09. Những Năm Tháng Còn Nhớ Mãi

12/18/202511:06(View: 1285)
09. Những Năm Tháng Còn Nhớ Mãi

NHỮNG NĂM THÁNG CÒN NHỚ MÃI 

 

Phần 1: Thời gian biệt phái dạy học

           

Năm 1971, tôi không nhớ rõ vào tháng nào, nhưng chắc là chưa vào dịp nghỉ hè. Phòng 5 Tiểu khu Quảng ngãi đã được cấp trên chấp thuận cho mở một trường trung học lấy tên là Trường Trung học Bán Công Lê Trung Đình để giúp cho con em gia đình khó khăn. Tuy tên trường là Bán công nhưng miễn phí 100 phần trăm. Trường dùng những căn nhà dã chiến mái tôn, vách “táp lô” trên núi Long Đầu làm cơ sở dạy học.

           

Những ngày đầu, tôi cùng thầy Nguyễn hữu Sang dùng xe phóng thanh của phòng 5 đi khắp các vùng trong thị xã và ngoại ô đọc lời thông báo mở trường để thu hút các em học sinh có nhu cầu tới nạp đơn.

           

Vậy là niên khóa 1971-1972 đã vào hoạt động. Các thầy phần lớn là Sĩ Quan của Tiểu khu Quảng ngãi biệt phái đến. Trong số này có một ít đã từng đi dạy rồi. Số còn lại, họ là những người tuổi đời còn trẻ nên rất hăng hái trong công tác mới này.

 

Ngoài việc dùng tài liệu giảng dạy của Sở Học Chánh, tôi và thầy Nguyễn hữu Sang còn tạo được một tủ sách khá phong phú về đề tài để các em mượn đọc mở mang kiến thức. Sách gồm những thể loại như tiểu thuyết, sách tiểu sử danh nhân, sách học làm người, .v.v…Tất cả những sách vừa kể đều là của những cây bút nổi tiếng trong Tự Lực Văn Đoàn như Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam,... và của một số tác giả khác như Nguyễn Hiến Lê…Còn tiền mua sách chúng tôi đã xin từ các nhà buôn lớn, có lòng hảo tâm trong thị xã.

 

Nhân đây cũng xin nói rõ là trong thời gian đầu việc ở trường do tôi chịu trách nhiệm và tôi tự đặt tên cho nhiệm vụ của mình là Phụ Tá Giáo Dục. Còn Thiếu Tá Đặng Diệu là Quản Đốc chịu trách nhiệm tổng quát. Tới niên khóa 72-73, tôi không nhớ rõ tháng nào (?) vì việc gia đình: con cái hai đứa còn quá nhỏ, một mình vợ tôi vừa đi dạy vừa lo việc chăm con, thật quá vất vả. Biết vậy, tôi đã thưa cùng vị Quản đốc xin cho tôi giao nhiệm vụ lại cho thầy Nguyễn hữu Sang, còn độc thân.

 

Sở dĩ tôi trình bày ra điều trên vì có lần về Việt nam, tôi nghe một vài người bạn nói có sự tranh chức quyền trong việc này. Mong những ai còn ý nghĩ trên, sau khi đọc phần này, xin bỏ qua cho. Bây giờ xin trở lại về vấn đề dạy học. Để việc dạy đạt kết quả tốt, chúng tôi đã phải động não, tự mày mò tìm cách dạy hay, giúp các em em hiểu bài và học bài tốt.

 

Riêng tôi nhận dạy môn Anh văn và đã nảy ra sáng kiến khá lạ, cố buộc các em phải chăm học. Như về phần phải học và viết đúng một từ tiếng Anh, tôi yêu cầu các em khi học một chữ mới, phải viết ra quyển vở riêng 10 lần. Ví dụ chữ đầu là tiếng Việt: “thư viện” và tiếp là 10 chữ tiếng Anh “library”. Vì không có thời giờ kiểm tra cả lớp khoảng 50 em nên tôi chọn một hay hai em học tốt môn này thay tôi làm việc đó. Em nào không viết hoặc viết sai nhiều, em phụ trách phải cho tôi biết. Tôi sẽ bắt em đó viết lại. Cách này khá khắt khe nên em nào có lười đến mấy cũng phải cố gắng.

 

Còn trường hợp trong sách bài học có câu nào áp dụng phần văn phạm hay, cần nhớ, tôi buộc các em phải học thuộc lòng. Làm như vậy sẽ giúp các em nhớ kỹ câu mẫu và sau này lúc cần viết hay nói một câu tương tự, chỉ cần thay đổi chữ cho phù hợp là chắc chắn đúng. Mặc dù đã làm như trên, tôi còn dùng thêm biện pháp cứng rắn để các em lười sợ mà học.

 

Cách dạy không giống ai của tôi đã được áp dụng suốt từ đầu niên khóa 1971-1972 cho tới gần cuối năm 1974, chúng tôi phải rời trường.

 

Câu chuyện nhờ may mắn được về dạy tại trường Lê Trung Đình khoảng 3 niên khóa đã đem lại cho tôi một vài kỷ niệm vui.

 

Lần nọ, vào một dịp từ Mỹ về, tôi đi uống cà phê với một số anh em bạn dạy cũ. Trong lúc trò chuyện, một anh nói kết quả thi vào lớp 10 trường Trần Quốc Tuấn sau khi chúng tôi rời trường, học sinh Lê Trung Đình đạt tỷ số khá cao. Ngoài ra còn có em đạt điểm môn Anh Văn cao nhất nữa. Thật không uổng công anh em thầy giáo chúng tôi đã bỏ công sức, cố gắng tìm cách dạy tốt để các em đạt được kết quả như vậy.

 

Giờ đây tôi xin nhắc lại một kỷ niệm khác nữa.

Sau năm 1980, một lần có việc phải đi Quy nhơn, khi tới bến xe, tôi gặp một thanh niên khá to con đến ôm chầm tôi và gọi tôi bằng Thầy. Hơn 5 năm xa cách, các em học sinh tôi dạy đều đã lớn nên rất khác. Tôi lặng người không nói và biết tôi không nhớ gì nên em đã tự xưng tên mình và trường lớp đã học. Thật hết sức ngỡ ngàng! Em là học sinh học kém môn Anh văn và đôi lần tôi phải dùng biện pháp cứng rắn với em. Trong tâm tôi lúc ấy, tôi nghĩ em phải là người rất giận tôi nhưng sự thật lại trái ngược hoàn toàn. Khi viết tới những dòng chữ này, tự nhiên tôi sực nhớ một điều rất lạ, một người kể:

 

Một nhà viết sử thời vua Gia Long, khi nói về Quảng ngãi, ông có thêm một câu vua Gia Long nhận xét về Quảng ngãi như sau: “Người Quảng ngãi sống rất nghĩa tình.”

Em học sinh ôm tôi và hỏi thăm chân thành có phải là biểu lộ đặc tính của người Quảng ngãi không? Cảm xúc vì việc ấy, xin mời đọc mấy câu thơ mộc mạc tôi làm nhé:

 

Quảng ngãi tiếng tăm rất nghĩa tình.

Có ơn phải nhớ rất nghiêm minh.

Đi đâu cũng được người yêu mến.

Hãy cố học gương dân xứ mình.

 

Bây giờ xin ghi lại một kỷ niệm nhỏ nữa.

Năm 2007, tôi có làm một việc về tâm linh ở chùa La Hà. Không biết làm sao, một em nam sinh biết và đến gặp tôi. Sau khi trò chuyện xong, em đưa biếu tôi một quyển sách nói về Phật giáo.

 

Mấy ngày sau rảnh rỗi tôi đem sách ra đọc. Nội dung rất hay, rất hữu ích với tôi. Thú thật, cho tới năm 1995, lúc này tôi đã 53 tuổi, sau khi qua Mỹ một thời gian ngắn, tôi mới biết tới Phật Pháp. Biết là tụng kinh, lạy Phật chứ chưa hề đọc một quyển sách về Phật nào vì đi làm về quá mệt, chỉ dùng thời giờ để nghỉ ngơi. Vậy mà bây giờ, một em học sinh tuổi đời thua mình khá xa, đã biết tới một quyển sách Phật có giá trị như vậy. Ngoài ra, cách nói năng của em lộ vẻ từ tốn, chứng tỏ người muốn tu tâm. Nói có hơi quá chăng chứ thật sự tôi cảm mến em rất nhiều. Một lần nữa xin có mấy câu thơ chân tình như sau:

 

Em hơn tôi ở điểm gì nào?

Biết Phật trước mình, đáng phục sao!

Lời nói nhẹ nhàng: người Phật tử.

Khởi lòng cảm mến, nhớ dài lâu!

 

Những mẩu chuyện có liên quan trực tiếp đến trường Lê Trung Đình đến đây xin tạm ngưng. Bây giờ xin được nối tiếp bằng những câu chuyện vì có dính dấp tới trường Lê Trung Đình nên mới có chuyện khác xảy ra.

           

Sau khi rời trường Lê Trung Đình, một số anh em đã được thuyên chuyển đi các quận miền núi. Tôi còn nhớ, trong số đó tôi đi quận Trà Bồng cùng thầy Nguyễn Bé. Còn thầy Nguyễn hữu Sang đi Sơn Hà….

Về trình diện ở quận chỉ mấy ngày, tôi được lệnh tới trường trung học Trà Bồng nhận lớp dạy Anh văn nữa. Tới đây hỏi ra mới biết các em có học tiếng Anh được bao nhiêu đâu. Lý do là thiếu thầy.

Tôi dạy chỉ một thời gian ngắn rồi Quận có lệnh  phải di tản về tỉnh.

 

Hôm ấy, ngày 17  tháng 3 năm 1975, vào khoảng 5 hay 6 giờ chiều cả bộ chỉ huy Quận lên đường đi về hướng quận Bình Sơn trong tư thế rất an tâm, không lo sợ bị chận đánh. Không ngờ, khi đoàn chúng tôi vừa tới Suối Trà Voi (?) thì tiếng súng, tiếng đạn cối 60 ly rớt xuống, nổ tứ tung. Vậy là cả đám người đông đúc bỏ chạy tán loạn. Đêm hôm đó, nhóm người rất nhiều trong đó có tôi đi mà không biết mình đi về hướng nào. Cứ theo dòng người, trước họ đi đâu, sau mình theo đó. Đi mãi cho tới quá nửa đêm, có một số người dừng lại tìm chỗ nghỉ. Tôi tìm được chỗ bụi cây rậm, vừa nằm xuống, ngủ lúc nào không hay. Đến tảng sáng thức dậy, nhìn lại đám người đi cùng, chỉ còn trên 10 người.

 

Câu chuyện đi trong rừng ban ngày không có gì đặc biệt. Cho đến khoảng 2 giờ chiều ngày 18, chúng tôi gặp một toán nhỏ có một anh quân nhân mang máy truyền tin theo mình. Chúng tôi nhập bọn với họ và đi khoảng gần 2 tiếng đồng hồ trong rừng nữa thì thấy bầu trời phía trước sáng. Một số người mừng reo, vậy là đã ra được chỗ quang đãng. Hy vọng sẽ có trực thăng đến vớt lóe lên trong trí mọi người. Quả đúng là vậy. Đó là một rừng sim lúp xúp.

 

Mọi người ngồi vây quanh anh truyền tin, nhìn anh vặn volume tìm tần số của  Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Quảng ngãi. Trong khi chờ anh tìm tần số để gọi, anh em chúng tôi bảo nhau cởi áo “maidô” trắng trải trên những bụi Sim thành hình chữ T để làm dấu hiệu bãi đáp cho trực thăng. Cả hơn một tiếng sau mới bắt liên lạc được với người trên trực thăng, trời đã xâm xẩm tối. Tàu bay từ từ hạ cánh. Mọi người dùng hết sức lực chạy nhanh lên trực thăng.Tôi cũng cố chạy nhanh nhưng thật rủi một bước chân lại chạm phải bãi sình. Khi rút chân lên được, chạy tới, một tay đã giữ chặt được tay cầm nhưng máy bay từ từ lên cao. Chân tôi còn lơ lửng. May quá có một người trên trực thăng đã lôi người tôi lên. Người đó là một học sinh Bồ Đề, lớp Đệ thất niên khóa 1966-1967. Những ngày đầu ở chi khu Trà Bồng tôi có gặp em. Lúc ấy em là chuẩn úy.

 

Bây giờ xin kể tiếp. Về tới chi khu Bình Sơn trời đã tối mịt. Một người ở chi khu cho biết sáng hôm sau sẽ có xe đi thị xã. Tới 9 giờ sáng, 4 anh em kể cả tôi lên xe Jeep đi. Khi đến gần khúc quanh Bình Liên, nơi nổi tiếng có du kích chận xe, tài xế phóng nhanh. Hú hồn. Qua được bình yên. Tới lúc này tôi mới nghĩ là mình còn sống để về với gia đình.

           

Ngồi trên xe ôm về nhà trên ngã ba Thu Lộ, lòng mừng phơi phới. Xe vừa tới Sân Vận Động tôi thấy vợ tôi đi thất thểu hướng ngược lại. Tôi nói anh xe thồ dừng. Chúng tôi gặp nhau nghẹn lời không nói được gì. Bà xã siết chặt bàn tay tôi và hỏi: anh thật đây hay em nằm mơ?

           

Bây giờ xin trở lại: Việc em học sinh kéo người tôi lên trực thăng hôm ấy cứ còn ám ảnh tôi mãi. Tôi nhớ ơn em rất nhiều. Nếu không có em kéo tay tôi, lôi lên thì sự việc sẽ ra sao. Từ đó, tôi luôn nghĩ việc giúp người lúc hữu sự là rất cần. Còn việc người cần mình giúp, cũng không kém quan trọng. Cho nên tôi luôn tự nhủ mình phải cố gắng làm việc ấy. Vì theo đạo Phật, ai cần mình giúp, tức họ đang đem phước lại cho mình. Còn việc cố tình từ chối, trước là mình tổn phước. Còn kết quả về sau, có thể mình nhờ người giúp, chẳng ai muốn giúp đâu.

 

Vậy nên tôi có mấy câu thơ vừa tự nhắc nhở mình, vừa muốn phổ biến như sau:

 

Ai cần được giúp, cố làm ngay.

Phước họ đưa cho, thật tốt thay.

Từ chối cố tình, điều phải tránh.

Phước mình tổn, họ buồn do ai.

Nhớ rằng tạo xấu, rồi đền quả:

Mình muốn giúp, người từ chối ngay.

Nhân quả không sao tránh khỏi đâu.

Giúp người, gặp tốt, thật không sai!

***

Câu chuyện từ Trà Bồng về, tới đây tạm ngưng.

Xin chân thành cảm ơn tất cả học sinh của tôi và bạn đọc đã xem qua bài viết.

Và cũng xin chúc tất cả Quý vị gặp nhiều may mắn trong cuộc sống, gia đình hạnh phúc, con, cháu thành đạt./.

 

Xin mời đọc tiếp  phần 2  sẽ là câu chuyện cũng vì về dạy Trường Lê Trung Đình nên mới có thêm chuyên nữa.

 

 

Phần 2: Trải qua những trại cải tạo:

 

Tôi kể ra những điều dưới đây để bạn đọc biết những năm học tập cải tạo, tôi đã sống như thế nào. Tôi muốn bạn đọc cần xem qua những chi tiết này trước để đoạn sau, đọc bài thơ nói về sự sinh hoạt ở nhà của vợ tôi, quý vị sẽ thấy được nỗi thấm thía…

 

Từ Trà Bồng về, tinh thần tôi vô cùng bạc nhược. Chưa lấy lại sức, tiếp đến là ngày 25 tháng 3, ngày tỉnh Quảng ngãi thuộc về chính quyền mới. Tôi nghe lệnh đi trình diện. Trong lòng rất hoang mang nhưng bề ngoài vẫn cố giữ bình tĩnh. Tới nơi họ chỉ hỏi lý lịch sơ sài: tên họ, năm sinh, nghề nghiệp, địa chỉ hiện tại, xong họ cho về. Trên đường về nhà, lòng khá vui vì nghĩ rằng có lẽ do mình khai là sỹ quan biệt phái dạy học nên họ không nói gì..

           

Thế rồi một thời gian sau, có giấy của Tỉnh đội đưa đến tận nhà, báo phải trình diện đi học tập. Nơi tập trung là lô cốt đầu cầu Trà Khúc phía bên Sơn Tịnh. Hôm đó tôi đến đúng giờ trong giấy báo nhưng tới nơi chẳng thấy một ai khác. Anh bộ đội bảo tôi ở trong lô cốt và chờ nhiều người đến. Ở đây được ba ngày vẫn không thấy ai đến thêm. Rồi sau đó, một anh bộ đội tới đưa tôi đi đến một nơi. Đó là trại F7a ở phía tây quận Sơn Tịnh.

 

Từ ngày vào trại này cho đến tháng 5 năm 1976 tôi phải trải qua 3 trại nữa: Vực Liêm, Hành Tín, Lao Xá. Ở Lao Xá được mấy ngày, có xe lớn đến chở một số lượng đông đi trại khác. Đó là trại Gia Trung ở cây số 125, quốc lộ 19.

 

Đây là trại nằm trong rừng, cách đường quốc lộ khoảng 2 cây số. Vì là đất rừng rộng rải nên lúc này việc lao động có hơi nhiều: phát hoang, cuốc đất trồng hoa màu như lang, bắp, mì,...

 

Còn ở các trại khác tôi có 2 lần đáng nhớ, gọi là mệt tới lả người:

 

Một lần từ trại Vực liêm đi bộ xuống Thạch Trụ cõng hàng về lại trại. Bao hàng rất nặng, đi  chừng một cây số là phải nghỉ.

 

Một lần nữa phải đi Sơn cao, gánh gạo từ trong kho về một kho chứa khác. Một người phải gánh 2 bao gạo rất nặng đi quãng đường chừng 3, 4 cây số. Những việc này chỉ đột xuất, không thường xuyên

 

Bây giờ xin nói về chuyện khác. Trong suốt 5 năm ở trong các trại cải tạo, đôi lần tôi được nghe một vài vị cán bộ nói rằng số giáo viên đi học sỹ quan rồi được biệt phái về dạy học là thành phần CIA, do Mỹ cài vào. Từ đó, thấy bạn bè của mình không dính tới dạy đọc đều về sớm cả, còn mình ngày càng ở lâu trong trại, tôi mới hiểu là vì lý do đó. Lúc này mới thấy thấm thía về lời khai thật của mình.

 

Đọc qua đoạn trên quý bạn đọc đã thấy sự sinh hoạt trong trại cải tạo không khổ lắm. Trừ

về mặt tinh thần phải nói là rất buồn vì tối về không làm gì, lúc nào cũng nghĩ, nhớ tới vợ con.

 

Bây giờ xin mời Quý vị đọc bài thơ dưới đây và xem thử cảnh khổ của người vợ ở nhà và cảnh sinh hoạt của chồng ở trong trại cải tạo, ai khổ hơn. Trong bài thơ có một vài chi tiết, xin được giải thích:

(a): anh cha: tức là anh ruột của tôi. Ông chưa lập gia đình nên vợ tôi phải thăm ông khắp các trại cải tạo. (b): Cuối năm 1973, tôi dốc hết tiền dành dụm làm phòng học, dạy thêm.

 

Phần 3: Cảnh sống của vợ ở nhà:

 

QUÃNG ĐỜI KHÓ QUÊN

(Tôi đã viết bài thơ dưới đây thay các con để tỏ lòng cảm ơn mẹ)

 

Mẹ tôi tuổi quá hai mươi,

Giã từ đèn sách, theo đời làm dâu.

Lấy cha qua mối tình đầu,

Mẹ cha mong có con mau, vui nhà.

 

Bốn năm, ba đứa theo ra,

Rồi thời thế đổi, đưa cha vào tù.

Đời yên như nước hồ thu,

Chiến tranh nổi dậy mịt mù khắp nơi.

 

Chỉ vừa hăm sáu tuổi đời,

Mẹ liền bươn chải tức thời, nuôi con.

Do “tàn cuộc” của không còn,

Cha đem hết vốn xây phòng dạy thêm.

 

Đúng là “thành sự tại thiên”

Rất may mẹ mượn được tiền chạy buôn.

Dung nhan từ đó héo hon,

Thân hình gầy rộc, khó lòng nhận ra.

 

Bởi đi xe đạp đường xa,

Gạo mua phải chuyển đem ra tận đường.

Đón xe khách, họ không dừng,

Sợ về chợ muộn, còng lưng đạp về.

 

Tới nơi mỏi mệt ê chề,

Vội mau bán gấp, còn về, con mong,

Người mua be bợ lúc đong.

Chỉ cầu đủ vốn, đừng hòng lời ra.

 

Thế rồi, còn phải thăm cha,

Tại nơi cải tạo phương xa ôm đùm.

Có khi con cái đi cùng.

Cha thăm đỡ nhớ, vui mừng rưng rưng.

 

Có khi lội suối, qua rừng,

Thấy hình chân cọp rõ từng bước đi.

Nghĩ thầm lỡ gặp điều gì,

Ai nuôi con nhỏ, chồng thì tù xa.

 

Gia đình còn chỉ mẹ già,

Làm sao cáng đáng việc nhà cho xong.

Cũng may, rồi cũng hanh thông,

Giờ xin nối tiếp đôi dòng nuôi con.

 

Ba con tuổi hãy còn non,

Gạo không đủ nấu, ăn còn thèm ăn.

Nên chi quên để dành phần,

Mẹ ngồi ăn cháy, hai hàng lệ rơi.

 

Thấy con tuổi nhỏ, ham chơi,

Mà nay quá khổ, mẹ tôi thẫn người.

Thiếu ăn, bị bệnh không ngơi.

Hết cơn sốt nặng,... trở trời suyễn lên.

 

Lắm đêm nhấp nhổm không yên,

Chong đèn róc mía thêm tiền nuôi con.

Nào đâu hết, chuyện hãy còn,

Phải lo các thứ đồ đoàn thăm nuôi.

 

Khổ ôi, rang lớ phải ngồi

Ở bên bếp lửa một hồi bỏng tay.

Khói xông vào mắt, xé cay.

Xong gần bao lớ, mặt mày bừng ran.

 

Mệt nhoài, lòng thấy rất an,

Giúp chồng đỡ đói hàng ngàn canh thâu.

Cực cha chịu, thấm vào đâu!

Nếu so mẹ cực, làm sao bì bằng!

 

Anh cha, mẹ cũng đi thăm.

Vì ông chưa vợ, bỏ ngang sao đành!

Năm năm xuôi ngược, tảo tần,

Nuôi chồng, con dại: ấy phần ân sâu.

 

Chuyện còn nhiều,... kể hết đâu!

Bao la lòng mẹ như bầu trời cao!

Mong sao mẹ khỏe, sống lâu,

Để đền đáp được phần nào công lao.

 

Mẹ tôi tóc đã ngả màu,

Mừng bên con cháu, cùng nhau sum vầy.

Giấy nào viết hết ra đây,

Chuyện đời mẹ khổ, còn dài triền miên.

 

Nay mong nhắc nhở nhau nên:

Học theo gương mẹ, sống quên thân mình.

Khổ sao mẹ vẫn ngậm thinh,

Chồng con no đủ là mình vui thôi.

 

Con xin gửi bấy nhiêu lời,

Mẹ làm kỷ niệm Quãng Đời Khó Quên. ./.

***

Xin có lời kết:

 

Người đàn bà Việt rất thương chồng.

Nhẫn nại, nhân từ, lại thủy chung.

Gặp nạn, vào tù, chồng cách biệt.

Nuôi con, son sắt, giữ nguyên lòng.

 

Chuyện đời của tôi lắm lúc cái xui đến, sau một thời gian nó lại hóa ra may. Trường hợp hiện thời là điển hình. Nhờ đã khai là sỹ quan biệt phái dạy học nên mới ở trại cải tạo năm năm. Và cũng nhờ vậy, cả gia đình tôi mới được nhận đi định cư tại Mỹ năm 1994. Thật đúng như câu ông bà thường nói: “Hết cơn bĩ cực, tới hồi thái lai.” phải không quý bạn đọc?.

Xin chân thành cảm ơn tất cả những học sinh của tôi và bạn đọc đã xem qua bài viết.

Và cũng xin chúc tất cả Quý vị gặp nhiều may mắn trong cuộc sống,  gia đình hạnh phúc, con, cháu thành đạt./.

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
9/19/2010(View: 10724)
Do ảnh hưởng từ thảm họa kép năm 2011, Fukushima - Nhật Bản đến nay vẫn còn nhiều nơi bị xem như vùng đất chết vì lo ngại nhiễm xạ, chủ yếu chỉ còn các vật nuôi bị bỏ rơi và được một người đàn ông dũng cảm ở lại chăm sóc.
9/18/2010(View: 23706)
Phật giáo là một tôn giáo khiêm tốn,chú trọng vào tâm linh và trí tuệ, nhắm vào mục đích giải thoát con người khỏithế giới biến động và khổ đau. Phật giáo không chủ trương tranh giành uy quyền,củng cố thế lực hay bành trướng ảnh hưởng trong thế giới Vô thường này.
9/18/2010(View: 16800)
Nhiều người hỏi tôi, Phật tử nghĩ gì về hôn nhân đồng tính? Vâng, vấn đề này tùy thuộc vào đối tượng mà bạn nói đến. Cách đây vài năm, trong cuộc phỏng vấn với hãng CBC, đức Dalai Lama đã bác bỏ quan hệ đồng tính, khiến ngạc nhiều người cải đạo sang đạo Phật ngạc nhiên. Đôi khi, họ quá dễ dãi cho rằng đạo đức Phật giáo là phù hợp với quan điểm tiến bộ tiêu biểu của họ. Khi cuộc phỏng vấn của người Gia-nã-đại được lên mạng internet, vài người bị choáng và bị rối, nhưng quan điểm của đức Dalai Lama đưa ra không làm ngạc nhiên đối với bất cứ ai lưu tâm theo dõi vấn đề này. Rốt cuộc thì lập trường của ngài vẫn trước sau như một. Tại một hội nghị cách đây 12 năm, khi các lãnh đạo đồng tính gặp đức Dalai Lama ở San Francisco để thảo luận vấn đề cấm Phật tử Tây Tạng phản đối việc đồng tính luyến ái, ngài đã nhắc đi nhắc lại quan điểm truyền thống rằng đồng tính luyến ái là “tà hạnh”
9/18/2010(View: 21980)
Phật bảo sáng vô cùng Đã từng vô lượng kiếp thành công Đoan nghiêm thiền tọa giữa non sông Sáng rực đỉnh Linh Phong
9/17/2010(View: 19632)
Gốc tiếng Phạn của chữ cà-salà kasaya.Nhưng thật sự chữ kasayatrong tiếngPhạn không có nghĩa là áomà có nghĩa là bạc màu, cáu cặnhay hư hoại. Sách tiếng Hán dịch chữ này là đạm(màu nhạt), trọchay trược (đục, dơ bẩn, ô nhiễm, rác bẩn), hoặc còn dịch là hoại sắc,bất chính sắc, hư nát, dính bẩn…Tóm lại chiếc áo cà-sacủa người xuất gia tu Phật, của hàng tỳ kheo,…tượng trưng cho những gì nghèonàn, thô sơ, tầm thường, và khiêm nhường nhất. Người đọc, nếu chưa có ý niệm gìvề chiếc áo của một nhà tu Phật giáo, cũng có thể hơi ngạc nhiên khi đọc nhữngđiều vừa nêu trên đây.
9/10/2010(View: 78613)
Một cuộc đời một vầng nhật nguyệt (quyển 3) Vào thời không có đức Phật Chánh Đẳng Giác ra đời, tại vùng Allakappa bị dịch bệnh hoành hành, lây lan từ người này sang người khác, nhà này sang nhà khác làm cho rất nhiều người chết, đói kém xảy ra khắp nơi. Những người còn mạnh khỏe, chưa bị lây nhiễm
9/8/2010(View: 13423)
Chịu đựng sự nhục nhã và lời thóa mạ là đức tính quan trọng nhất mà mỗi ngươi có thể rèn luyện, bởi vì sức chịu đựng là vô cùng mạnh mẽ, tại vì chỉ một giây phút tức giận là có thể phá hủy hết công đức của cả một đời người.
9/7/2010(View: 14158)
Chúng ta chỉ có một địa cầu. Người Phật tử và những người có lương tri trên hành tinh này đều giống nhau, đều khát vọng an bình toàn cầu, như cọng cỏ khát ánh mặt trời, như cá khát dòng sông êm dịu. Thế nhưng, khi chúng ta đứng trên một bình diện nào đó của địa cầu, huớng về khát vọng, chúng ta sẽ thất vọng phát hiện: quả địa cầu này tràn đầy bạo động và bất an, chiến tranh cục bộ, tranh giành quân bị, xung đột địa giới, dân tộc mâu thuẫn, giáo phái phân tranh, chủng tộc kỳ thị, tà giáo ngang ngược, khủng bố đe dọa, buôn chích ma túy, tàn phá môi trường, tài nguyên cạn kiệt, giàu nghèo chênh lệch, tội phạm gia tăng, công chức hủ hóa, HIV hoành hành và vô số bệnh thái sa đọa khác của xã hội loài người. Tất cả đó, dù trực tiếp hay gián tiếp, đã và đang phủ lên một màu sắc u ám, đe dọa đến sự an bình trên quả địa cầu này.
9/4/2010(View: 23740)
Tôi được một vị Tăng sinh ở Saigon mời góp ý kiến về Bát Kính Pháp khoảng hai tuần trước, nhưng vì khá bận rộn với những công việc tại đây (vừa lo thi cử cho việc trường lớp xong thì lại có duyên sự Phật sự 10 ngày tại Minnesota) nên đã khất hẹn với vị ấy là: khi nào tranh thủ được thời gian thì tôi sẽ xem xét vấn đề kỹ hơn để bàn cùng quý vị. Lúc ấy tôi nghĩ rằng: những vị Tăng sinh này sẽ tìm được câu trả lời cho những nghi vấn liên quan đến Bát Kính Pháp nhanh chóng thôi, vì ở Việt Nam hiện có rất nhiều chư Tôn Đức chuyên nghiên cứu, hiểu sâu sắc và hành trì Luật tạng miên mật, các vị dễ dàng đến đảnh lễ thưa hỏi.
9/4/2010(View: 15496)
Đọc xong những câu chuyện của các phụ nữ ở Hoa Kỳ và kinh nghiệm của các vị đối với đạo Phật, chúng tôi đã rất hoan hỷ và xúc động trước những nhận thức sâu xa của họ về cuộc sống, con người và môi trường chung quanh... Những lời dạy của đức Phật vừa nhiệm màu vừa thực tiễn đến làm sao! Những lời giảng dạy ấy đã chữa lành, loại bỏ những khổ đau và đem lại sự bình an, hạnh phúc đến hàng vạn con người trong nhiều thế kỷ qua. Sau đây là các câu chuyện của những phụ nữ người Hoa Kỳ từ các nguồn gốc khắp nơi trên thế giới. Những câu chuyện về hạnh phúc và sự sống trong tỉnh thức của họ qua sự tu tập và trở về với Đạo Phật. Chúng tôi xin hân hạnh giới thiệu và chia xẻ cùng bạn đọc.