Giác Ngộ

18/01/201506:18(Xem: 6640)
Giác Ngộ

Tao Tau_HoangLan (5)

     Cô công chúa trẻ nhất của lãnh chúa đang du hành từ nhà cô ở Kyoto tới thủ đô ở Edo thì trông thấy một người đàn bà bé nhỏ nằm bên vệ đường. Cô công chúa ra lệnh cho đoàn tùy tùng của mình ngừng lại và đỡ bà già lên, bà này gần chết vì lạnh lẽo và đói khát. Cô công chúa đã cứu sống người đàn bà và khi người khách này của cô đủ mạnh mẽ để có thể tự đi một mình, công chúa tặng cho bà ít tiền và chiếc khăn quàng ấm áp của cô.

     Người đàn bà biết ơn, trao cho công chúa một gói nhỏ và nói: “Xin nhận cái này.”

     Công chúa hỏi: “Đây là vật gì thế?”

     “Một cái gương thần kỳ.”

     “Cái gì khiến nó thành thần kỳ vậy?”

     “Nó sẽ cho cô thấy cái bản chất thật sự của cô,” người đàn bà nói thế rồi bỏ đi.

     Công chúa chẳng nghĩ ngợi gì về món quà, để nó qua một bên cho tới khi cô đến thủ đô. Khi dỡ hành trang sau chuyến đi cô mở túi sách và nhìn vào tấm gương cô há hốc mồm vì ngạc nhiên.

     Cái mà cô thấy là một con công xòe cả bộ lông và nhận ra màu tím của cái đuôi con công giống y như màu hoàng gia của riêng cô. Cô kinh hãi vội bỏ cái gương thần vào trong hộp đựng nữ trang của cô rồi khóa lại và cố xua đi những cái mà cô vừa thấy ra khỏi tâm trí mình. Tuy thế, ngay khi bước vào trong cung điện, dù cho nghe được những lời tán dương, công chúa vẫn không thể xua hết đi khỏi đầu óc mình cái hình ảnh con công.

     Công chúa buồn bã suy nghĩ mãi về bản thân mình, thấy mình chỉ là một con chim phù phiếm, hão huyền và cuối cùng cô nhận được ra rằng cái gương đã nói lên sự thật. 

     Mặc cho thân phụ cô phản đối, cô thoái vị khỏi địa vị vương giả của mình và vào một Thiền viện dành cho các nữ tu, tại đó cô nhanh chóng thăng tiến lên một địa vị cao - một địa vị được trao vì cấp bậc và sự thông tuệ của cô.

     Ngày cô nhậm chức trụ trì, cô lại nhìn vào cái gương thần kỳ và cô thấy một con chim đại bàng bay vút lên bầu trời cao, vượt hẳn mọi chim khác. Công chúa lại thấy bối rối.

     “Ta tìm kiếm địa vị cao sang trong đây để làm vui lòng thân phụ ta chăng?” cô tự hỏi lòng. “Lẽ nào đến khi lìa trần ta cũng không đạt được sự giác ngộ?”

     Cô thấy tất cả mọi sự thành đạt của cô đều giả tạm vì cái hình ảnh chim đại bàng bay cao vượt trội trên bầu trời cứ mãi ám ảnh và cho biết là cô đang vượt lên cao trên tất cả. Khi nhiệm kỳ trụ trì của cô mãn hạn, cô chuyển qua một mái lều đơn sơ, nơi đó cô có thể tọa thiền và đi khất thực để sống.

     Cô già đi và trở thành một bà già khiêm tốn. Bà học hạnh từ bi. Bà được mọi người sùng kính và thương yêu, tuy nhiên bà vẫn chưa đạt được giác ngộ.

     Một buổi sáng, về cuối cuộc đời của bà, một cơn bão tố thét gầm thổi qua túp lều của bà, đồ đạc bị liệng ra tứ tung. Khi đi thâu lượm về, bà tìm được chiếc gương thần kỳ mà bà tưởng đã bị cuốn mất luôn. Cô công chúa thuở xưa nhìn thẳng vào trong tấm gương và thấy:


     …một bông hoa màu tím cùng với cả rễ của hoa, có đất bao ở quanh rễ và nước làm ẩm đất, màu xanh của toàn trái đất, ngay chính cả trái đất, cả thái dương hệ và vũ trụ, và bao gồm tất cả - Tâm Phật vĩ đại.


     Bà nói: “Giờ đây ta có thể yên ngủ yên rồi.” 

 

 

Tâm Minh Ngô Tằng Giao

(trích dịch “ZEN FABLES FOR TODAY”

của Richard McLean.)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/10/2010(Xem: 3879)
Đạo Phật dùng Trí-tuệ để làm một trong vô lượng phương tiện độ sanh, một phương tiện có thể nói là thù thắng để tự độ và độ tha, nên hàng xuất gia phải lấy trí tuệ làm sự nghiệp. Đạo Phật không chủ trương dùng thần thông để hóa độ, vì ngoại đạo cũng xử dụng thần thông được. Đức Phật muốn chúng sanh, tự mình giải thoát lấy mình, nên cổ đức mới nói : “Phật vì một đại sự nhân duyên mà xuất hiện nơi đời. Đó là : “Khai thị chúng sanh, ngộ, nhập, Phật tri kiến”, hơn nữa thần thông chỉ là kết quả của thiền định, nói thiền định sanh trí tuệ, nhưng kẻ không có trí tuệ thì không thể tu tập thiền định được, nên Đức Thế Tôn dạy hàng đệ tử lấy trí tuệ làm sự nghiệp. Trong Kinh Di Giáo Đức Phật dạy : “Ta như vị lương y biết bịnh mà nói thuốc, còn uống hay không, không phải lỗi của lương y. Lại như người chỉ dẫn đường tốt cho người, nhưng nghe rồi mà không đi, thì không phải lỗi của người dẫn đường”
11/10/2010(Xem: 16043)
Nguyên-thỉ hay cận-đại Phật-giáo vẫn là Phật-giáo, nghĩa là vẫn có mục-đích giải-thoát diệt khổ, vẫn tôn trọng sự sống và chân-lý, vẫn chủ trương từ-bi tế-độ.
08/10/2010(Xem: 8108)
A-hàm còn gọi là A-cấp-ma, A-hàm-mộ. Hán dịch: Pháp quy, nghĩa là nơi quy thú của muôn pháp (Bài tựa KINH TRƯỜNG A-HÀM), còn dịch là "Vô tỷ pháp"...
06/10/2010(Xem: 25906)
Ngày nay, khái niệm An cư kiết hạ không còn xa lạ với những người đệ tử Phật. Theo Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma (q.4) giải thích nghĩa lý an cư như sau: “Thân và tâm tĩnh lặng gọi là an. Quy định thời gian ở một chỗ gọi là cư”.
03/10/2010(Xem: 7409)
Giáo lý đạo Phật được xem là một nền giáo lý thực nghiệm, nhằm giải quyết những vấn đề về con người, đưa con người thoát khỏi những khổ đau trói buộc...
27/09/2010(Xem: 5291)
Không thể định nghĩa về Không, mà chỉ có thể gợi ý rằng Không không thể là đối tượng của tư duy ngã tính (nhị duyên), mà là thực tại như thực của sự thể nhập...
20/09/2010(Xem: 6096)
Đây là bốn phạm trù tâm thức rộng lớn cao thượng không lường được phát sinh từ trong thiền định khi hành giả tu tập trong tự lợi và, lợi tha khi đem chúng ra ban vui cứu khổ...
31/08/2010(Xem: 9583)
"Niệm Phật, niệm Pháp niệm tăng, nhằm tự nhắc nhở mình, không làm các việc ác, siêng làm các việc lành, tâm luân hướng thượng. Khi nhớ nghĩ đến ba điều cao thượng trên, các tâm lý bất thiện như tham, sân, si không có cơ hội phát sinh,các ý niệm thuần thiện sanh khởi,hiện tại sống an lành, chân chánh." (Kinh Trung Bộ).
28/08/2010(Xem: 8340)
Ngay cả trong thời đại văn minh khoa học, xã hội phát triển theo xu hướng hội nhập toàn cầu, thì định hướng trung tâm của tính cách con người vẫn có phần thuộc đời sống hướng nội và phần thuộc đời sống hướng ngoại mà Phật giáo Thiền gọi là nội quán và ngoại quán, bao gồm trong Tứ niệm xứ với các đề tài thiền quán về thân, thọ, tâm, và pháp, theo đó, thân thì bất tịnh, thọ mang lại khổ đau, tâm thì vô thường, và pháp vốn vô ngã. Từ các pháp quán, con người có thể đứng về mặt nhận thức luận để biết bản chất cuộc đời, rồi từ đó, đứng về mặt đạo đức học, con người có những hành động phù hợp với nhận thức.