07. Ấm Áp Tình Người

18/12/202511:00(Xem: 2178)
07. Ấm Áp Tình Người

ẤM ÁP TÌNH NGƯỜI

   Buổi sáng hôm ấy trời đẹp lắm. Đồi cây thưa thớt, lúp xúp hai bên đường vẫn còn đọng những giọt mưa của đêm trước, lóng lánh dưới ánh sáng mát dịu của ban mai. Trên đường, đây đó, những dấu chân cọp đi ăn đêm còn in rõ. Phú cùng mấy người bạn vừa được phóng thích khỏi trại cải tạo, hớn hở đi mà không hề quan tâm đến cảnh vật chung quanh. Họ nói huyên thuyên về nỗi sung sướng của mình khi được cầm giấy ra trại trong tay. Bỗng có người vội vã, cắm cổ chạy. Chạy được một chút, anh ngoái cổ nhìn lui làm như sợ người ta đổi ý, rồi cho người ra bắt lại vậy. Có người không tin đây là sự thật, tự hỏi chẳng biết có phải mình đang nằm mơ không. Những lo lắng bâng quơ chỉ thoáng qua và họ lại tiếp tục chuyện trò. Câu chuyện nổ như bắp rang chưa dứt thì họ đã đến đường lớn có xe hơi chạy. Đây là đoạn Quốc lộ 19 từ Pleiku về Bà Di. Thấy xe nào đi qua, họ cũng vẫy tay đón xin đi. May quá, chỉ chờ khoảng hơn nửa giờ là có xe dừng lại và người phụ xe cho bốn anh em cùng lên. Tất cả đều phải đứng nhưng họ rất vui vì kể từ nay, họ sẽ mãi mãi xa những lán trại trong kia, nơi họ đã trải qua hơn năm năm trong cảnh nhớ vợ, nhớ con quay quắt từng đêm.                                                       

 

Lúc mấy anh em vừa lên xe, các bà hành khách nói chuyện với nhau giòn giã lắm. Bỗng họ ngừng lại vì thấy các anh cùng mặc đồ bà ba màu xanh, biết đó là những người vừa được thả ra khỏi trại nên họ dồn dập hỏi chuyện. Có người còn đưa bánh ú, chuối ra mời ăn. Anh em ngại không nhận nhưng họ cứ dúi vào tay bảo cầm. Thật cảm động, đến một chỗ xe ngừng, có bà cụ, nhìn vào cách ăn mặc có thể đoán cụ không phải là người khá giả, đã mua những nắm xôi còn nóng đưa cho mỗi anh em, bảo đường còn xa, hãy giữ để  ăn dọc đường cho đỡ đói.                                                                                                                                                                                       

Chỉ chừng nửa giờ sau, sự vồn vã thăm hỏi không còn nữa. Các anh, đặc biệt là Phú, ngóng tai chăm chú lắng nghe hai bà ngồi ghế bên cạnh, kể về hoàn cảnh của nhiều người vợ có chồng đi học tập. Có câu chuyện nghe thật thương tâm.                                                                                                                                             

Một bà kể người cháu gái của bà có chồng đi cải tạo. Ở nhà, chị phải xoay đủ nghề làm ăn, nuôi ba đứa con nhưng vẫn không đủ sống. Những đứa con, ngày càng lớn. Sự chi tiêu cho cuộc sống gia đình cũng ngày càng nhiều hơn. Vốn làm ăn mỗi ngày một hao hụt. Chị mong có việc gì làm thêm để bớt khó khăn. Rồi có người bày chị ra ga Bình Triệu, ngồi sắp hàng giành chỗ mua vé tàu ra ngoài Bắc, ai muốn mua được vé sớm thì bán chỗ lại cho họ, cũng kiếm được chút tiền. Công việc nghe nói có vẻ nhẹ nhàng, nhưng bước vào việc mới thấy thật nhiêu khê. Đêm nào chị cũng phải thức dậy từ hai giờ sáng, ra sắp hàng mới có chỗ tốt, bán chỗ sẽ được nhanh. Gặp những hôm trời mưa hoặc rét buốt,  thật vô cùng cơ cực. Chưa hết, lắm lúc chị còn phải nhẫn nhịn, chịu đựng những lời văng tục, chửi mắng của những tay anh chị đáng tuổi con cháu mình vì những nguyên do rất vô lý. Một hôm, có việc cần về sớm, chị chịu bán chỗ với giá thấp hơn bình thường. Vậy là chị đã bị một tay đàn chị vừa chửi, vừa sấn sổ xam tới toan đánh để trừ nạn bán phá giá. Thật may, kịp lúc, có người thanh niên tới can. Anh nhìn chị, biết chị không phải là dân chuyên sống bằng nghề này mà do lâm vào bước đường cùng nên phải làm như vậy. Anh ấy đã mua chỗ cho chị, rồi hỏi địa chỉ, hẹn về thăm quê và vào sẽ gặp lại.

           

Khoảng một tuần sau, anh cùng vợ đến tìm chị. Qua câu chuyện chị kể, anh biết chồng chị đang đi cải tạo. Anh ta hứa sẽ giúp tìm cho chị một chỗ làm. Vừa đúng nửa tháng, có người tới gọi chị đi nhận công việc quét dọn vệ sinh cho một bệnh viện. Thời buổi gạo châu, củi quế, có nơi làm ổn định là diễm phúc vô cùng. Chị muốn tìm người thanh niên để đền ơn nhưng không biết anh ở đâu. Chị cố dọ hỏi những người làm trong bệnh viện có cùng âm giọng miền trung như anh thanh niên nọ, nhưng không ai biết. Điều đó đã làm chị băn khoăn, ray rứt mãi không thôi.                                                                                                                                                                                   

Phú nghe xong câu chuyện, mắt đăm chiêu nhìn xa xăm. Anh nghĩ tới vợ và mấy đứa con. Không biết ở nhà có chuyện gì mà đã hơn bốn tháng, chị không lên thăm anh. Anh rất mong mau tới nhà nhưng xe cứ chạy cà rịch, cà tang, đi chừng mươi cây số lại dừng để thả khách hoặc rước khách. Cuối cùng, đến mãi gần chín giờ đêm, xe mới đến bến xe Qui Nhơn. Anh đến gặp phụ xe, hỏi trả tiền. Vừa lúc ấy, ông tài xế đến. Bác ta vỗ vai Phú thân mật nói, bác cho Phú và mấy anh em kia đi quá giang chứ không lấy tiền. Phú đứng lặng, nhìn người tài xế, cảm động đến nghẹn ngào. Không ngờ trong cảnh đổi đời này, tưởng lòng người đã đổi thay. Thế mà vẫn còn có người thấu hiểu hoàn cảnh của những người gặp cơn hoạn nạn, đã tỏ nhiệt tình ân cần giúp đỡ. Bác tài xế bắt tay Phú và Phú cố ý siết thật chặt để tỏ lòng biết ơn thật nhiều của mình. Trước khi chia tay, bác còn chỉ cho quán cơm bình dân và nơi thuê chiếu ngủ qua đêm để sáng ngày dậy sớm mua vé về quê ở miền Trung.                                                                                                                                                                                       

Suốt đêm, Phú nằm thao thức, mắt nhắm lại nhưng thật khó ngủ, phần vì muỗi đốt, phần vì lo lắng về gia đình. Nhưng rồi anh đã thiếp đi vì mệt lả do phải đứng trên xe suốt đoạn đường hơn trăm cây số. Bỗng anh nghe tiếng la lớn của Tiên, người bạn nằm bên cạnh. Rồi Tiên vùng dậy, chạy đuổi theo bóng đen trong đêm, nhưng không kịp. Nó đã lẻn thật nhanh vào ngõ hẻm cạnh bến xe. Thôi rồi ! anh ta kể, anh đã mất chiếc ba lô trong đó có mấy bộ quần áo lao động còn tốt, vợ vừa thăm nuôi đem lên và một bi đông đựng nước bằng nhôm cùng tiền trại cho làm lộ phí đi đường. Tiên phân bua với Phú, anh muốn giữ những đồ vật ấy vì nghĩ khi về địa phương có đi lao động, anh sẽ có dùng ngay. Phú biết còn bao nhiêu đồ khác, Tiên đã đem phân chia cho những anh em không có thân nhân thăm nuôi, còn ở lại. Có người anh cho thức ăn, có người anh cho quần áo lao động. Nhưng có lẽ, người mừng nhất là được nhận tấm mền dù. Vì rồi đây, anh ta sẽ không còn phải thao thức trắng đêm trong cái khí hậu giá buốt, khắc nghiệt của mùa đông ở vùng núi rừng Tây nguyên heo hút. Phú hiểu tấm lòng người bạn. Trong hoàn cảnh khó khăn, người thân phải đi thăm nom đến hơn năm năm. Thế nào tài chánh gia đình lại không cạn mòn. Vậy mà khi được về, anh chỉ giữ lại một vài món cần thiết. Điều đó thật ít người làm được. Phú biết không phải chỉ khi được tha về, Tiên mới có hành động vị tha như vậy. Lúc còn ở trong trại, một lần vợ lên thăm nuôi, anh thường san sẻ một chút quà mọn như một ít thịt bằm kho mắm ruốc muối sả hoặc một vài cục đường đen chưa  rút mật cho những anh em thiếu may mắn, không liên lạc được với gia đình. Phú thầm phục Tiên làm điều mà chắc nhiều người, kể cả anh, không dám nghĩ đến vì rất sợ, không làm sao chống chọi nổi cơn đói cứ chực chờ mỗi đêm nên đã thủ, giữ riêng cho mình. Còn bên tù hình sự biết Tiên tính rộng rãi, hễ cứ gặp mặt là họ hỏi xin. Anh thấy tội nghiệp những người này lắm vì hằng ngày họ chỉ nhận được cơm của trại chứ không có nguồn tiếp tế nào khác nên rất đói. Có người chỉ còn da bọc xương, lỏng khỏng như con cò nhang. Anh đã từng bắt gặp trong bọn, có người xuống hố rác tìm những bọc còn dính chút thức ăn, liếm trong sự thèm thuồng. Rồi một lần khác, anh thấy một người chụp được con cóc, lột da, móc ruột ném rồi bỏ vào miệng nhai ăn ngấu nghiến. Còn chuyện lúc trời đổ cơn mưa dông, mối bay từng đàn, gặp mưa rớt xuống, họ bắt, ngắt cánh, ăn sống ngay là việc không hiếm. Tháng nào gặp nhóm người này xin nhiều, coi như tháng đó anh hết đồ ăn dự trữ sớm. Đôi lần, Phú đã thấy Tiên hái lá bìm bìm hoặc cỏ hôi luộc ăn với cơm cho đỡ đói. Anh đã hỏi Tiên tại sao anh thường làm việc giúp người như vậy. Tiên đã trả lời điều ấy bắt nguồn từ câu chuyện hơi dài.                                                                                                                                                                                    

Có một lần, Mẹ lên trại thăm anh và báo tin Ngoại mất. Bà mất ở tuổi 103. Đêm hôm đó, anh ngủ không được và cứ nhớ tới hình ảnh của Ngoại. Và đặc biệt chỉ cái hình ảnh Ngoại hằng ngày nằm trên chiếc võng, lần tràng hạt và niệm Phật liên tục, hồi anh còn rất nhỏ, cứ hiện lên rất rõ trong tâm trí anh. Anh không hiểu tại sao, Ngoại người rất gầy, ăn chỉ một chén cơm mỗi bữa với bát canh rau và vài quả cà pháo mà sống rất khỏe và lâu đến như vậy. Anh tự hỏi có phải nhờ câu niệm Phật có một năng lực vi diệu nào đó nên mới được vậy chăng. Cho đến khi Mẹ lên thăm lần tiếp, anh hỏi về sự lạ lùng đó và có đưa ra nhận xét của mình. Mẹ liền trả lời theo những gì mẹ nghe khi đi chùa trước đây:                                         

 

-“ Một câu niệm Phật là thuốc A Dà Đà trị bá bệnh”, và                                                                               “Có duyên tưởng Phật sống dai vô cùng.”                                                                        

                       

Ngưng một lát, Mẹ đọc tiếp:

                       

Niệm Phật một câu, phước sinh vô lượng, 
Lễ Phật một lạy, tội diệt hà sa.  
                                                                                                              

 

Rồi Mẹ khuyên anh nên niệm Phật mỗi khi thấy lòng bất an, tự nhiên phiền não sẽ biến đi. Anh làm thử và thấy hiệu nghiệm. Vậy là từ đó, sau chín giờ tối mỗi đêm, anh ngồi trong mùng niệm Phật thầm. Nếu đêm nào không niệm, anh thấy như thiếu thốn một điều gì. Mà lạ lắm, anh niệm được một thời gian thì tự nhiên những lời răn dạy thật hay, anh bắt gặp đã lâu lắm, cứ hay hiện đến với anh. Câu đã làm anh nảy ra ý muốn làm việc giúp người ở trong trại là câu:                                                                                                                                                                                            

 

Tổ tiên tích đức, muôn đời thịnh,                                                                                                       

Con cháu thảo hiền, vạn kiếp vinh.                                                                                                   

 

Chính vì việc làm vừa lợi mình, lợi người nên Tiên rất thích. Phú đã rất cảm phục bạn qua câu chuyện ấy. Anh nghĩ đến đó thì nhìn lại Tiên. Anh ta đang đứng cúi mặt, ra chiều suy nghĩ. Phú biết bạn mình đang lo điều gì. Tự nhiên một ý nghĩ thoáng qua thật nhanh trong đầu anh: phải giúp Tiên. Nghĩ vậy, anh liền vội kéo tay mấy anh bạn ra chỗ vắng nói chuyện. Một lát họ cùng vào và Phú đưa cho Tiên số tiền đủ mua vé xe và tiền ăn qua loa dọc đường. Sợ bạn ngại ngùng từ chối, Phú nói như đùa:                                                                                                                                                              

-Đó là tiền của bác tài cho, chứ không phải tiền của tụi này đâu mà anh ngại.                                            

 

Sự việc xảy ra quá đột ngột làm Tiên hơi bối rối. Anh đang lo lắng, không biết làm cách nào để về được tới nhà. Hỏi xin tài xế cho quá giang, anh đã nghĩ tới, nhưng chắc gì họ chịu vì đâu phải ai cũng tốt bụng như bác tài xế vừa rồi. Không ngờ, bây giờ các bạn lại giúp mình. Tiên rất vui vì thấy anh em ra bàn chuyện chỉ trong chốc lát là trở lại. Điều đó chứng tỏ trong họ, không ai có ý kiến phản đối việc giúp anh. Bỗng anh sực nhớ, hồi còn ngoài đời, anh từng tham gia đoàn đi quyên tiền giúp nạn nhân thiên tai. Nhóm của anh đã vào nhiều nhà buôn rất giàu nhưng họ rất dị ứng với việc làm như vậy. Đã không cho, có người còn có cử chỉ hoặc lời nói như muốn xua đuổi, mau đi để họ buôn bán. Nghĩ tới họ, anh cảm mến các bạn quá vì bạn anh nghèo tiền nhưng không nghèo tình thương người gặp hoạn nạn, khó khăn.                                                     

Đã nhiều lần, Tiên cho một vài anh em trong trại thức ăn, dù là ít, nhưng đối với họ “miếng khi đói bằng gói khi no” nên họ mừng lắm. Nhưng thực sự, anh không hiểu nỗi vui sướng trong lòng họ đến mức nào. Còn giờ đây, anh cảm nhận được sự vui mừng thật khó diễn tả của người được ban ơn trong lúc gặp cảnh ngặt nghèo. Bỗng anh ôm chặt Phú rồi tới bóp thật mạnh vào vai từng người bạn để tỏ lòng biết ơn. Ngay lúc đó, Phú chợt liên tưởng tới câu nói của cha chị Dung, người có tiếng giàu lòng nhân hậu ở quê anh, thường hay nói với con cháu:                                                                                                                                                                                                                     

-Cứ giúp người đi, rồi trời sẽ giúp mình.                                                                                                       

 

Phú thấy câu nói áp dụng thật đúng trong trường hợp này. Từ nhỏ đến giờ, có khi nào anh nghĩ tới chuyện giúp ai đâu. Vậy mà, từ chỗ chỉ cảm mến Tiên qua những việc làm thương người, tự nhiên, một động lực nào đó đã thôi thúc, khiến anh nghĩ tới việc giúp Tiên ngay. Lúc ấy, nếu để anh chần chờ, suy nghĩ, chắc anh sẽ không làm được vì làm sao có thể bỏ tiền giúp bạn khi chắc chắn vợ con mình đang gặp khó khăn ở nhà. Trong lúc, các anh, mỗi người đang theo đuổi những suy nghĩ riêng của mình thì đèn ở phòng bán vé bật sáng. Một anh trong nhóm, vội nói đùa chọc Tiên:                                                                                                                                                                      

-Vì anh đem ít đồ quá nên bọn cắp mới chiếu cố, chứ như tụi này đồ đạc lềnh kềnh, nó đâu có nhắm tới.                                                                                                                                                                                                            

Mọi người cùng cười thật vui và Tiên nhanh nhẩu đáp ngay:                                                                                                   

-Có nhờ vậy mới thấy được tình người. Mà thật lạ, hôm qua, từ lúc lên xe đến giờ, tôi nhận ra có nhiều chuyện làm ấm lòng chúng mình lắm.                                                                                    

 

Trong khi, có thể, mấy anh em đang cố nhớ lại những chuyện có vẻ nhỏ, nhưng thật đẹp vừa qua, thì anh nghĩ tới những cảnh nghèo khổ cùng cực của những người dân anh đã từng gặp trong khi đi lao động tự giác ở các vùng quanh trại. Có lần anh gặp một hoàn cảnh thật xót thương. Đó là trường hợp một gia đình có năm đứa con. Tất cả đều gầy còm, rách rưới, lại bị bệnh suyễn, phải chịu đựng cái lạnh buốt thấu xương của mùa đông Tây nguyên. Chúng co ro trong  cái chòi tranh, vách đất với diện tích không quá ba mươi mét vuông. Chúng ngồi quanh nồi cơm, chỉ thấy toàn màu đen của củ lang khô, đang chờ cha đem thú rừng nhỏ bẫy được để kho ăn. Nhưng khi cha về với hai tay không, đứa nào cũng tiu nghỉu. Thấy vậy, Tiên liền lấy lon guigoz đựng cơm của trại phát cho ăn bữa trưa, ở trên mặt anh có bỏ một ít mắm ruốc kho sả và nhường cho chúng. Nỗi vui mừng của chúng hiện qua ánh mắt long lanh, sáng rỡ làm anh nghẹn ngào.                                                                                                                     

 

Thấy hoàn cảnh của gia đình họ, anh nhớ lại lời Mẹ thường khuyên các con, sống đừng nên tiêu xài quá phung phí, ăn uống không nên dùng nửa, bỏ nửa vì làm vậy, kiếp sau sẽ nhận quả báo là nghèo khổ, túng thiếu. Lòng anh tự nhiên chùng xuống và xót xa cho số kiếp của họ. Rồi anh thầm nghĩ:                                                                                                                                                                                                  

“ Mong sao mọi người hiểu rằng phước đức bố thí, cúng dường... tích lũy càng nhiều sẽ làm đời sống kiếp này hay những kiếp sau của mình được sung túc, dư dả. Mong họ mở lòng rộng hơn và mãi mãi có thật nhiều những việc làm ấm áp tình người để giúp vơi đi phần nào những nỗi khổ đau, cơ cực, … vì chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh, tật nguyền, đói rét… của biết bao người đang gặp điều bất hạnh trong cuộc đời.”/.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/01/2013(Xem: 13879)
Mục tiêu của Phật giáo là đưa mọi người đến chỗ giải thoát tối hậu, nhưng giáo pháp của Đức Phật có phân biệt từng trường hợp, từng hoàn cảnh, tùy theo căn cơ của từng chúng sinh mà hướng dẫn từng cá nhân đi theo những con đường nhanh hay chậm, trực tiếp hay gián tiếp. Để nêu ra được những mục tiêu cụ thể và thực tiễn cho Giáo dục Phật giáo Việt Nam, điều tất yếu là phải duyệt lại những mục tiêu của giáo dục và mục tiêu của Phật giáo nói chung, ngoài ra phải có một cái nhìn tổng quát về hiện trạng của Phật giáo Việt Nam. Thật vậy, chỉ có thể căn cứ trên mục tiêu căn bản của giáo dục và của Phật giáo, s au đó, các nhà nghiên cứu mới có thể xác lập được những mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài hạn, những mục cơ bản và mục tiêu dẫn xuất của giáo dục Phật giáo Việt Nam, xuất phát từ tình trạng của Phật giáo Việt Nam hiện nay. Do đó, bản tham luận này sẽ trình bày về mục tiêu của giáo dục, mục tiêu của Phật giáo, và hiện trạng Phật giáo Việt Nam trước khi nói đến mục tiêu của Giáo dục Phật
31/12/2012(Xem: 11166)
Việc điều trị tâm là thiết yếu, vì nếu không thì các vấn đề bất ổn của chúng ta, vốn không có điểm khởi đầu, sẽ không bao giờ chấm dứt. Chúng ta có thể dùng thuốc hay các phương thức bên ngoài khác để chữa lành một căn bệnh nào đó, nhưng bệnh sẽ tái phát nếu chúng ta không điều trị tâm. Nếu không điều trị Tâm thì luôn luôn có nguy cơ là ta sẽ lại tạo ra nguyên nhân của bệnh, chúng ta sẽ tái diễn các hành vi mà trước đây đã khiến cho cơ thể chúng ta bị đau ốm. Và rồi chúng ta sẽ bị cùng căn bệnh đó trong các kiếp sau, hay thậm chí ngay trong kiếp này. Lama Zopa Rinpoche
27/12/2012(Xem: 16375)
Cấu trúc củaMười điều tâm niệm gồm ba phần: - Phần một,mô tả về mười nghịch cảnh với các đối tượng và cách đối trị để tất cả hành giảphải giữ chánh niệm và tỉnh thức, nhằm thấy được “mặt mũi” của chúng, nguyênnhân và cách thức đối trị. - Phần hailà giải pháp đối trị, tìm đối tượng có tính đối lập ở mức độ cao nhất hay hơn đểtừ vế A của hiện thực khổ đau, ta có được vế B của tâm linh như là kết quả tấtyếu của sự hành trì. - Phần ba làphần khuyến tu như tựa đề chung của tác phẩm Bảo vương tam muội niệm Phật trựcchỉ, để giúp ta thấy rõ hiện tính vô thường như bản chất và quy luật của sựvật hiện tượng để từ đó ta không quá bận tâm về những đổi thay liên hệ đến bảnthân và tất cả những gì diễn ra xung quanh.
27/12/2012(Xem: 23552)
Không tách lìa hiện tướng và tánh không. Đây chính là chánh kiến, chẳng còn gì sở đắc được hơn.
26/12/2012(Xem: 14651)
Người đời ai cũng muốn tìm cầu hạnh phúc, nên chạy đuổi theo tiền của, sắc đẹp, danh vọng, quyền thế, ăn uống và ngủ nghỉ… Họ lầm tưởng rằng sẽ được vui sướng lâu dài, nhưng cuối cùng vẫn phải gánh chịu nhiều đau khổ!
23/12/2012(Xem: 14870)
Chử Đồng Tử là người Phật tử Việt Nam đầu tiên. Ông sống cùng cha là Chử Cù Vân tại Hưng Yên trong thế kỷ thứ 3 trước Tây lịch. Một hôm, nhà cháy, chỉ còn chiếc khố hai cha con thay nhau mặc. Khi rời nhà, Chử Đồng Tử mặc khố và cha phải ở nhà, và ngược lại
19/12/2012(Xem: 16136)
Kinh thành đá Gia Na là thạch kinh có quy mô lớn nhất trên thế giới, với các tảng đá ma ni trên đó khắc lục tự chân ngôn và các loại kinh văn, là thắng tích văn hóa hiếm thấy.
10/12/2012(Xem: 18968)
Nhạc phẩm “Để gió cuốn đi” của Trịnh Công Sơn không phải từ đầu đến cuối đều có chất “Đạo nhập thế” được lồng ghép trong nhạc. Có câu, có đoạn, ý tưởng triết lý đạo Phật hiện rõ.
08/12/2012(Xem: 13089)
Bài này sẽ tập trung nói về đề tài, một vài cách tiếp cận các nguồn nghiên cứu Phật học Anh ngữ. Và qua đây, thử khảo sát một vài thắc mắc thường gặp. Đặc biệt, chúng ta sẽ dò tìm dấu tích Kinh Kim Cương, một kinh căn bản của Tổ Sư Thiền, trong Tạng Pali.
06/12/2012(Xem: 12137)
Do sức ép của công việc, sức ép của mọi thứ trong xã hội đã làm thay đổi cấu trúc đời sống sinh hoạt gia đình truyền thống mà các sắc dân ở các nơi đã phải đối diện.