Tôi học tiếng Đức

23/09/201509:49(Xem: 5366)
Tôi học tiếng Đức
Germany

Tôi học tiếng Đức

NH – Hoàng Thị Doãn



Sau hai tháng ở trại tị nạn để hoàn tất các thủ tục giấy tờ, tôi được sở lao động cho đi học tiếng Đức trong 10 tháng.

Lần này tôi đi học không phải với tâm trạng „một sớm sương thu đầy gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm lấy tay tôi …“ cũng không còn dư âm của những tiếng trống trường xưa vẫn mãi còn vang vọng để lòng tôi lại thấy nao nao mỗi độ thu về mà tôi phải lầm lũi lội tuyết để đi trong băng giá lạnh lùng. Ôi, 10 tháng đi học cực hình như đi lao động khổ sai vậy. Tôi đã già rồi, đầu óc có còn chỗ trống đâu mà nhét chữ vào, nhất là cái thứ chữ hiểm hóc đó; nhưng nếu không chịu đi học thì lại càng khổ nữa, vừa dốt vừa lãnh tiền trợ cấp quá ít làm sao đủ sống! Sự kiểm soát những ngày đi học rất nghiêm ngặt, nghỉ học ngày nào trừ tiền ngày đó. Một ngày học 5 tiếng, quá sức nặng nề đối với tuổi già như tôi, vậy mà cũng phải cố gắng nhồi nhét được chữ nào mừng chữ đó, thật tội nghiệp cho thân tôi biết là bao!

Những ngày  còn ở lại Việt Nam, theo lời khuyên của hai đứa con ở Đức, tôi đã phải cố gắng đi học môn sinh ngữ này. Ngày đi buôn chợ trời, tối đi học ở trung tâm đêm, ngặt một nổi thứ tiếng này không mấy ai ưa nên học hết lớp 1 hoặc quá lắm đến lớp 2 là đa số bỏ cuộc. Tôi muốn học cho hết cuốn sách căn bản (lớp 4) cũng không có lớp nào học, đành tối về nhà tự học thêm lấy một mình!

Ngày đầu tiên khi đến trường sinh ngữ ở đây, tất cả phải qua một kỳ thi xếp lớp. Trước đó, tôi có hỏi ý kiến các con tôi là có nên bỏ giấy trắng để được xếp vào lớp vở lòng không vì tôi muốn học lại từ đầu, nhưng các con tôi không tán thành, cho rằng học như vậy phí quá so với sức học của tôi.

Cũng nhờ có học trước ở Việt Nam và nghe lời khuyên của các con nên khi vào thì tôi có làm được phần nào bài vở. Hai ngày sau đến xem kết quả, một mình tôi được lệnh là ngồi chờ ông Hiệu trưởng giải quyết, tôi hoang mang vô cùng, không biết sự việc gì sẽ xảy ra cho mình đây! Thì ra với bài trắc nghiệm đã làm, tôi được xếp vào một lớp có trình độ cao hơn các người quen đã cùng đi thi với tôi. Nghe vậy tôi sợ quá, năn nỉ xin cho tôi vào lớp 1 nhưng ông Hiệu trưởng cương quyết không cho, cũng bảo rằng học như vậy nó phí đi. Eo ôi, tôi bị đưa vào một lớp mà ông thầy giảng bài toàn tiếng Đức, tôi như người từ cung trăng rơi xuống, chẳng hiểu mô tê gì cả, đầu óc quay mòng mòng, cứ sợ ông Thầy kêu lên hỏi tôi biết trời trăng gì mà trả lời. Cuối giờ học, sợ quá tôi chạy đến văn phòng xin đổi lớp ngay. Ngày mai lại tôi được đưa vào một lớp tương đối có trình độ thấp hơn, nhưng khi bước vào thấy toàn mũi lõ mắt xanh tôi lại một phen hoảng hồn! Một mình tôi lạc lõng giữa những người xa lạ như vậy làm sao tôi không sợ được.

Sau một tuần học buồn và cô đơn quá, tôi lại xin cô giáo cho tôi về lại lớp có người quen của tôi nhưng cô giáo không bằng lòng. Cô bảo tôi phải học ở lớp này mới mong khá được, chứ về học với các bạn cứ nói tiếng Việt hoài làm sao giỏi tiếng Đức được. Thế là ngày đêm vò võ một mình, tôi cặm cụi học, hôm nào bài vở nhiều quá, tôi cho cả nhà ăn cơm với trứng luộc. Tôi phải cần cù kiên nhẫn để học, khổ sở vô cùng, học đâu quên đó. Vào lớp tôi sợ nhất là mục kể chuyện - mục này do một Thầy phụ trách - vốn liếng tiếng Đức của mình quá ít ỏi vậy mà một tuần phải một lần nghe đọc truyện và kể lại. Thầy đọc một đoạn rồi ngừng kêu một người kể lại, tôi run quá chừng, cứ sợ đến phiên mình không kể được thật ê cả mặt. Vào những giờ đó ước gì dấu được cái mặt mình xuống gầm bàn thật hạnh phúc vô cùng. Ông Thầy dạy lại quá nghiêm khắc, trong giờ học không cho lật từ điển, không cho xài tiếng Pháp hoặc tiếng Anh . Tôi luôn luôn dấu quyển tự điển dưới hộc bàn, chữ nào không hiểu lẹ lẹ lật ra và cũng chính vì vậy mà tôi đã cống hiên cho cả lớp một trận cười bò lăn bò càng, cười chảy cả nước mắt!

          Số là hôm đó Thầy giảng động từ FEDERN. Tôi không hiểu gì cả nên vội vàng cúi xuống lật từ điển ra. Sau khi tìm ra nghĩa của nó rồi, tôi tự tin ngồi khoanh tay trước mặt đợi Thầy gọi. Đúng như vậy, Thầy bắt tôi giảng nghĩa, tôi không đủ từ để diễn đạt và xin Thầy cho làm một ví dụ. Tôi đã đặt một câu với nội dung là „ Tôi đã làm mất lòng Fred“ (anh chàng ngồi bên cạnh tôi). Không hiểu sao khi vừa nói xong câu đó, cả lớp và Thầy cười ầm lên, có người không nín được phải nằm lăn trên bàn mà cười, còn tôi thì mang vẻ mặt „con nai vàng ngơ ngát đạp trên lá vàng khô“, hết nhìn người này đến nhìn người khác. Sau một trận cười thỏa thích, Thầy đã xin lỗi vì đã cười nhiều quá và cho phép tôi lật tự điển ra xem. Eo ôi! Các bạn ơi, thiên địa ơi! Thay vì nghĩa của nó là „làm mất lông“, tôi đã đọc ra „Làm mất lòng“!

Dần dà với thời gian, tôi kiên nhẫn học, chăm chỉ cần cù nên đã thấy tiến bộ, thật là một điều đáng mừng. Ngàymãn khoá, tôi đã nhận được một cái chứng chỉ với lời phê quá tốt đẹp mà chính tôi cũng không ngờ; tôi đã rưng rưng nước mắt trước sự cảm động của Ban Giảng Huấn. Cũng nhờ đó mà tôi đã vượt qua được nhiều khó khăn khi đi xin việc làm nơi cái xứ nặng đầu óc kỳ thị này.

Ngày nay, dù tiếng Đức của tôi có khá hơn trước, nhưng cũng không làm sao giỏi hoàn toàn như lòng tôi mong ước! Ngôn ngữ là cả một lẽ sống, nhiều khi muốn diển tả hết tất cả ý nghĩ của mình nhưng không đủ từ nên cứ ấm ức trong lòng mãi. Ra đi muộn màng quá nên đành chấp nhận sự thua thiệt của cuộc đời mình vậy!

Nguyên Hạnh - HTD
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/03/2015(Xem: 4782)
Cả thế giới đang nói về một ông già chín mươi mốt tuổi vừa nằm xuống. Nói với tất cả lòng kính phục và ngưỡng mộ: quốc phụ Lý Quang Diệu. Ông là người gốc Quảng đông, đã bốn đời trôi dạt đến hòn đảo bé nhỏ nằm giữa thủy đạo Ấn độ dương và Thái Bình Dương. Tổ phụ của ông, cũng như những người Quảng Đông ở Hội An, Ninh Hòa, Chợ Lớn, vì đất nước Trung Hoa loạn lạc đói nghèo phải bỏ xứ mà đi tìm đất sống. Ta có thể hình dung họ qua hình ảnh những người Tàu bán cóc ổi, mực khô lặng lẽ trước các cổng trường, những người ở dưới mức nghèo khó trong xã hội. Nghèo, nhưng họ là những người rất giàu nghị lực và ý chí. Đó cũng là cội nguồn làm nên ông, một con người có thể gọi là vĩ đại.
25/03/2015(Xem: 21562)
Thanh Lương là bút hiệu của Thích Thiện Sáng, một hành giả Thiền tông. Thế danh Trương Thượng Trí, sinh năm 1956, lớn lên bên dòng sông Cửu Long giữa trời thơ đất mộng An Giang. Bản chất thông minh, mẫn tuệ, vốn từ bi, hiếu thảo, có trực giác bén nhạy, ngay từ thời còn bé nhỏ đã có những biểu hiện khác thường như trầm tư, ưa đọc sách đạo lý suốt ngày, thích ăn chay và học hành ở trường lớp thì tinh tấn, luôn luôn dẫn đầu, xuất sắc.
20/03/2015(Xem: 6386)
Quyển sách thứ 64 nầy tôi bắt đầu viết vào ngày 6 tháng 6 năm 2014 nhằm ngày mồng chín tháng năm năm Giáp Ngọ tại thư phòng chùa Viên Giác Hannover, nhân mùa An Cư Kiết Hạ tại đây. Trong đầu đang dự định là mỗi năm sẽ viết một cuốn về nước Nhật, nước Đức, nước Úc, nước Mỹ v.v… để giới thiệu với quý độc giả xa gần, nhất là những vị nào chưa có cơ duyên đi và đến cũng như ở tại các nơi ấy nhiều năm tháng, thì đây là những quyển sách nhằm giới thiệu một khía cạnh nào đó dưới cái nhìn chủ quan của Tác giả, chưa hẳn đã đúng toàn diện. Tuy nhiên, muốn hoàn thành một việc lớn, không thể thiếu những ý niệm lúc ban đầu, dầu cho việc ấy có nhỏ nhiệm đến đâu đi chăng nữa, nhiều khi cũng là một vấn đề cần thiết.
11/03/2015(Xem: 23186)
Mai năm nay nở sớm trước Tết. Qua Tết thì những cánh hoa vàng đã rụng đầy cội, và trên cây, lá xanh ươm lộc mới. Quanh vườn, các nhánh phong lan tiếp tục khoe sắc rực rỡ giữa trời xuân giá buốt. Đêm đến, trời trong mây tịnh, vườn sau đón ngập ánh trăng, tạo một không gian huyền ảo lung linh. Đã không có những ngày xuân rực nắng, không có những đêm xuân ấm cúng tiếng đàn câu ca và những chung trà bằng hữu; nhưng chân tình của kẻ gần người xa, vẫn luôn tỏa sự nồng nàn, tha thiết. Cái gì thực thì còn mãi với thời gian thăm thẳm, vượt khỏi những cách ngăn của không gian vời vợi.
24/02/2015(Xem: 4794)
Em có thói quen cứ những ngày cuối năm thường thích lật những chồng thư cũ của bạn bè ra đọc lại, thích tìm kiếm dư âm của những chân tình mà các bạn đã ưu ái dành cho em. Lá thư của Chị đã gây cho em nhiều bâng khuâng xúc động và ngậm ngùi vô cùng vì đó là những nét chữ kỷ niệm của Chị còn lưu lại trên cõi đời này! Đúng vậy, Chị đã ra đi, bỏ lại đằng sau tất cả những ưu tư phiền muộn của cuộc đời và em đang đọc những dòng chữ của Chị đây.
12/02/2015(Xem: 23690)
Mơ màng cát bụi từ thuở nào mới mở mắt chào đời bên ghềnh biển Quy Nhơn rờn mộng ấy, thầy Đức Thắng sinh năm 1947, suốt một thời tuổi trẻ hay chạy rong chơi qua cánh đồng lúa xanh Phổ Đồng, bồng tênh mấy nẻo đường quê hương Phước Thắng ngan ngát cỏ hoa và thả diều tung bay trên bầu trời Tuy Phước lồng lộng bát ngát đầy trời trăng sao in bóng mộng sông hồ. Rồi lớn lên, thường trầm tư về lẽ đời vô thường sống chết, nên từ giã quê nhà, thao thức vào Nha Trang đi xuất gia theo truyền thống Thiền tông Phật giáo đại thừa. Sau đó vài năm chuyển vào Sài Gòn, tiếp tục con đường học vấn, tốt nghiệp Cao học Triết Đông phương và Phật khoa Đại học Vạn Hạnh trước năm 1975.
05/02/2015(Xem: 22339)
Thơ là gì ? Thi ca là cái chi ? Có người cắt cớ hỏi Bùi Giáng như vậy. Thi sĩ khề khà trả lời : “Con chim thì ta biết nó bay, con cá thì ta biết nó lội, thằng thi sĩ thì ta biết nó làm thơ, nhưng thơ là gì, thì đó là điều ta không biết.”* Tuy nói thế, nhưng suốt bình sinh trong cuộc sống, thi sĩ chỉ dốc chí làm thơ và sống phiêu bồng, lãng tử như thơ mà thôi.
04/02/2015(Xem: 56099)
Ước vọng của con người luôn là những gì tốt đẹp, sung túc và dài lâu, cần phải đạt được trong một tương lai gần nhất. Nói cách thực tế theo quán tính của người bình phàm, thì đó là hạnh phúc (phước), thịnh vượng (lộc), sống lâu (thọ). Với các chính trị gia, và những nhà đấu tranh cho dân tộc, cho đất nước, thì đó là tự do, dân chủ, nhân quyền. Với đạo gia thì đó là giải thoát, giác ngộ, và niết-bàn.
02/02/2015(Xem: 15370)
Vào thuở thịnh Đường, Lục tổ Huệ Năng ( 慧 能 638-713 ) sau khi đắc pháp với Ngũ tổ Hoằng Nhẫn ( 弘忍) và được truyền Y bát, nghe theo lời dạy của sư phụ phải ở ẩn một thời gian rồi sau mới ứng cơ giáo hóa. Ngài được Ngũ tổ đưa đến bến Cửu giang rồi chèo đò qua sông đi về phương nam, đến thôn Tào Hầu (曹候村), phủ Thiều Châu (韶州府) nương náu trong một am tranh. Lưu Chí Lược 刘志略 là một nhà Nho chưa biết ngài kế thừa Tổ vị, thấy ngài tu khổ hạnh khiêm cung, bèn hết lòng hộ trì. Ông có một người cô ruột là Thiền ni Vô Tận Tạng (無盡藏比丘尼) không rõ ngày sanh, chỉ biết bà mất vào năm 676 sau TL. Lúc ấy Lục tổ 38 tuổi.
25/01/2015(Xem: 8281)
Tuần vừa qua, một cuốn phim Đại Hàn ra mắt khán giả Paris, được khen ngợi. Báo Mỹ cũng khen. Tên của phim là : Xuân Hạ Thu Đông ... rồi Xuân (1). Không phải là người sành điện ảnh, đọc tên phim là tôi muốn đi xem ngay vì nên thơ quá. Xuân hạ thu đông thì chẳng có gì lạ, nhưng xuân hạ thu đông ... rồi xuân thì cái duyên đã phát tiết ra ngoài. Huống hồ, ở trong phim, xuân rồi lại xuân trên một ngôi chùa nhỏ ... trên một ngôi chùa nhỏ chênh vênh giữa núi non.