Lời mở đầu

14/05/201314:15(Xem: 16198)
Lời mở đầu
chung_toi_co_mat

Chúng Tôi Có Mặt


Lời Mở Đầu




Tôi viết tập truyện nhỏ này với niềm say mê thích thú chưa từng có. Một mình trên căn gác, suốt ngày tâm hồn đắm vào thế giới loài vật những cọp những beo, cáo, gấu, chìa vôi, bìm bịp, chèo bẻo... tôi tưởng như chúng đang chạy nhảy và đối thoại quanh tôi. Thật là những giờ phút kỳ diệu.

Viết xong từng đoan, đọc lại, cười. Như đọc văn của ai. Thích hơn khi viết về Người, bởi nghĩ rằng viết về Người đã có nhiều ngòi bút khác viết rồi. Ðằng này do mình tưởng tượng dựng ra thì hy vọng chúng mang trọn vẹn bản sắc của tâm hồn mình.

Một thú vị nữa là tôi để những con thú nói ngôn ngữ bình dân của địa phương tôi, thứ ngôn ngữ hàng ngày mà văn chương hay tránh. Tôi thương yêu và tôn trọng ngôn ngữ đó bởi nó phản ảnh nếp sinh hoạt tinh thần của bà con quanh tôi và sợ chỉ chừng vài ba thế hệ nữa là nó sẽ mất. Nó sẽ trở nên trí thức, sẽ không khác văn chương viết trên sách báo.

Những truyện loại này người ta quen gọi là Ngụ ngôn. Với tôi thì không hẳn đúng bởi tôi không có hậu ý dạy điều khôn dại mà chỉ muốn người đọc chơi vui với một thế giới hồn nhiên dể thương. Nhằm mục đích đó, mỗi truyện được dựng thành một màn kịch nhỏ. Cười xong, suy nghĩ một chút, nhẹ nhàng. Nếu thấy có một khuyết điểm nào đó giống của mình thì tự sửa hoặc đề phòng. Của người thì rộng lượng tha thứ.

Tôi không nỡ dùng chữ "Thế giới súc vật" để chỉ cái thế giới hồn nhiên này. Chữ "súc vật" đã bị loài người dùng làm lời mắng chửi, khinh miệt nặng nề. Cả ngay chữ "vật": loài vật, con vật... chỉ khi gọi đúng tên: Rắn, Trùn, Bọ Xít, Cọp, Heo..., họ mới bình đẳng với người. Vì những lẽ đó, tôi mong độc giả không gọi tập truyện này là "Truyện súc vật" mà coi nó như một kiểu Liêu trai chí dị một "Liêu trai tân chí" trong đó ma được thay bằng những con thú.

Hẳn nhiên loài vật không phong phú suy nghĩ như người. Nhưng khi cho chúng những suy nghĩ của người, ta sẽ yêu thương chúng hơn, đời ta giàu thêm bạn. Có những bà nói chuyện với chó mèo, có những ông nói chuyện với trâu bò như chúng hiểu được tiếng người. Mặt họ sáng rực phúc hậu, lúc đó.

Khen chê về cái Tốt và cái Xấu của loài người, điều đó không lạ. Mượn hình thức ngụ ngôn, điều đó không mới. Hiểu tâm lý người đời tới mức coi "Tính tốt nhiều khi chỉ là tính xấu trá hình"... thì ta sẽ không quá khen ai, cũng chẳng quá chê ai. Sẽ không nghĩ rằng tôi muốn ám chỉ ai qua những truyện này, bởi chính tôi tự biết mình có đủ tính xấu như mọi người, khác nhau chỉ ở độ nặng nhẹ mà thôi. Ngồi nhẩm lại Quá khứ, tôi thường ân hận vì những tính xấu, những khuyết điểm hơn là mãn nguyện vì những ưu điểm. Và luôn tự răn mình:

Khi nghe khen ai, tôi thấy tôi khó có cái Tốt của người đó.
Khi nghe chê ai, tôi thấy tôi dễ có cái Xấu của người đó và:
Khi được ai khen, tôi đem lời khen chia ba, nhận một.
Khi bị ai chê, tôi đem lời chê nhân ba, nhận đủ.

Một buổi sáng ngồi thử tìm cái tên cho tập truyện. Một mình trong cái "thư trai cô liêu", tôi để tâm hồn đắm trong thế giới muông thú cọp beo nai cáo... thân thiết. Không hiểu do dẫn khởi nào, tôi tưởng như mọi loài đang đứng trước Thượng Ðế, bình đẳng, và Ngài điểm danh:

- Loài người!
- Dạ... Dạ... Kính thưa... Dạ... chúng con xin kính hầu...
- Loài vật!
- Chúng tôi có mặt.

Tôi mượn câu sau đó đặt tên truyện "CHÚNG TÔI CÓ MẶT", câu trả lời dõng dạc mà vẫn khiêm cung thuần nhã biết bao.

Nha Trang, tháng chín năm 1972
Võ Hồng
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/03/2015(Xem: 4709)
Cả thế giới đang nói về một ông già chín mươi mốt tuổi vừa nằm xuống. Nói với tất cả lòng kính phục và ngưỡng mộ: quốc phụ Lý Quang Diệu. Ông là người gốc Quảng đông, đã bốn đời trôi dạt đến hòn đảo bé nhỏ nằm giữa thủy đạo Ấn độ dương và Thái Bình Dương. Tổ phụ của ông, cũng như những người Quảng Đông ở Hội An, Ninh Hòa, Chợ Lớn, vì đất nước Trung Hoa loạn lạc đói nghèo phải bỏ xứ mà đi tìm đất sống. Ta có thể hình dung họ qua hình ảnh những người Tàu bán cóc ổi, mực khô lặng lẽ trước các cổng trường, những người ở dưới mức nghèo khó trong xã hội. Nghèo, nhưng họ là những người rất giàu nghị lực và ý chí. Đó cũng là cội nguồn làm nên ông, một con người có thể gọi là vĩ đại.
25/03/2015(Xem: 21335)
Thanh Lương là bút hiệu của Thích Thiện Sáng, một hành giả Thiền tông. Thế danh Trương Thượng Trí, sinh năm 1956, lớn lên bên dòng sông Cửu Long giữa trời thơ đất mộng An Giang. Bản chất thông minh, mẫn tuệ, vốn từ bi, hiếu thảo, có trực giác bén nhạy, ngay từ thời còn bé nhỏ đã có những biểu hiện khác thường như trầm tư, ưa đọc sách đạo lý suốt ngày, thích ăn chay và học hành ở trường lớp thì tinh tấn, luôn luôn dẫn đầu, xuất sắc.
20/03/2015(Xem: 6306)
Quyển sách thứ 64 nầy tôi bắt đầu viết vào ngày 6 tháng 6 năm 2014 nhằm ngày mồng chín tháng năm năm Giáp Ngọ tại thư phòng chùa Viên Giác Hannover, nhân mùa An Cư Kiết Hạ tại đây. Trong đầu đang dự định là mỗi năm sẽ viết một cuốn về nước Nhật, nước Đức, nước Úc, nước Mỹ v.v… để giới thiệu với quý độc giả xa gần, nhất là những vị nào chưa có cơ duyên đi và đến cũng như ở tại các nơi ấy nhiều năm tháng, thì đây là những quyển sách nhằm giới thiệu một khía cạnh nào đó dưới cái nhìn chủ quan của Tác giả, chưa hẳn đã đúng toàn diện. Tuy nhiên, muốn hoàn thành một việc lớn, không thể thiếu những ý niệm lúc ban đầu, dầu cho việc ấy có nhỏ nhiệm đến đâu đi chăng nữa, nhiều khi cũng là một vấn đề cần thiết.
11/03/2015(Xem: 23000)
Mai năm nay nở sớm trước Tết. Qua Tết thì những cánh hoa vàng đã rụng đầy cội, và trên cây, lá xanh ươm lộc mới. Quanh vườn, các nhánh phong lan tiếp tục khoe sắc rực rỡ giữa trời xuân giá buốt. Đêm đến, trời trong mây tịnh, vườn sau đón ngập ánh trăng, tạo một không gian huyền ảo lung linh. Đã không có những ngày xuân rực nắng, không có những đêm xuân ấm cúng tiếng đàn câu ca và những chung trà bằng hữu; nhưng chân tình của kẻ gần người xa, vẫn luôn tỏa sự nồng nàn, tha thiết. Cái gì thực thì còn mãi với thời gian thăm thẳm, vượt khỏi những cách ngăn của không gian vời vợi.
24/02/2015(Xem: 4736)
Em có thói quen cứ những ngày cuối năm thường thích lật những chồng thư cũ của bạn bè ra đọc lại, thích tìm kiếm dư âm của những chân tình mà các bạn đã ưu ái dành cho em. Lá thư của Chị đã gây cho em nhiều bâng khuâng xúc động và ngậm ngùi vô cùng vì đó là những nét chữ kỷ niệm của Chị còn lưu lại trên cõi đời này! Đúng vậy, Chị đã ra đi, bỏ lại đằng sau tất cả những ưu tư phiền muộn của cuộc đời và em đang đọc những dòng chữ của Chị đây.
12/02/2015(Xem: 23463)
Mơ màng cát bụi từ thuở nào mới mở mắt chào đời bên ghềnh biển Quy Nhơn rờn mộng ấy, thầy Đức Thắng sinh năm 1947, suốt một thời tuổi trẻ hay chạy rong chơi qua cánh đồng lúa xanh Phổ Đồng, bồng tênh mấy nẻo đường quê hương Phước Thắng ngan ngát cỏ hoa và thả diều tung bay trên bầu trời Tuy Phước lồng lộng bát ngát đầy trời trăng sao in bóng mộng sông hồ. Rồi lớn lên, thường trầm tư về lẽ đời vô thường sống chết, nên từ giã quê nhà, thao thức vào Nha Trang đi xuất gia theo truyền thống Thiền tông Phật giáo đại thừa. Sau đó vài năm chuyển vào Sài Gòn, tiếp tục con đường học vấn, tốt nghiệp Cao học Triết Đông phương và Phật khoa Đại học Vạn Hạnh trước năm 1975.
05/02/2015(Xem: 22191)
Thơ là gì ? Thi ca là cái chi ? Có người cắt cớ hỏi Bùi Giáng như vậy. Thi sĩ khề khà trả lời : “Con chim thì ta biết nó bay, con cá thì ta biết nó lội, thằng thi sĩ thì ta biết nó làm thơ, nhưng thơ là gì, thì đó là điều ta không biết.”* Tuy nói thế, nhưng suốt bình sinh trong cuộc sống, thi sĩ chỉ dốc chí làm thơ và sống phiêu bồng, lãng tử như thơ mà thôi.
04/02/2015(Xem: 55781)
Ước vọng của con người luôn là những gì tốt đẹp, sung túc và dài lâu, cần phải đạt được trong một tương lai gần nhất. Nói cách thực tế theo quán tính của người bình phàm, thì đó là hạnh phúc (phước), thịnh vượng (lộc), sống lâu (thọ). Với các chính trị gia, và những nhà đấu tranh cho dân tộc, cho đất nước, thì đó là tự do, dân chủ, nhân quyền. Với đạo gia thì đó là giải thoát, giác ngộ, và niết-bàn.
02/02/2015(Xem: 15181)
Vào thuở thịnh Đường, Lục tổ Huệ Năng ( 慧 能 638-713 ) sau khi đắc pháp với Ngũ tổ Hoằng Nhẫn ( 弘忍) và được truyền Y bát, nghe theo lời dạy của sư phụ phải ở ẩn một thời gian rồi sau mới ứng cơ giáo hóa. Ngài được Ngũ tổ đưa đến bến Cửu giang rồi chèo đò qua sông đi về phương nam, đến thôn Tào Hầu (曹候村), phủ Thiều Châu (韶州府) nương náu trong một am tranh. Lưu Chí Lược 刘志略 là một nhà Nho chưa biết ngài kế thừa Tổ vị, thấy ngài tu khổ hạnh khiêm cung, bèn hết lòng hộ trì. Ông có một người cô ruột là Thiền ni Vô Tận Tạng (無盡藏比丘尼) không rõ ngày sanh, chỉ biết bà mất vào năm 676 sau TL. Lúc ấy Lục tổ 38 tuổi.
25/01/2015(Xem: 8228)
Tuần vừa qua, một cuốn phim Đại Hàn ra mắt khán giả Paris, được khen ngợi. Báo Mỹ cũng khen. Tên của phim là : Xuân Hạ Thu Đông ... rồi Xuân (1). Không phải là người sành điện ảnh, đọc tên phim là tôi muốn đi xem ngay vì nên thơ quá. Xuân hạ thu đông thì chẳng có gì lạ, nhưng xuân hạ thu đông ... rồi xuân thì cái duyên đã phát tiết ra ngoài. Huống hồ, ở trong phim, xuân rồi lại xuân trên một ngôi chùa nhỏ ... trên một ngôi chùa nhỏ chênh vênh giữa núi non.