Tánh Không (Suññatā)

08/10/201406:54(Xem: 6899)
Tánh Không (Suññatā)

 01ducp04

 


Tánh Không (Suññatā)






 

Một số cư sĩ Phật giáo Nam tông thường hỏi tôi về tư tưởng Tánh Không trong kinh điển Theravāda. Có khi tôi trả lời: “Các pháp do duyên khởi nên vô ngã tính, vì vô ngã tính nên không. Không này chính là Không Tánh chứ có gì lạ đâu!”  Một lần khác nữa, tôi lại nói: “Cứ đọc cho thật kỹ kinh Tiểu Không, kinh Đại Không, kinh Đại Duyên là sẽ hiểu rõ toàn bộ về tư tưởng Tánh Không thời Phật”. Tuy nhiên, trả lời gì cũng không giải toả được sự tồn nghi, thắc mắc của chư cư sĩ ấy.

Đã nhiều lần tôi muốn viết một bài để có thể so sánh, đối chiếu từ các Nikāya với tư tưởng Tánh Không trong các kinh luận phát triển. Nhưng hễ mỗi lần muốn viết tôi lại ngập ngừng, do dự. Hơn thế nữa là tôi ngọng nghịu, bất lực. Như va vào vách đá. Như đứng kề bên hố thẳm. Thảng hoặc, đầu con chữ như bị lửa cháy, viết chữ nào bị cháy chữa đó!

Sở dĩ vậy là vì Tuệ Sỹ khi tự hỏi Tánh Không luận là gì, trong “Triết học về Tánh Không”, thầy đã hạ bút:  

“Wenn am Sommertag der Falter sich auf die Blume niederlässt und, die Flügel geschlossen, mit ihr Wiesenwind schwing… (Martin Heidegger, Aus der Erfahrung des Denkens) 

Có thể vay mượn những lời như vậy để khởi đầu cho sự chờ đợi tiếng vọng đáp ứng của những gì đó đang ẩn mình trong bóng tối. Những lời được vay mượn ấy không nhất thiết phải là đồng thanh với những cái sắp đáp ứng. Sự tựu thành của những cái đáp ứng này sẽ không xuất hiện trong những tiếng động náo nhiệt. Đây là sự tựu thành của một cơn mưa như thác lũ, khi con bướm mùa hè đã chịu khép lại đôi cánh mỏng để lắng nghe trong thầm lặng hơi thở của cỏ nội. Chờ đợi, kiên trì và dừng lại trong sự bế tắc của một thời chỉ có ánh sáng vĩnh cửu của mặt trời. Kiên trì và dừng lại để chờ đợi trong sự bế tăc là liều lĩnh ký thác mình cho một cuộc chơi ngoạn mục của thiên diễn, là liều lĩnh đứng lại giữa dòng thác đổ của vạn hữu. Đó là một thái độ bướng bỉnh, không chịu tiến từng bước vững chắc như những đợt nhảy của con chim hồng: Nhảy bên bờ nước, nhảy đến tảng đá, nhảy trên đất cạn, nhảy lên cành cây, nhảy lên gò cao và cuối cùng bay trong thương khung để lông cánh làm đẹp cho bầu trời. Chờ đợi trong sự bế tắc là những bước thụt lùi của con chim hồng, từ trên cành cây rơi trở xuống đất cạn. Từ trên cành cây rơi trở xuống đất cạn để chập chững như cưu mang một cái gì đó có vẻ ngược ngạo; đó là sự tiến tới bằng những bước thụt lùi, bởi vì thuận theo sự bế tắc.  

Mượn một kinh nghiệm tư tưởng để nói về một kinh nghiệm tư tưởng, đó là một sự vay mượn nghịch lý ngang ngược: vay mượn đã là một điều bất khả. Bất khả cho nên bế tắc. Bế tắc cho nên không thể tìm thấy một lối trung chinh để vào tư tưởng.  

Như thế là đã khởi đầu bằng một sự bất chính. Đằng sau sự bất chính này không có che dấu một ẩn nghĩa nào hết để biện minh cho nó. Nhưng, Tánh không luận là gì? "Khi con bướm mùa hè dừng lại trên đóa hoa, khép lại đôi cánh, và đong đưa theo cơn gió của cỏ nội hoa ngàn..." 

Ngón tay thường để chỉ mặt trăng nhưng ở đây, ngón tay bị che giấu. Ngôn ngữ khái niệm thường để diễn đạt thực tại chân đế nhưng ở đây mọi ngôn ngữ khái niệm đều bị xoá sạch. "Khi con bướm mùa hè dừng lại trên đóa hoa, khép lại đôi cánh, và đong đưa theo cơn gió của cỏ nội hoa ngàn..." Thực tại luôn hiển hiện ở tại đây và bây giờ. Đừng hỏi con bướm, đoá hoa và cơn gió giữa cỏ nội hoa ngàn nó làm gì, nó ra sao, rồi ra sao nữa. Mệnh đề, câu cú thảy bị chặt cụt, hay đấy là mệnh đề hở, là câu cú lỏng để cho vô biên tha hồ tung cánh? Để cho thế giới vạn tượng sum la tự do hít thở và nó sống trong sử mệnh, tính mệnh của chính mình?

Nếu tôi có hỏi Tuệ Sỹ thì thầy sẽ gãy khúc đàn dương cầm không có âm thanh! Nếu tôi có hỏi Nāgārjuna (Long Thọ) thì ngài sẽ nói đi nói lại mãi cái“bát bất trung đạo” nghe đến nhàm tai?!  Vậy, cái gì là ẩn ngữ của Tánh Không? Quả thật có ẩn ngữ không? Và nếu là ẫn ngữ thì làm sao nói, và nếu nói thì phải nói làm sao mà không dính chữ, dính lời? Giữa thế giới đa phức, vô định, vô biên tế, không ai có thể xác định đâu là hữu thể, tồn thể, vô thể - có phải thế chăng? Toàn bộ triết học Tây phương là sự thất bại bi tráng của tư tưởng. Họ ỡm ờ, ú ớ bên này mép rìa của cuộc chơi tâm linh mà bên kia là con rồng Đông phương tự tại, thong dong, tha hồ ẩn, tha hồ hiện giữa các định thức phạm trù bất toàn và rỗng không này!

Vậy, giả thi thiết là Phật học nói được về Tánh Không. Như thầy Tâm Thiện đã dẫn luận trong tác phẩm “Lịch sử tư tưởng về triết học Tánh Không”, như sau:

“Có thể nói rằng "Tánh Không luận" là một hệ thống triết học đặc thù của Phật giáo trong thời kỳ phát triển. Sự xuất hiện của nó như là một dấu ngoặc vĩ đại, mở ra trang sử-tư tưởng mới cho các hệ thống triết học Phật giáo Đại thừa, mà khúc dạo đầu chính là hệ thống kinh tạng Bát Nhã ; rồi sau đó, Long Thọ, qua triết học Trung Quán, đã dệt nên chương "khải hoàn" cho tiến trình lịch sử tư tưởng và triết học Tánh Không. Đây chính là một bước chuyển y (Paràvrtti) kỳ vĩ và hết sức táo bạo trong lịch sử tư tưởng Phật giáo Ấn Độ, kể từ thế kỷ thứ II. TL sau Phật diệt độ mãi cho đến thế kỷ thứ VII, khi Nguyệt Xứng (Candrakìrti) hoàn thành hệ thống triết học Trung Quán.

Sự ra đời của Tánh Không luận đã đánh đỗ mọi học thuyết đương thời qua tiền đề "Nhất thiết pháp không" (Sarvadharma Sùnyatà) của nó, một thứ tiền đề được mang tên là Phủ định biện chứng, Phủ định liên hổi, Phủ định cái phủ định; và cuối cùng, là phủ định luôn cả sự hiện hữu của chính nó.

Đối diện với Tánh Không luận, độc giả hoặc là bị cuốn hút vào thế giới của hư vô không tận, nơi mà mỗi mỗi hiện hữu đều là không, tất cả đều là không, cái không bao trùm lên tất cả từ thế giới ý niệm cho đến thế giới hiện thực, như một miền vĩnh tịch cô liêu; hoặc là sẽ một phen thể nhập vào dòng trôi chảy của thực tại, một thứ thực tại bất khả thuyết bởi ngôn ngữ, đang nở nụ trưng bày giữa lòng hiện hữu - đấy là "thực tại-Tánh Không".

Nhưng trái lại, cái kỳ vĩ của Tánh Không luận không phải là động lực đẩy đưa đến một sự diệt tận hay phủ quyết sạch trơn, mà là khả tính năng động, vô biên và nhiệm mầu của nó. Nói theo ngôn ngữ của Long Thọ: "Tất cả đều hợp lý vì hợp lý với Tánh Không, tất cả không hợp lý vì không hợp lý với Tánh Không". Cái "hợp lý" ở đây chính là lý do hiện hữu (raison d'être) của nhất thiết pháp. Nếu không có nó, thì mọi thứ cơ đổ của trần gian này từ các loài vô tình cho đến hữu tình đều trở nên trơ lì, thụ động và không còn khả năng vận hành, như sự trôi chảy tương tục của dòng sông. Như thế, nếu phủ nhận Tánh Không, là phủ nhận khả tính sinh khởi và vận hành của thế giới thực tại khách quan-hiện hữu với/giữa muôn ngàn sai biệt đa thù. Nhưng nếu thừa nhận Tánh Không như một định tính cố hữu, đích thực, thì thế giới tương quan duyên khởi này bỗng phút chốc hóa thành lầu đài xây trên bãi cát. Và như thế, sẽ không có bất kỳ một khả thể nào có thể được hình thành, cho đến mọi vấn đề thiện ác, nhân quả cũng băng tiêu, và không còn được bàn đến nữa.

Vậy, "Tánh Không luận" sẽ xuất hiện như thế nào để khả dĩ được chấp nhận trong một bối cảnh đa đoan lý luận mà không hề chối từ mọi đức lý thiện ác trong cái cơ cấu tương quan của tri thức thường nghiệm, để rồi sau đó, nó vực dậy và làm cho sống động mọi tư tưởng-triết học đang bị héo hắt và phai tàn theo thời gian sau Phật diệt độ cả nghìn năm ? Một câu hỏi như thế có thể được đặt ra không những trên bình diện lịch sử của hiện thực, mà còn trên cả bình diện giả thiết của lịch sử tư tưởng triết học và tôn giáo”. 

Đúng là vậy! Giữa mọi tư tưởng-triết học đang bị “héo hắt và phai tàn” thì tư tưởng Tánh Không của Nāgārjuna, theo tôi, nó không phải “vực dậy và làm cho sống động”  lại tư tưởng Phật học sau ngàn năm Phật Niết-bàn - mà chính nó đã “tiếp lửa, tiếp sức cho sự huỷ diệt” mọi hý luận, mọi hoang vu luận của triết học Ấn Độ đương thời. Nó là đỉnh cao của tư tưởng, cũng là tuyệt cùng, tuyệt lộ của tư tưởng. Nó đốt cháy, khoá rào mọi ngõ ngách hăm he tìm kiếm hiện tính và thực tại bằng kiến thức và sở tri. Nó nuốt lưỡi mà nói. Nó “cả gan” lập ngôn từ chỗ mà đức Phật im lặng. Đồng thời nó có khả năng xoá sổ hai ngàn năm trăm năm triết học Tây phương; khả dĩ hội thoại“mặc như lôi” với tư tưởng của Martin Heidegger, mà theo Cố giáo sư Phạm Công Thiện khi viết về Heidegger trong “Thể tính về chân lý” có một cảm nhận lê thê buốt giá của hư vô mà nói rằng:

Heidegger đã phủ nhận hết tất cả danh hiệu, phủ nhận hết tất cả khuynh hướng, đứng ngoài sinh hoạt văn hóa đương thời, sống ngoài vòng, sống cô đơn, sống “trái ngược thời đại” (“intempestif”, “unzeitgemäss” như Nietzsche đã chủ trương). Vì phủ nhận tất cả học thuyết, tất cả ý thức hệ và tất cả nhãn hiệu, nên Heidegger bị người ta gán cho là chủ trương chủ nghĩa hư vô (nihilisme), nhưng chính Heidegger lại xác nhận rõ rằng tư tưởng của ông không phải là chủ nghĩa hư vô, vì chủ nghĩa hư vô chính là vong tính (l’oubli de l’être), tức là hiện trạng lan tràn ở thế giới hiện nay qua sự thống trị của nền văn minh này nô lệ vào vật thể và khách thể hóa, đối tượng hóa, đối thể hóa tất cả mọi sự...

Còn trong tác phẩm Sein und Zeit (Thể tính và thời tính), Martin Heidegger đặt lại vấn đề sử tính của hữu thể (tức là thời tính của thể tính) mà triết học Tây phương đã bỏ quên từ thời triết gia Parmenides cổ đại Hy Lạp. Trong lúc chư triết gia say sưa bàn về thể, bản thể, hữu thể thì Martin Heidegger nói về tính, thời tính; vì thời gian, thời tính (Zeit) chính là chân trời (Horizont). Thời gian chính là “mảnh trời cuối cùng” mà con người phải “gượng níu lấy quãng đường trở về” cho đến khi nào không còn bất cứ “mảnh trời cuối cùng” nào nữa thì lúc ấy “hoa hồng nở, bởi vì hoa hồng nở” như “tiếng vỗ cánh của muôn nghìn con bướm bay lao xao trong ngàn lá xanh phơi phới”; hoa hồng không có tại sao, “hoa hồng nở bởi vì hoa hồng nở”. Die Ros ist ohne warum; sie blühet, weil sie blühet… (cf Heidegger, Der Satz vom Grund, p. 77).

Chúng ta có nghe âm vọng của đỉnh cao tư tưởng Đông phương và Tây phương hay chăng? Vậy thì Tánh Không là gì? Tánh Không chính là “thực tại đang là”, là cái “hữu thể”  đang vận hành, đang diễn tiến qua “thời thể”. “Cái là, cái đang là - seiend, étant, being”  thật sự không phải dễ hiểu với triết gia Tây phương kể từ thời Platon. Chữ “là” là quá hiển nhiên, ai cũng biết, ai cũng quen, ai cũng thừa hiểu “là” là thế nào rồi, nhưng Heidegger tuyên bố ngay rằng sự việc không phải minh bạch dễ dàng như vậy đâu:“Trong thời đại của chúng ta hiện nay, chúng ta có trả lời được câu hỏi về ý nghĩa mà chúng ta hiểu thực sự về chữ là?” (cf. Sein und Zeit, p.1: “Haben wir heute eine Antwort auf die Frage nach dem, was wir mit dem Wort “seiend” eigentlich meinen?”).  

“Cái là, cái đang là” chính là hoa nở, chim hót; là sự sống, là sinh thể của mọi tồn thể. Là “cái là”,“cái đang là” của mọi hữu tồn sinh diệt.

Như vậy, triết học về Tánh Không, đi một lộ trình dài, tao ngộ M. Heidegger; nói theo Cố giáo sư Phạm Công Thiện, lại gặp gỡ nhau trong “im lặng hố thẳm”, chặn bít tất thảy ngã đường, mở phơi, chỉ bày hiện thực đang là, đang sống, đang hít thở nói năng, đi đứng trong thế giới duyên khởi, duyên sinh, vô ngã tính, tính không của ngã và pháp, chủ và khách câu vong, sử tính, thời tính cũng không tồn tại trong bước đi vượt thời gian, không lệ thuộc thời gian, vô hạn, vô biên, trùng trùng không thấy quá khứ, hiện tại hay vị lai trong tâm của bậc giác ngộ, giải thoát – như trong kinh Tiểu Không (Cūlasuññatasutta):

“- Này Ānanda! Phàm có những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ, trong tương lai và trong hiện tại, sau khi chứng đạt, đã an trú cứu cánh vô thượng thanh tịnh Không Tánh (Suññataṃ), tất cả các vị ấy sau khi chứng đạt đều chỉ an trú cứu cánh vô thượng thanh tịnh Không Tánh này. Do vậy, này Ānanda, sau khi chứng đạt Ta sẽ an trú cứu cánh vô thượng thanh tịnh Không Tánh. Như vậy, này Ananda, các ông cần phải học tập”.

Vậy, Tánh Không là Bất Tử, vì Vô Sanh nên Bất Tử nếu ai tu tập tuệ minh sát vipassanā, quán ngũ uẩn, thập nhị duyên khởi, thấy rõ tam pháp ấn vô thường, dukkha, vô ngã theo kinh điển Nikāya. Một Tánh Không để triết luận, triết luận để chặt đứt tất thảy mọi triết luận để hiển lộ “thực tại đang là”  không thể nói năng, diễn đạt qua bất kỳ phạm trù khái niệm nào; một Tánh Không là để mà tu tập, hiện quán “cái đang là” luôn dịch hoá, luôn mới mẻ, tinh khôi - phải chăng là có thể bổ túc cho nhau trước nhu cầu đa diện, đa phức của tâm thức thời đại? Và cái biên ranh chia biệt sẽ không còn tác dụng khi bậc trí giả an trú được Không Tánh trong lòng mình như đức Phật chỉ dạy.

 
MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/11/2012(Xem: 24130)
Giáo phái Thanh Hải cũng có những hình thức có vẻ tương tự, mà mới nghe nói qua, ai cũng tưởng giống đạo Phật hay một đạo nào khác...
07/11/2012(Xem: 5311)
Không thật, giả, ảo ảnh, như huyễn, như mộng… làmột chủ đề quan trọng hàng đầu của Phật giáo, đó cũng là chủ đề quan trọng hàngđầu của con người trước cuộc đời của chính mình và thế giới mình sống. Trước hết chúng ta nhìn lại sự giới hạn của các giácquan. Ở đây chúng ta chỉ nói về những màu sắc của sự vật mà chúng ta đang thấy.
05/11/2012(Xem: 4464)
Hai pháp trắng này, này các Tỷ-kheo, che chở cho thế giới. Thế nào là hai? Tàm và quý. Nếu hai pháp trắng này không che chở cho thế giới, thời không thể chỉ được đây là mẹ hay là em, chị của mẹ, hay đây là vợ của anh hay em của mẹ, hay đây là vợ của thầy hay đây là vợ của các vị tôn trưởng. Và thế giới sẽ đi đến hỗn loạn như giữa các loài dê, loài gà vịt, loài heo, loài chó, loài dã can. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có hai pháp trắng này che chở cho thế giới, nên mới có thể chỉ được đây là mẹ hay đây là chị em của mẹ, hay đây là vợ của anh hay em của mẹ, hay đây là vợ của thầy hay đây là vợ của các vị tôn trưởng.
01/11/2012(Xem: 22575)
Khi Phật đã thành đạo và thành lập giáo đoàn với năm vị đệ tử tì kheo đầu tiên tại vườn Nai, mọi người dân Ấn vẫn chưa biết gì về Phật. Đến lúc giáo đoàn đông dần, và các vị đệ tử đầu tiên đã có đầy đủ khả năng và đạo hạnh để tự mình đi hành hóa các nơi, thì người ta mới bắt đầu nghe nói đến “Phật"! Cho đến gần một năm sau, khi Phật thu phục được ba anh em Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, tiếp đến là Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, và sau đó không lâu là Đại Ca Diếp, thì tiếng tăm của Phật mới thực sự vang khắp bốn phương, trong triều ngoài nội ai ai cũng biết!
31/10/2012(Xem: 8197)
Đức Phật dạy chúng ta hãy vất bỏ mọi thái cực. Đó là con đường thực hành chân chính, dẫn đến nơi thoát khỏi sanh tử. Không có khoái lạc và đau khổ trên đường này...
25/10/2012(Xem: 6950)
Trong những pháp môn Phật dạy, tôi cả đời chuyên tâm nơi pháp môn Trì danh niệm Phật. Pháp tu niệm Phật có nhiều, trì niệm danh hiệu Phật là một trong những pháp niệm Phật.
23/10/2012(Xem: 8263)
Những bài kệ trong tập này đã được thực tập tại Làng Hồng trong mùa Hè năm 1984. Thiếu nhi cũng như người lớn đã chép tay các bài kệ này để học thuộc lòng. Ta chỉ thực tập được các bài kệ sau khi đã thuộc lòng chúng, khi nâng chén trà lên chẳng hạn nếu ta có ý thức thì tự khắc bài kệ sau đây đến với ta một cách tự nhiên:
21/10/2012(Xem: 6597)
Thực hành Kim Cương thừa được bắt đầu thông qua một quán đảnh. Để hiệu quả, quán đảnh đòi hỏi sự chứng ngộ của đạo sư, bậc trao truyền nó, cũng như sự tin tưởng và trí thông minh của đệ tử nhận nó.
21/10/2012(Xem: 5500)
Tánh không là một trong những khái niệm quan trọng và khó thấu triệt nhất trong giáo lý Phật Giáo. Chủ đề này được triển khai và quảng bá suốt dòng lịch sử phát triển của Phật Giáo, và do đó cũng đã trở nên ngày càng tinh tế, sâu sắc và dường như lại càng phức tạp hơn.
20/10/2012(Xem: 4688)
Hai ngày qua tôi nghĩ quý vị đã lắng nghe một cách rất nghiêm túc nên tôi rất hạnh phúc, tốt lắm. Bây giờ là chương trình hỏi đáp, quý vị có câu hỏi gì?