từ thái cực này sang thái cực khác. Lúc nhỏ, cuộc sống cơ cực chắc chẳng ai cơ cực hơn. Bây giờ sống thảnh thơi... cũng chẳng ai thảnh thơi bằng! Thi sĩ Nguyễn Tuân có một câu thơ sáng tác khá lâu rồi... sao mà tiên đoán giống cuộc đời hưu hiện tại của tôi quá: "Cuộc đời vui quá..không buồn được"

Người xưa thường nói cuộc đời có đầy đủ "thư, điểu, thụ, ngư" là cuộc đời thần tiên. Quanh tôi giờ đã có đủ cả. Sách báo đủ loại, chim hót líu lo, cây xanh quanh nhà... lại điểm thêm những con cá vàng tung tăng bơi lội  trong hồ cạnh hòn non bộ chẳng thiếu gì!

Nói về chim, có một câu chuyện khá vui như thế này. Ở một nhà nọ có nuôi một con chim nhốt trong lồng mà hót ra rả suốt ngày. Tiếng hót ra rả đó được diễn dịch mỗi người một kiểu tùy theo tâm trạng, hoàn cảnh người nghe. Bà cụ nhà kế bên chép miệng "khổ chưa, khổ chưa". Lũ trẻ giởn ngoài rào lải nhải "ngộ không, ngộ không". Bà Tư buôn gánh bán bưng lại ganh tỵ "chi khổ, chi khổ" ... không làm gì như mày mà vẫn có ăn, tao tự nguyện biến thành chim! Riêng tôi, tiếng hót của bầy chim nhỏ cạnh nhà thủy tạ sau hè... nghe sao mà buồn ngủ quá! Mới đặt lưng xuống võng kẽo kẹt vài vòng, đọc mới vài hàng quyển sách... đôi mắt đã lim dim theo tiếng ngân nga quen thuộc của chim rồi.

Hồi xưa Mẹ tôi nói khi tôi còn học tiểu học, thầy bói đã nhìn bộ dạng lờ khờ của tôi mà phán rằng " lù khù có ông cù độ mạng". Qua đây, ở tuổi hơn 40, anh Nguyễn Ngọc Diệp xem tử vi tôi và lại phán " số cậu có quới nhân giúp đỡ". Mà thật vậy, về vườn tược, số tôi có cả ông cù độ mạng lẫn quới nhân giúp đỡ.  

Vườn trước nhà đã có anh Lâm Hữu Xưa khéo léo cắt tỉa gọn gàng .Còn vườn sau lại được anh Nguyễn Như Liên năn nỉ... xin làm giúp, có anh Nguyễn Nam Sơn theo vịn giúp vài ngày. Anh Sơn trước năm 1975 là thượng cấp của tôi. Còn anh Liên tôi được gặp một lần trước khi anh rời Melbourne về miền đất ấm Queensland, nhưng sau này trở nên thật gần gũi từ khi anh tình cờ đọc bài viết về Mẹ tôi . Anh Liên bây giờ với gia đình tôi hết sức thân thiết.. . Vợ tôi nhiều lần đã thì thầm lo lắng "sau này khi anh Liên không còn nữa, nhìn vườn hoa nhớ anh chắc khóc hết nước mắt".  Thoạt đầu chỉ dự định xây hòn non bộ với nước chảy róc rách sau nhà theo cố vấn của thầy phong thủy... nhưng khi tôi về Việt Nam sang lại thấy có thêm hai nhà thủy tạ với cây xanh rợp mát... khiến tôi hoa cả mắt và muốn về hưu ngay. 

Vườn tôi có khá nhiều loại cây, trồng dưới đất có, trong các chậu kiểng có...và có cả các cây lan treo cho hoa đủ hương đủ màu. Anh Lâm Thành Hổ lại còn ưu ái từ Sydney mang xuống tặng hai cây chuối con, bây giờ chuối ở nhà tôi đã có mấy bụi xanh um và mỗi năm cho gia đình tôi vài ba quày chuối ngọt lịm...treo lủng lẳng trong nhà thủy tạ.

Mới mấy năm sống đời hưu trí mà tôi đã có thói quen ngâm nga lúc nào không hay. Mỗi lần nghe tôi ngâm nga, chắc là vụng về, khó nghe lắm, vợ con tôi cười khúc khích, thế nhưng lòng tôi lại cảm thấy hết sức thanh thản, nhẹ nhàng!

Rằng xưa có kẻ từ quan

Lên non tìm động hoa vàng ngủ say...

Nếu bây giờ có ai hỏi tôi trong đời có điều gì luyến tiếc.. . chắc là tôi không chút do dự trả lời rằng 'về hưu quá trễ'. Sao lại để danh lợi buộc ràng đến hơn 60 tuổi mới đủ can trường về hưu! Đào Tiềm xưa đã có đắn đo gì đâu khi từ quan với câu nói bất hủ ' Chẳng lẽ ta đây chỉ vì 5 đấu gạo mà khom lưng cúi đầu mãi sao?'

Bài ' Qui khứ lai từ' ông sáng tác ở thời điểm đó được dịch lại thành thơ, nay đọc lại lòng vẫn cảm thấy lâng lâng:

Về đi sao chẳng về đi

Ruộng hoang vườn rậm, còn chi không về?

Đem tâm để hình hài sai khiến

Còn ngậm ngùi than vãn với ai?

........

Lối đi lạc chửa xa là mấy

Nay khôn rồi chẳng dại như xưa

Con thuyền thuận nẻo gió đưa

Gió hây hẩy áo, thuyền lơ lửng chèo

.......

Cuối cùng rồi, hãy bằng lòng với số phận mình. Cuộc đời tốt nhất là lúc về già giữ được hai tiếng bình an là may mắn lắm rồi.

Đàn chim cạnh nhà tôi vẫn bay lượn, vẫn hót ra rả quanh năm. Với tôi dù đó là tiếng kêu khổ chưa, khổ chưa, hay chi khổ, chi khổ... tôi không màng, miễn là nó đang hàng ngày giúp tôi tìm được sự thanh thản, an nhàn là đủ !  Tôi thật sự chẳng mong gì hơn.

 

Melbourne, mùa đông 2011
Võ Đại Sinh

(cùng một tác giả)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
29/07/2014(Xem: 5712)
Không đo không lường được tình thương, người ta thường lấy vẻ bao la của trời biển để tạm so sánh. Nhưng kỳ thực, trời và biển có những giới hạn, biên tế. Trời, vẫn chỉ là một vòm không gian hữu hạn trong tầm mắt con người; biển, là bốn đại dương trên mặt địa cầu; không thể nói là vô biên, vô lượng. Tình thương của cha mẹ dành cho con cái, thì khác: không giới hạn.
24/07/2014(Xem: 11453)
Xuất gia không phải là nghèo Xuất gia là để noi theo Phật Đà Xuất gia lý tưởng cao xa Xuất gia để khỏi bôn ba chợ đời Xuất gia điều tốt tuyệt vời Xuất gia có nghĩa xa rời thế gian Xuất gia giải thoát nhẹ nhàng Xuất gia tự tại muôn ngàn bình yên
19/07/2014(Xem: 16361)
¨ TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (Diệu Âm lược dịch), trang 3 ¨ THÔNG ĐIỆP CƯ TRẦN LẠC ĐẠO (TK. Thích Huyền Quang), trang 8 ¨ ĐẠO PHẬT VIỆT TK THỨ I VÀ THỜI KỲ BẮC THUỘC t.t. (HT. Thích Đức Nhuận), trang 9 ¨ BƯỚC XUỐNG TRẦN GIAN, DUYÊN NỢ (thơ Hàn Long Ẩn), trang 13 ¨ QUYẾT NGHỊ ĐẠI HỘI THƯỜNG NIÊN LẦN II, NHIỆM KỲ II (GHPGVNTNHK), trang 14 ¨ HÌNH ẢNH ĐẠI HỘI THƯỜNG NIÊN VÀ AN CƯ TẠI PHV QUỐC TẾ (Hophap.net), trang 16 ¨ PHỤC BÁI THƯỢNG VĂN (BHDTƯ GĐPTVN), trang 18 ¨ NIỀM VUI TU HỌC (HT. Thích Tín Nghĩa), trang 19 ¨ TRÁCH NHIỆM THUỘC VỀ BẠN (HT. Thích Trí Chơn dịch), trang 20 ¨ NGÀY ĐẦU AN CƯ CỦA PHẬT GIÁO TẠI HOA KỲ (Thích Minh Dung), trang 23 ¨ HÌNH ẢNH KHÓA TU HỌC PHẬT PHÁP BẮC MỸ LẦN IV (Hoavouu.com), trang 24 ¨ CHÉN TRÀ TÀO KHÊ (Thích Nguyên Tạng), trang 26 ¨ ĐỒI MÂY (thơ Lý Thừa Nghiệp), trang 28
17/07/2014(Xem: 10839)
Trong sự đi hoang nào đó của tư tưởng, cảm xúc, ngôn ngữ, thì bản chất của ngôn ngữ, âm thanh đều là vô thường, giới hạn, và không thật, vì nó không có thực tính độc lập, phải nương với nhau mà thành, nhờ vào căn, trần, thức mở lối nên mới hiện hữu. Người ta tạm định nghĩa, “ngôn ngữ chỉ là một công cụ” dùng để biểu đạt ý nghĩ, trạng thái tâm sinh lý để người khác nhận biết, thấu hiểu, cảm thông. Có nhiều dạng ngôn ngữ, ta có thể tạm chia ra làm hai, ngôn ngữ xuất phát ở bên trong (nội tính) và ngôn ngữ thể hiện ở bên ngoài (ngoại tính). Cho dù phát xuất từ đâu, một khi xử dụng nếu ta không có trí tuệ, chân thật, ái ngữ, lợi hành, lợi người, thì không khéo sự biểu đạt ấy, đôi khi lại là mầm mống, nguyên nhân của những hiểu lầm, ngộ nhận, xích mích, đáng tiếc khác.
24/06/2014(Xem: 5992)
Vào một buổi sáng thật đẹp trời của ngày 26 tháng 11 năm 2012, phái đoàn nhỏ của chúng tôi gồm Thượng Tọa Quảng Đạo (Chùa Khánh Anh, Pháp Quốc), tôi (Chùa Hương Sen, Hoa Kỳ) và vài nam nữ Phật tử nữa được Thượng Tọa Phổ Huân (Trụ trì chùa Pháp Bảo, Sydneys) đưa lên viếng cơ sở thứ hai của chùa Pháp Bảo là Tu viện Đa Bảo, tiểu Bang New South Wales, Úc Châu, và thăm Hòa Thượng Phương Trượng Chùa Viên Giác, Đức Quốc, đang nhập thất tại đây.
21/06/2014(Xem: 17403)
Chúng tôi, Nhóm Học Phật chùa Quang Nghiêm, gồm một số thân hữu và những huynh trưởng Gia Đình Phật Tử trong vùng có cơ duyên gần gũi và học hỏi cùng thầy trong nhiều năm qua. Nhân đó, chúng tôi được biết, Thầy là một cây viết thường xuyên trên tập san: THEO DẤU CHÂN XƯA của Phật học viện Huệ Nghiêm, SÀI GÒN trước 1975. Nhưng sau những đợt đốt sách của chính quyền Cộng Sản, THEO DẤU CHÂN XƯA không còn nữa. Càng gần Thầy, chúng tôi nhận thấy những gì Thầy dạy và viết thật thực tế và giản dị trong việc áp dụng Đạo Phật vào đời sống hằng ngày cho chúng ta. Chúng tôi không muốn có sự thất thoát như xưa, nên mạo muội sưu tập một số bài mà Thầy đã viết trong thời gian qua. Đây là một món quà tinh thần của Thầy mà chúng tôi đã rút ra những bài học bổ ích cho cuộc sống hàng ngày. Có một điều quan trọng nữa là bài học thân giáo của Thầy: phong cách hiền hòa và đức độ lan tỏa từ Thầy êm đềm như dòng sông Thu Bồn xứ Quảng. Trong bất cứ lúc nào, nếu có dịp, Thầy thường nhắc nhở: “Học Phật có n
16/06/2014(Xem: 48330)
Ngày ấy cách đây 50 năm về trước, vào một sáng đầu mùa hè của năm 1964, tôi một mình đạp xe đạp từ làng Mỹ Hạc, Xã Xuyên Mỹ, Quận Duy Xuyên, trực chỉ xuống chùa Viên Giác tọa lạc tại Hội An, Quảng Nam. Hôm đó là ngày Rằm Tháng 5 âm lịch của năm Giáp Thìn. Một chặng đường dài 50 năm như vậy, nói cho đúng là nửa thế kỷ của một kiếp nhân sinh- đã, đương và sẽ có nhiều điều đáng nói. Hay có, dở có, không như ý cũng có
14/06/2014(Xem: 18970)
Xưa có bầy khỉ nọ Lội xuống hồ vớt trăng Vớt mãi hoài không được Nên mặt mày.. nhăn nhăn.
10/06/2014(Xem: 10560)
Hai dì vãi chùa tôi tuổi đời đều đã trên 70. Về sự kính Ôn, trọng thầy, thương chú và đùm bọc điệu hai dì như nhau. Về sự siêng năng, chịu khó, tiết kiệm, giữ của cho chùa hai dì bằng nhau. Về vóc hình nhỏ nhắn hai dì giống nhau. Về chiều cao khiêm tốn hai dì ngang nhau. Thời Ôn (cố) còn sống, có mụ nhà quê lâu lâu mới lên thành phố tìm đến viếng chùa rồi gặp Ôn trú trì, sau khi đảnh lễ, mụ nói một câu tỉnh rụi về hai dì vãi chùa tôi: Ôn có “cặp sanh đôi” trông vui mắt, hí.
06/06/2014(Xem: 34222)
Thơ và Tạp Bút là tập sách mà chúng tôi kết hợp chia làm hai phần: Phần đầu là những bài thơ mà chúng tôi đã sáng tác sau khi tập thơ Hướng Dương ra đời. Phần hai là những bài viết rời rạc qua những chủ đề khác nhau. Chúng tôi kết hợp lại tất cả những bài viết đó để in chung trong tập sách. Chúng tôi đặt danh đề chung cho quyển sách là “Một Cõi Đi Về”. Vì chúng tôi thiết nghĩ, cõi đời có muôn vạn nẻo nhưng lối về nguồn chơn thì chỉ có một. Giống như trăm sông, ngàn suối tuôn chảy mỗi hướng có khác nhau, nhưng tất cả cũng đều chảy chung về biển cả. Nói cách khác, đứng về mặt hiện tượng sự tướng thì vạn pháp có ra muôn ngàn sai khác, nhưng bản thể thì chỉ có một. Đó là ý nghĩa của câu nói: “Vạn vật đồng nhứt thể hay vạn pháp quy nhứt”.