Bố thí tùy duyên

22/01/201103:49(Xem: 5025)
Bố thí tùy duyên

BỐ THÍ TÙY DUYÊN

Có một gia đình muốn mở tiệc nhân ngày sinh nhật của đứa con, nhưng nhà quá nghèo không biết xoay sở sao cho đủ phương tiện đãi khách.

Còn khoảng một tháng nữa là tới ngày sinh nhật, nhà có nuôi một con bò sữa, nên gia đình muốn bữa tiệc hôm ấy phải có món sữa bò tươi, thế là hai vợ chồng nhất trí từ nay đến ngày sinh nhật con, không vắt sữa hàng ngày nữa, mà để dành đến ngày sinh nhật con vắt luôn một thể.

Đến ngày sinh nhật, hai vợ chồng vui mừng tin chắc rằng, gia đình sẽ vắt được rất nhiều sữa đãi khách. Nào ngờ, cả hai vợ chồng cố vắt mãi, nhưng chẳng được giọt sữa nào. Hai vợ chồng buồn bã, hỡi ôi! Xem như trận này gia đình mất “cả chì lẫn chài,” uổng công cả tháng trời để dành, mà nay con bò không cho lấy một giọt sữa. Và cũng từ đây, con bò bị tắt sữa luôn, không có khả năng sản xuất sữa được nữa, vì lâu ngày không vắt sữa.

Câu chuyện trên đã cho ta một kinh nghiệm sống trong cuộc đời. Với quan niệm chờ cho có nhiều tiền rồi mới thực hành hạnh bố thí không khác gì chuyện để dành sữa ở con bò, không có cơ hội có sữa. Nếu ta muốn thực hành bố thí mà nghĩ như vậy thì suốt đời, suốt kiếp ta không giúp gì được cho ai, vả lại, nó sẽ làm lép đi hạt giống từ bi trong ta. Bố thí có nhiều cách, nếu không có tiền của, thấy người khác bố thí, cúng dường ta sanh tâm hoan hỷ, vui theo thì ta và người bố thí đều có phước báu bằng nhau.

Ngày xưa, có một vị Tỳ-kheo nghe nói như vậy, mới thắc mắc hỏi đức Phật: Người bố thí, cúng dường có phước là lẽ đương nhiên, còn người tùy hỷ vui theo tại sao có phước ngang bằng? Đức Phật đưa ra một ví dụ: Có người đang đốt một ngọn đèn, rồi có hàng trăm người đem đèn tới mồi theo. Ta thấy, ngọn đèn kia vẫn cháy sáng không mất, và hàng trăm ngọn đèn khác cũng được cháy lên tỏa sáng khắp nơi.

Cũng vậy, người cúng dường được phước giàu sang trong hiện tại và mai sau là lẽ đương nhiên rồi. Còn người tùy hỷ khi thấy người khác thực hành bố thí, cúng dường, không sanh tâm tật đố, ganh ghét được phước không nóng giận, bởi nóng giận dễ dẫn đến hận thù, rồi tìm cách trả đũa không có ngày dứt. Do không ganh ghét, tật đố, oán giận nên người ấy sống được an lành, hạnh phúc. Vì thế đức Phật nói hai người phước báu bằng nhau là như vậy.

-Bố thí có hai dạng: Bố thí trong sạch và bố thí không trong sạch.

-Bố thí vì cầu danh muốn ai cũng biết đến mình, thấy mình là trung tâm của vũ trụ mình hơn người không ai bằng.

Hoặc vì ganh ghét mà bố thí, bố thí cho bỏ ghét, hoặc bố thí vì muốn dụ dỗ người ta mê hoặc lòng người, bố thí để chứng tỏ mình là người giàu có hơn người hay bố thí để lấy lòng cấp trên. Nói tóm lại tất cả hành vi bố thí vì tư lợi cá nhân, vì tâm xấu xa, ích kỷ, vì tâm muốn hơn người được gọi chung là bố thí không trong sạch. Còn các hành động bố thí:

- Vì thương người mà cho,

- Vì bổn phận mà cho,

- Vì hy sinh mà cho,

- Vì giác ngộ mà cho.

Thực hành bố thí như trên là vì lợi ích cho người được gọi là bố thí trong sạch, ta vì tâm từ bi, vì lòng thương người mà bố thí, không có tâm mong cầu người biết ơn hay đền ơn đáp nghĩa. Người bố thí cúng dường với tâm bình đẳng không phân biệt thân sơ, tùy duyên cúng dường giúp đỡ không tính toán lợi hại thì mới được phước báu không thể nghĩ bàn.

Tóm lại, người bố thí cúng dường với tâm bình đẳng, không phân biệt thân sơ, tùy duyên mà bố thí cúng dường thì người đó được gọi là người đại bố thí hay đại thí chủ.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/02/2011(Xem: 6258)
Đây là bốn phương pháp thu phục, đưa chúng sanh hữu tình từ vô minh phiền não trở về giác ngộ giải thoát, từ khổ đau trở về an vui, từ sinh tử trở về Niết-bản, từ tà kiến sai lầm trở về chánh pháp chánh kiến mà đức Đạo sư dành dạy cho các hàng đệ tử của Ngài, nhất là đối với các hàng Bồ-tát.
25/01/2011(Xem: 5418)
Sự hiện hữu hay hủy diệt của một thực tại giả hợp, chúng luôn luôn tùy thuộc vào nhân và duyên có được, từ nơi định luật vô thường khởi-diệt của nhân sinh và vũ trụ, đã nói lên tính dung thông vô ngại của nguyên lý Duyên khởi tính không các pháp đối với cuộc sống.
25/01/2011(Xem: 5943)
Hành giả tu hành muốn mau đạt đến kết quả như mình mong muốn thì, điều kiện tiên quyết trước hết là chúng ta cần phải chọn lựa pháp môn nào cho thích hợp với căn cơ của mình, trong muôn nghìn pháp môn mà đức Đạo sư đã để lại.
22/01/2011(Xem: 7354)
Người cư sĩ tại gia, ngoài trách nhiệm và bổn phận đối với gia đình, xã hội còn có nhiệm vụ hộ trì Tam Bảo. Cho nên trọng trách của người Phật Tử tại gia rất là quan trọng...
14/01/2011(Xem: 5210)
Chư Chánh Đẳng Giác, Độc Giác, Thinh Văn Giác đều có nguyện lực và đều có ba giai đoạn: Nguyện trong tâm (ý), nguyện thành lời (khẩu) và nguyện bằng hành động (thân) ba-la-mật. Như đức Phật Sakyā Gotama đã phát nguyện ở trong tâm suốt 7 A-tăng-kỳ, nguyện thành lời suốt 9 A-tăng-kỳ, và nguyện bằng hành động ba-la-mật suốt 4 A-tăng-kỳ và 100 ngàn đại kiếp(2). Như vậy là đức Phật Sakyā Gotama phải thực hành ba-la-mật trải qua 24 vị Phật tổ, kể từ Phật Dīpaṅkāra (Nhiên Đăng) cho đến Phật Kassapa (Ca Diếp).“Nguyện lực” hay “quyết định lực” là 01 trong 10 ba-la-mật (pāramī) (1) theo kinh điển truyền thống. Nó là năng lực của ý chí tiếp sức cho tư tác (cetanā) hoàn thành tâm nguyện của người học Phật và tu Phật.
31/12/2010(Xem: 4656)
Rõ ràng, đối với đạo Phật, tâm là cơ sở, là đối tượng, đồng thời cũng là công cụ của việc thực nghiệm đời sống tâm linh. Tâm là gốc của sinh và tử...
28/12/2010(Xem: 4366)
Phật tử Chơn Từ Bi hỏi: Con nghe nói đạo Phật là chánh tín nhân quả, lấy tứ diệu đế làm nền tảng là minh triết đạo Phật? Tại sao bây giờ con thấy trong các chùa, kể cả chùa Ban tri sự Phật giáo Tỉnh và các Huyện vẫn cúng sao giải hạn một cách công khai trong những ngày đầu năm và hàng tháng? Như vậy có trái với lời Phật dạy hay không?
28/12/2010(Xem: 4466)
Một trong các phương pháp thực tập sự kham nhẫn là học hạnh chịu đựng của đất. Đất có thể bao dung hết muôn loài vật trên thế gian này. Đất nuôi sống thiên nhiên, cỏ cây, hoa trái để nuôi dưỡng chúng sinh. Từ đất con người khai thác các loại tài nguyên khoáng sản để có điều kiện gia tăng sản xuất, nâng cao đời sống để nhân loại và muôn loài vật tồn tại.
26/12/2010(Xem: 10941)
Thượng tọa Henepola Gunaratana thọ cụ túc giới vào năm 12 tuổi, trong một ngôi chùa nhỏ ở làng Malandeniya, quận Kurunegala thuộc quốc gia Miến Điện. Thầy bổn sư của ngài là thượng tọa Kiribatkumbure Sonuttara Mahathera. Vào tuổi 20, ngài được thụ phong đại đức ở Kandy, năm 1947. Ngài hoàn tất chương trình giáo dục tại đại học Vidyalankara và đại học Phật học ở Colombo. Ngài sang Ấn độ trong 5 năm để làm việc thiện nguyện cho hội từ thiện Mahabodhi, giúp đỡ người Harijana ở những thành phố Sanchi, Delhi, và Bombay. Mười năm sau đó, ngài sang Mã lai, làm cố vấn tôn giáo cho hội Sasana Abhivurdhiwardhana, hội từ thiện Phật giáo, và Liên đoàn thanh niên Phật tử Mã Lai. Ngài cũng là giáo sư dạy các trường Kishon Dial, Temple Road Girls, và Trụ sở Nguyên tắc Phật học hội ở thủ đô Kuala Lumpur.