05. Ngàn Thu Vẫn Còn

18/12/202508:35(Xem: 1311)
05. Ngàn Thu Vẫn Còn

NGÀN THU VẪN CÒN

(phần 1)

Hôm ấy, một ngày gần cuối năm, bầu trời thật ảm đạm và mưa phùn lất phất. Thời tiết đã bắt đầu bớt lạnh. Trên chuyến tàu tốc hành từ Bắc vào Nam, có toa xe chở những anh em học tập cải tạo được trả về với gia đình. Phương đang cùng một số bạn say mê ngắm những cảnh đẹp dọc đường, mà lúc còn chiến tranh, họ chưa bao giờ biết đến. Bỗng tiếng còi xe lửa hú vang, báo hiệu sắp đến ga, làm anh giật mình. Biết là ga mình phải xuống, anh ngậm ngùi từ biệt những người bạn đã từng cùng anh chia ngọt xẻ bùi nhiều năm trên đất Bắc. Họ nghĩ rằng rồi đây sẽ chẳng bao giờ còn gặp lại nhau nên cảnh chia tay thật cảm động. Rồi Phương co ro, vội vã bước xuống tàu, trong bộ đồ trại phát lúc về, không đủ che ấm trước cái lạnh còn sót lại của ngày cuối đông. Tàu đã lăn bánh nhưng Phương vẫn còn vẫy tay chào họ và đứng nhìn theo cho đến khi tàu mất hút trong mưa.

Phương không khó khăn lắm để tìm về tới nhà. Cảnh vật không khác mấy. Chỉ có người mua kẻ bán ở những quán xá hai bên đường gần đó không còn tấp nập như xưa. Anh đi vào sân nhà. Lúc ấy, có khoảng bốn năm đứa trẻ, vừa trai vừa gái, đang chơi trò bắt nẻ. Thật tình, anh không nhận

ra trong số ấy, đứa nào là con vì anh xa chúng đến nay đã gần bảy năm. Thấy người lạ vào nhà, một đứa chạy đi gọi mẹ. Cả nhà gặp nhau như đang sống trong mơ. Có anh về, vợ anh, chị Thứ hết sức mừng vui. Ngoài việc gia đình được đoàn tụ, chị không còn phải lo đi thăm nom anh. Hơn nữa, anh cũng có thể ở nhà cùng mẹ chăm sóc các con để chị yên tâm đi làm ăn.

Phương về mới mấy ngày, chưa được nghỉ ngơi. Anh đã đề nghị vợ, có việc gì chỉ anh làm để tăng thu nhập cho gia đình. Bà con chòm xóm biết anh siêng năng nên rất nhiều người muốn giúp dạy nghề cho anh nhưng anh chỉ thích học sửa xe gắn máy. Anh cố gắng học trong hơn nửa năm nhưng chẳng đi tới đâu vì chân tay quá vụng về. Rồi một hôm, Thứ bảo anh cùng đi với chị ra chợ Châu Ổ mua dưa hấu về chợ thị xã bán. Chuyến đi buôn thật nặng nhọc, tưởng về sẽ kiếm ăn được. Thật không may! Những ngày anh đem dưa bày bán trước chợ thị xã, trời liên tiếp mù mưa nên không có mấy người mua. Thêm vào, không biết dưa họ trồng thế nào, mà chỉ để có ba ngày, đã thối hết. Lòng buồn rười rượi, Phương kể cho mấy anh bạn gần nhà nghe. Có người cười, chọc anh:

Đi buôn chẳng lỗ thì lời,

Đi ra cho thấy mặt trời mặt trăng.(sưu tầm)

 

Lần đi buôn đó, coi như cụt gần hết vốn bỏ ra. Tuy vậy, anh vẫn không nản lòng. Một lần nọ, Thứ bị ốm, anh đề nghị cho anh đi buôn thay. Chị cũng muốn vậy vì biết đâu, anh lanh lẹ, sẽ giúp chị được một tay. Chuyến ấy, đi vào Sài gòn, anh đem theo mấy bao đường mười ký để kiếm tiền vé tàu. Lúc ở trên toa, gần đến ga Nha Trang, người ngồi bên cạnh anh oang oang cảnh

báo bà con giữ đồ cẩn thận chứ ga Nha Trang ăn cắp dữ lắm. Nghe nói, ai cũng đề phòng. Còn Phương lấy hai chân đạp lên hai bao đường, không dám ngủ và ngồi nói chuyện với người đó cho đến ga. Anh cẩn thận đến vậy nhưng thật lạ, sau khi tàu rời ga, anh chợp mắt một lát. Chừng thức dậy, kiểm tra lại, anh thấy mất một bao đường. Còn anh bạn kia mất nhiều hơn.

Còn lượt về, anh lên chợ Soái Kình Lâm mua vải theo đúng giấy vợ kê. Lúc đợi ở sân ga chờ giờ lên tàu, anh cố giữ bình tĩnh để nhân viên thuế vụ không nghi anh là con buôn. Nhưng không hiểu sao, đứng chỗ nào anh cũng thấy trống trải, hiện rõ túi xách của mình. Cứ chừng mươi phút, anh lại di chuyển, thay đổi chỗ đứng. Những lần như thế, tim anh rất hồi hộp vì nếu chẳng may bị bắt, coi như sạch vốn, lấy đâu cho vợ đi buôn. Rồi cuối cùng, anh cũng về tới nhà bình yên. Anh đã kể lại mọi việc cho vợ nghe. Chị Thứ nghi anh mê ngủ nên để mất bao đường. Chị rất bực bội và nói nặng lời với anh. Sau đó , do ảnh hưởng của chuyến đi, gần cả tuần, người anh rã rời, mệt mỏi như vừa ốm dậy do tinh thần quá bạc nhược.

Từ đó, chị Thứ không để anh đi buôn thế chị nữa. Anh rất buồn vì mong ước được giúp vợ không thành. Nhưng không biết làm sao hơn bởi mấy người thân đều cho anh không có tay đi buôn. Anh không dám ở nhà chơi không, đành phải đi học nghề lại. Anh quyết định làm vậy, phần vì sợ chính quyền thấy anh không có công ăn việc làm, sẽ cho đi kinh tế mới. Phần khác, anh biết sẽ không ở yên được với vợ nếu anh ngồi nhà chơi trong khi chị đi buôn cực nhọc. Anh nghĩ như thế vì thời gian qua, mỗi lần chị đi hàng về, thấy anh có vẻ nhàn rỗi, chị vạch điều nọ điều kia ra dằn vặt, trách móc anh. Nào là sao không đi mượn thang, sửa chỗ dột trên máng, chứ ít bữa mưa, nước chảy đầy nhà. Trong khi trời thì đang mùa hè, nắng chang chang. Nào là sao không thường xuyên xuống chợ thu tiền thiếu. Ôi không biết bao nhiêu thứ để chị có thể nói. Theo Phương biết, sở dĩ có điều đó, trước tiên là do tính chị hay nói. Hơn nữa, chị đi buôn bên ngoài, rất vất vả. Lắm lúc, chị phải đối diện với những hoàn cảnh ngặt nghèo, hồi hộp. Có khi hàng bị bắt, chị phải hạ mình năn nỉ, xin xỏ. Có lẽ vì vậy, chị sinh ra bẳn gắt. Rồi chị lại có tính, nói nặng lời với ai, chẳng mấy khi biết hối hận. Dù có hối hận, chị cũng chẳng bao giờ chịu xin lỗi, nên cứ tái diễn hoài. Đặc biệt, ai biết chị cũng đều công nhận chị rất xông xáo, giỏi giang. Mới ngày nào, cả gia đình sống nhờ vào đồng lương. Nay thời thế đổi khác, chị hòa nhập vào cuộc sống mới rất nhanh. Rồi người này hết lời khen ngợi chị. Người kia tỏ sự khâm phục tài xoay xở của chị. Ngoài ra, chị lại có chút nhan sắc nên một vài người đàn ông rất ngưỡng mộ chị. Những điều ấy đã nuôi lớn dần tính tự phụ vốn đã sẵn có nơi chị. Do đó, với gia đình, chị thường biểu lộ sự độc đoán, không muốn ai trái ý mình. Riêng đối với mọi người, chị cười nói rất vui vẻ, hoạt bát vì đó là sự cần thiết cho giao tế làm ăn. Còn Phương, bản tính trầm trầm, ít nói. Đối với vợ, anh thường nhường nhịn. Anh luôn nhớ hai câu thơ rất hay, ông bà ta thường dùng để khuyên dạy những người con gái đã lập gia đình:

 

Chồng giận thì vợ bớt lời.

Cơm sôi, nhỏ lửa, cả đời không khê. (sưu tầm)

Nhưng với anh, để êm cửa, êm nhà, anh nghĩ mình dùng cũng không sao nên đã tự sửa chữ “chồng” “vợ” qua lại, mỗi khi vợ lớn tiếng với anh.

Anh cũng đã từng khuyên vợ nên nhớ và áp dụng câu nói ấy hằng ngày để gia đình được vui vẻ, hòa thuận. Chị chẳng những không nghe, lại còn lấn lướt anh hơn.

Phương rất buồn là Thứ không hiểu những biến chuyển tâm lý của người có cuộc sống đổi đời nên chị luôn nói năng chẳng giữ lời. Ngày nọ qua ngày kia, Phương vẫn chịu đựng cách đối xử thiếu tế nhị của vợ và lòng thấy không vui. Anh nhớ khoảng hơn bảy năm trước, khi nguồn thu nhập chính của gia đình là từ anh thì cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc, yên vui. Nay anh như người vô dụng, vợ đã tỏ ra hất hủi, rẻ khinh mình. Thế rồi, lần nọ, chỉ có lý do đứa con gái út đi

chơi, bị trẻ hàng xóm xô ngã, sưng bầm chân, chị đã dùng từ “đồ vô tích sự” để nói với anh. Anh thấy rõ là “cây muốn lặng mà gió chẳng muốn ngừng”, anh càng nhịn, chị càng làm tới. Vì vậy, anh đã tỏ lộ sự bất bình nhưng với thái độ hết sức ôn hòa:

-Em biết tôi là con người, chứ không phải là một vị thánh. Em dùng lời lẽ nặng nề hoài, tôi không chịu nổi. Thật sự em muốn điều gì, cứ nói ra.

Như bị dồn nén nhiều ngày một điều chưa nói được, nay được dịp, chị nói không chần chờ:

-Hồi đó còn non dại, tôi thấy gia đình anh gặp chuyện quá đau lòng, tôi thương hại mà lấy anh, chứ không phải yêu anh. Nay tôi mới thấy mình lầm.

Lời nói của Thứ làm anh điếng người. Đó là một sự xúc phạm vô cùng nặng lời. Với một người khác, chắc chắn đã có một trận cãi vã kịch liệt. Nhưng với Phương, anh chỉ ngồi, cúi xuống ôm chặt lấy đầu. Phương nghĩ, bây giờ có nói gì cũng bằng thừa. Bởi vì trong thời gian gần đây, anh

thấy vợ đi buôn, lúc nào quần áo cũng đẹp đẽ, tươm tất, mặt mày sáng trưng. Chắc là có vấn đề ở ngoài đường nên về nhà, chị mới ăn nói với anh như vậy. Vì thế, từ đó, hố ngăn cách giữa hai người càng lớn. Một hôm, anh ngồi buồn, nghĩ vẩn vơ. Anh không tin lời vợ đã nói. Bỗng anh nhớ lại chuyện năm xưa.

Hồi đó, Phương ở nhà bác Ba, anh ruột của cha, đi làm. Phương đẹp trai, to con, có đôi mắt rất buồn, lúc nào cũng hơi hoe hoe đỏ, dường như vừa mới khóc xong. Nhà Thứ ở đầu đường. Hàng ngày, chị gặp Phương đi làm ngang qua và thường nhìn anh với sự cảm tình đặc biệt. Rồi một hôm, bác Ba qua nhà thăm ba mẹ Thứ, nói chuyện có ý muốn cậy người mai mối hỏi Thứ cho Phương. Từ ngày ấy, chị càng yêu anh hơn vì biết rõ hoàn cảnh gia đình anh, do câu chuyện bác Ba kể lại:

 

Ông bà, cha mẹ Phương đã cư ngụ trong một ngôi làng cạnh bờ sông, cách biển chừng vài cây số. Ở đây, dân cư có người sống bằng nghề nông, có người sống bằng nghề làm biển. Những gia đình làm biển, con trai ít người chịu theo học chữ, vì thấy làm biển hái ra tiền, học chữ làm gì cho mệt. Còn con gái cũng có người chịu đi học. Cha mẹ Phương làm nông và rất muốn con cái tiến thân bằng con đường học. Vì vậy, sau khi học hết bậc tiểu học trường làng, Phương được cha mẹ cho lên tỉnh ở trọ nhà ông bác đi học. Phương rất chăm học nên học rất giỏi. Năm ấy, anh học lớp Đệ tam, ở tuổi đang lớn, biết mơ mộng và thích yêu đương. Hằng tuần, mỗi chiều Thứ bảy, anh thường đạp xe về quê cùng với một cô gái, tên Lành, học dưới anh hai lớp và ở cách nhà anh chừng vài trăm mét. Chỉ một năm trước, Lành không có gì đặc biệt mà sao bây giờ dễ thương quá và Phương đã có ý mến cô. Vậy là chủ nhật nào, Phương cũng lân la đến nhà Lành chơi. Thoạt tiên, cha mẹ Lành không có ý kiến gì. Nhưng sau thấy Phương lui tới hoài, họ đâm bực vì biết Phương muốn đến với con họ. Tâm lý chung, một số người có định kiến, hễ con trai nhà nghèo muốn tới với con gái nhà giàu là có ý muốn “ đào mỏ”. Cha mẹ Lành cũng có ý nghĩ ấy nên rất coi thường Phương. Một lần nọ, Phương đi có việc, vừa ngang qua nhà Lành thì nghe có tiếng người trong nhà nói vọng ra:

Con cóc nằm nép bờ ao,

Lăm le đòi đớp ngôi sao trên trời.(sưu tầm)

Tiếp theo là một tràng cười rất lớn. Phương nghe và hiểu họ muốn nói gì. Anh đã đem điều này kể lại cho cha mẹ nghe. Cho nên, từ đó, hai bên gia đình có hiềm khích với nhau. Cha mẹ Phương thường tỏ lộ với bà con chòm xóm rằng ông bà khinh gia đình Lành giàu mà ít học.

Rồi trận lụt năm Thìn, trận lụt lớn có tiếng, tàn phá quê hương anh. Nước từ trên nguồn đổ về, tràn hết ra hai bên bờ sông và ngập nhà dân cư rất nhanh. Dân trong làng tìm cách đưa người đến những nhà lầu đúc để lánh nạn. Khu vực chung quanh nhà Phương chỉ có lầu đúc của gia đình Lành. Từ lúc chiều, nước còn thấp, mọi người đã di chuyển hết đến đây. Chỉ trừ cha mẹ Phương và hai đứa em là không đến. Một vài người nói chuyện với nhau, có lẽ ông bà đoán trận lụt cũng sẽ như mọi năm, chỉ hung dữ chừng nửa ngày rồi xuống. Vì vậy, ông bà để cả gia đình ở nhà, chờ nước rút. Thật sự, mọi người đâu có biết nguyên nhân sâu kín là cha mẹ Phương chẳng bao giờ chịu hạ mình nhờ vả gia đình Lành. Thế rồi, đêm hôm đó, nước dâng lên cao và chảy xiết lắm. Trong cơn hoảng loạn, chẳng ai còn nhớ đến ai. Giả dụ, có một người nào đó còn nhớ tới gia đình Phương, chắc cũng chẳng ai dám đi cứu họ nữa. Tới giờ phút này, cha mẹ Phương có hối hận cũng đã muộn rồi. Lúc ấy, mọi người đều ngồi ôm gối, ủ rũ. Chỉ có người anh họ của Phương, cứ nhấp nhổm đứng ngồi không yên. Bất thình lình, anh vụt hé cửa nhìn ra ngoài. Những âm thanh ghê rợn của gió rít, hòa với tiếng ì ầm của nước chảy cuồn cuộn, làm ai nghe cũng lạnh người. Nhưng anh vẫn cố nhìn về phía nhà Phương để tìm một tia hy vọng. Bỗng, có những giọng réo hú thất thanh như tiếng nhiều người kêu cứu não nùng ở đằng xa, về hướng nhà cha Phương vọng lại. Anh đóng sầm cửa lại, hét lên và ngồi quỵ xuống… Khoảng bốn, năm ngày sau, người ta đã tìm thấy xác của cả gia đình Phương được cột chặt lại với nhau ở những cánh tay, bằng một sợi dây dừa bện rất chắc. Phương đoán, có lẽ, cha anh trong lúc nguy cấp đã nghĩ ra cách ấy để thân nhân khỏi phải tốn công đi tìm kiếm nhiều ngày.

Cái chết của gia đình quá đau lòng, chỉ bắt nguồn từ sự hiềm khích, mà nguyên nhân là do Phương, anh nghĩ vậy. Vì thế, nỗi ám ảnh cứ ray rứt anh, hết tháng này tới năm kia. Mỗi lần nghĩ đến, nước mắt anh cứ ứa ra, khó kìm giữ lại được. 

 

(phần 2) 

 

Sau này, khi hai người yêu nhau, Thứ đã thú thật câu chuyện đã làm chị buồn trong nhiều ngày. Chị còn nói chính đôi mắt to, gợn buồn của anh đã chinh phục chị ngay từ ngày gặp gỡ đầu tiên. Vậy mà, bây giờ Thứ nói ngược lại hết. Phương càng nghĩ càng buồn.                                                                                                       

 

Có nhiều đêm nằm thao thức không ngủ được, trong đầu anh cứ lởn vởn : “Thứ lấy mình vì thương hại, vì lầm”. Nhiều lần, anh về nhà thím Bảy thăm chơi. Thím thấy anh xanh và gầy, cứ gặng hỏi lý do. Đầu tiên, anh nói loanh quanh, nhưng cuối cùng anh phải nói thật với thím. Rồi anh đưa ý kiến: Anh thực sự quá chán ngán cảnh chung sống với vợ như thế này. Anh muốn bỏ đi một nơi nào thật xa, nhưng không biết đi thì làm gì để sống. Hơn nữa, tình thương hai đứa con làm anh rất khó xử. Thím Bảy nghe xong, thở dài:                                                          

 

-Nghiệp của con nặng quá. Thím nghĩ vì mấy đứa nhỏ, con không đi đâu hết. Đi đâu con cũng phải trả nghiệp thôi. Chi bằng, con nên từ từ khuyên nó, lúc nó vui vẻ, để nó bỏ tính ăn nói với chồng như vậy.  Đừng vì một lý do nào mà bỏ nhau.                                                                                                                                                                     

Thím còn giải thích cho anh, theo sự hiểu biết của thím, việc vợ chồng, con cái đến với nhau không phải ngẫu nhiên mà do nghiệp đưa đến. Họ đến để đòi nợ, trả nợ hoặc để đền ơn, báo oán. Thành thử, có vợ chồng rất thương yêu nhau. Có vợ chồng gặp nhau là xung đột. Còn các đứa con cũng vậy. Cùng trong một gia đình, có đứa rất hiếu thảo, luôn chăm sóc, hỏi thăm mẹ cha. Có đứa bất hiếu ngỗ nghịch, gây khổ trăm bề. Nếu biết được vậy, thì dù gặp hoàn cảnh nào cũng không nên chạy trốn. Vì không trả cách này, cũng phải trả cách khác; không trả kiếp này, cũng phải trả kiếp khác. Cách tốt nhất là làm nhiều việc lành để hóa giải nghiệp xấu kia. Mà việc lành gần nhất là vợ chồng nên ôn hòa dàn xếp những bất đồng.                                                                                     

Phương nghe, chỉ im lặng, không nói. Rồi khoảng đâu năm, sáu tháng sau, chị Xuyến, con bác Ba, ở Sài Gòn gửi thư về. Chị báo, chồng chị trong lúc lái xe lam chở khách, đã bị một xe lớn ép vào lề đường, anh ngã xuống bị thương rất nặng. Thấy hoàn cảnh của Phương, chị muốn gọi anh vào làm thay việc của chồng chị trong một thời gian. Cốt ý chị muốn để cho Thứ thấy việc chồng bỏ đi xa như vậy là có ảnh hưởng xấu cho mình và sẽ thay đổi tính nết. Chừng đó Phương về, sẽ dễ sống hơn. Phương đọc xong thơ, lòng vui hẳn lên vì biết đâu, đây sẽ là dịp may. Vào trong đó, anh tìm được việc và không về. Chiều hôm ấy, anh kể lại sơ lược sự việc cho vợ và nói:                                                                                                                                                                                                     

-Anh thấy anh ở nhà chẳng giúp được gì cho em vì việc nhà đã có mẹ lo rồi. Anh muốn vào giúp chị Xuyến một thời gian, kiếm chút tiền phụ với em.                                                                                                                          

Không chần chờ, Thứ trả lời bằng giọng gay gắt:                                                                                                                        

-Được đó. Ông đi đi. Ông đi tôi rất mừng. Ông đi mà không về, tôi sẽ làm heo đãi cả xóm.          

Câu nói của vợ đã không làm anh buồn, dù là lời nói rất phụ bạc. Trái lại, anh nghĩ, anh sẽ rất yên tâm khi ra đi, bởi vợ chẳng thiết tha gì với anh. Hơn nữa, lúc ấy, trong đầu anh lóe lên ý nghĩ trả thù. Anh biết mình có tính nhẫn nhịn với vợ mà ít người đàn ông nào có. Anh mong Thứ lấy chồng khác và vẫn giữ tính ăn nói bừa bãi, xốc óc như vậy, chắc chắn sẽ gãy gánh giữa đường.                                                                                                                    

Thế là Phương, từ nay, sẽ có một cuộc sống mới khác. Lúc đầu, anh cứ tưởng vào ở giúp chị Xuyến một thời gian. Chừng đến nơi anh mới biết chồng chị có khỏi, cũng tàn phế, không lái xe được. Vậy là anh có việc làm dài lâu.                                                                                                                                                                                

Hai chị em rất thương mến nhau vì họ có cùng hoàn cảnh, chịu bất hạnh trong đời sống vợ chồng. Họ lại còn cho rằng họ chịu ơn nhau. Cứ nghĩ vậy nên tiền thu được từ việc chạy xe, chị Xuyến muốn đưa cho em kha khá, không phải như trả cho người làm công. Còn Phương không muốn lấy tiền của chị nhiều vì anh rể tàn tật. Anh ấy đã không làm ra tiền, lại còn cần chi nhiều tiền thuốc cho anh. Từ ấy, Phương có chút ít tiền dành dụm. Tuy hết sức hận vợ và biết vợ làm ăn khấm khá, nhưng cứ vài ba tháng, anh lại gởi tiền về phụ vợ nuôi con. Người giúp anh liên lạc trao tiền cho Thứ, lần nào về, cũng ghé lại nhà thím Bảy. Thím kể đã nhiều lần, thím khuyên Thứ nên hồi tâm, thay đổi tính nết để gọi Phương về, nhưng chị ấy không nghe. Thím thấy cứ tình trạng này, chắc rồi Thứ sẽ lấy chồng khác.                                                                                                                          

Quả vậy, không bao lâu sau, việc phải đến, đã đến. Tin đồn chị Thứ có chồng. Phương nghe điều ấy với thái độ dửng dưng. Còn chị Xuyến, sau đó, cứ khuyên Phương nên lấy vợ. Anh một mực từ chối, lấy cớ rằng anh đã quá chán ngán cuộc sống vợ chồng rồi. Cứ nghĩ tới những lời chì chiết của vợ là anh thấy ớn lạnh.                                                                                     

Thế rồi, một sự việc vô cùng kinh ngạc đã đến với anh. Một buổi tối nọ, vào khoảng tám giờ, anh đi làm vừa về tới nhà thì biết có người chờ gặp anh. Sau vài lời thăm hỏi xã giao, người ấy vào ngay chuyện. Anh ta có người chị, tên Trân, muốn đi Mỹ và biết Phương đã học tập cải tạo trên ba năm nên nhờ anh ấy tới hỏi chuyện. Nếu Phương đồng ý, anh ta mời Phương đi dùng cơm tối với hai chị em của anh để bàn bạc. Phương đồng ý, không chút do dự. Xong việc, người này đưa Phương về nhà. Anh quá đỗi vui mừng, kể lại mọi việc cho vợ chồng chị Xuyến nghe. Đời anh, một lần nữa, sắp có sự thay đổi lớn. Anh sẽ có vợ và được đi Mỹ. Trân chỉ cần bản gốc giấy ra trại của Phương và giấy tờ cần thiết của hai đứa con anh. Sau đó, mọi việc chị sẽ lo hết.                                                                                                                        

Thấm thoắt, đã đến ngày lên máy bay đi Mỹ. Phương hết sức sung sướng, cứ ngỡ mình đang sống trong mơ. Vì biết bao nhiêu người bạn của anh nạp đơn trước rất lâu mà đã thấy tăm hơi gì đâu.                                

Gia đình anh đến sinh sống tại một tiểu bang miền đông nam Hoa Kỳ. Phương và Trân sống rất hạnh phúc, bên hai đứa con riêng của mỗi người. Họ chưa phải đi làm vì còn đang trong thời kỳ hưởng trợ cấp. Lúc ấy, vào mùa đông, tuyết rơi nhiều. Hằng ngày, Phương không muốn đi đâu, chỉ thích ngồi ở nhà nghe Trân nói chuyện vì âm giọng thật dịu dàng, ngọt ngào và vẻ đẹp qúy phái của chị đã cuốn hút anh. Phương thấy đời mình thật tuyệt vời khi được sống với người vợ như Trân.                                                                                                                                       

Rồi vào một hôm, sau ngày hết hạn ăn trợ cấp, Phương được một người làm việc cho Hội Bảo Trợ đến chở đi tìm việc làm. Khi về, vào phòng, anh thấy hiện tượng lạ. Cửa tủ treo quần áo của hai vợ chồng mở toang. Anh kiểm tra, không thấy quần áo của Trân. Hoảng hốt, anh chạy qua phòng mấy đứa con của vợ cũng trống trơn. Anh nằm vật xuống giường, hai tay bấu vào tóc, rên rỉ:                                                                                                  

-Đây là thật hay mơ ? Sao đời tôi cứ mãi gặp chuyện bất hạnh như thế này?                                                           

Từ ấy, Phương càng thù hận đàn bà hơn. Anh ở Mỹ tới gần mười lăm năm nhưng chưa bao giờ nghĩ tới chuyện cưới vợ lần nữa, mặc dù anh để dành được khá nhiều tiền và vàng. Đã vậy, thỉnh thoảng, anh còn được nghe kể: nhiều thanh niên về Việt nam cưới vợ, đem qua và sắm xe hơi đẹp cho đi, ở được vài tháng thì cuốn gói đi mất. Thậm chí, có người còn có con với chồng, để con lại, rồi bỏ chồng đi biền biệt. Cứ mỗi lần anh nghe tới, cơn giận lại sôi lên. Anh lầm bầm nguyền rủa cho đã cơn giận:                                                                                                                                                                                                                                     

-Cái thứ đàn bà bạc như vôi.                                                                                                                                                                 

Hiện anh còn có dự tính, sau khi đứa con gái út lập gia đình, anh sẽ nghỉ hưu sớm ở tuổi 62 và về Việt nam, mua một căn nhà để dưỡng già. Bà Sáu làm cùng hãng, nghe tin này, liền tới gặp anh. Bà nói bà có đứa cháu gái nuôi, tuổi chừng 35, không đẹp lắm, nhưng rất hiền, lỡ thời rồi ở vậy. Bà thấy hoàn cảnh anh đã gặp long đong nhiều về đường tình duyên, mà cháu bà thì sống một thân một mình nên bà muốn giới thiệu cô ấy cho anh. Thật ra, anh cũng đã có ý định về Việt nam lấy vợ, cốt là để trả thù đàn bà, mà người đầu tiên là Thứ. Chính chị là đầu dây mối nhợ đem đến cho anh nhiều nhục nhã và anh đã chịu bao khổ đau trong suốt nhiều năm. Vì vậy, khi nghe bà Sáu nói, anh chịu ngay. Anh cũng nói rõ cho bà biết, anh cưới vợ chỉ để sống ở Việt nam, chứ không đưa qua Mỹ.                                                                                                                                                             

Đúng như dự định, anh về quê, cố tìm mua một căn nhà thật đẹp, càng gần nhà Thứ càng tốt. Mua được rồi, anh gọi điện thoại cho bà Sáu về. Vì mọi việc, bà đã sắp xếp từ trước nên bà bảo anh Phương, chỉ cần chọn ngày để làm đám cưới. Anh có đủ sức để tổ chức đãi tiệc ở nhà hàng lớn nhưng anh không làm. Anh muốn làm ngay tại nhà mới mua, cốt mời hết bà con chòm xóm để chọc tức chị Thứ chơi. Trong bữa tiệc có chương trình văn nghệ giúp vui. Tới hồi không khí buổi tiệc trở nên sinh động thì có hai thanh niên lên. Một anh xin ngâm thơ. Anh ta cố ngâm thật hay, theo giọng hát ru con của người Bắc, để gợi sự chú ý của mọi người:                                        

 

Có Phước lấy được chồng già,

Mai sau lão chết cửa nhà về tôi! (sưu tầm)

Trời mưa nước chảy qua sân,                                                                                                                                                                              Em lấy ông lão qua lần thì thôi,                                                                                                                                                                 Bao giờ ông lão chầu trời ,                                                                                                                                                                     Thì em lại lấy một người trai tơ. (sưu tầm)                                                                                                                            

Mọi người cười ồ lên. Mặt anh Phương tái hẳn đi. Không chần chờ, anh thứ hai ngâm tiếp:                                                        

 
      Trâu già ưa gặm cỏ non,  
      Liệu xem đủ sức để còn gặm không!?                                                                                               
      Hay là qua quýt cho xong.
      Già ham trống bỏi, mau còng lưng thôi!                                                                                              

(Trống bỏi: đồ chơi bằng giấy giống hình cái trống. Nghĩa bóng: Những lão già thích phiêu lưu tình ái với những cô gái trẻ.)                                                                                                                

Tốp thanh niên vỗ tay, đập bàn, lấy muỗng gõ vào ly thủy tinh, và cười ngặt nghẽo. Anh Phương ngồi chết trân, mặt đanh lại và ánh mắt long lên nét dữ tợn.                                                                                                                                                                         

Tiệc tan, anh hỏi đứa cháu chịu trách nhiệm mời khách, mới biết hai thanh niên đó là cháu của chị Thứ. Anh Phương không thể trách cháu được vì chính anh đã đưa ra ý kiến nên tìm mời vài người bà con của chị . Anh muốn làm vậy. Vì chắc chắn khi đi dự tiệc về, họ sẽ kể lại cho chị Thứ nghe anh Phương có vợ trẻ đẹp, có nhà mới trang trí thật sang trọng. Thế nào chị ấy chẳng tức lộn ruột lên. Không ngờ, việc chị có tức hay không thì chưa biết, chứ hiện anh đang rất bỉ mặt với bà con, bạn bè. Anh còn điên tiết hơn khi nghe có một người trẻ nói với bạn: “ác giả, ác báo : hại người thì có người hại lại thôi.”                                                                                 Ai cũng tưởng điều đó sẽ làm anh nhụt lòng, từ bỏ việc tìm kiếm cách trả thù chị Thứ. Nhưng không, anh đang rất cay cú vì quả quyết chị Thứ có nhúng tay vào. Chứ bọn trẻ không thể có những lời đó. Vậy nên, anh dự tính làm nhiều điều để trả đũa chị: anh sẽ mua cho vợ một chiếc xe gắn máy loại đắt tiền nhất. Rồi lần lần anh sẽ đưa vợ đi du lịch, thăm những nơi nổi tiếng trong nước và nước ngoài. Mỗi lần đi, anh phải cố làm sao để cho chị Thứ biết …                                                                                                                                                                       

Bao nhiêu toan tính anh Phương đã, đang và sắp làm nhằm cho chị Thứ biết để trả thù, chẳng qua tại anh không biết gì về những thay đổi lớn trong cuộc đời của chị…                                                                                                          

Chị Thứ không muốn mình mãi mãi là mục tiêu cho anh Phương nhắm vào để trả hận. Chị đã mệt mỏi lắm với trò “ ăn miếng trả miếng” rồi. Do đó, mấy ngày liền chị cố nhớ để ghi lại đầy đủ những điều cần viết cho anh. Xong, chị đem nhờ thím Bảy đưa. Chị biết anh Phương rất kính nể thím và chỉ có thím mới bảo được anh đọc thư của chị.                                                                                                                                                                             

Anh Phương cầm lá thư từ tay thím Bảy với sự miễn cưỡng. Thấy vậy, thím giải thích cho anh: một số người thường tìm về với Đạo khi gặp những đau khổ tột cùng về tình yêu hay bị thất bại lớn trong cuộc đời. Thứ cũng vậy. Mấy năm nay, Thứ thường làm công quả cho chùa Sư nữ. Tính nết Thứ thay đổi nhiều lắm. Nghe xong, anh Phương mới chịu hứa là sẽ đọc vì muốn tò mò xem Thứ thay đổi những gì.                                                   

Phương cầm thư về nhà nhưng không dám đọc. Anh chờ vợ đi chợ, mới vào phòng lén mở ra xem. Đọc xong lá thư, anh muốn vò nát, vất đi vì sợ vợ biết sẽ có chuyện không hay. Nhưng sao vừa định làm thì anh lại ngừng vì lá thư đem lại cho anh quá nhiều suy nghĩ. Anh tìm chỗ giấu để lúc nào vợ đi đâu, anh sẽ lấy ra đọc lại. Anh mới đọc chỉ mấy lần, đã nhớ hết. Vì vậy, lần này, vợ vừa ra khỏi nhà, anh ra ngồi dựa vào ghế sofa, mơ màng nhớ từng chi tiết của lá thư: 

 

 

(phần cuối) 

 

Vào thư, chị Thứ xin lỗi anh về những lời nói độc mồm, độc miệng chị đã dùng với anh. Rồi vì khẩu nghiệp quá nặng, quả báo nhãn tiền đã đến với chị. Vì được nhiều người khen ngợi, ca tụng nên chị đâm ra kiêu căng, tự phụ. Sự nhẫn nhịn của anh là một đức tính thì chị cho anh là thứ đàn ông hèn. Chị thực sự muốn anh bỏ đi để chị tìm người chồng cho ra người chồng. Chứ có đâu, người gì mà mình nói sao, cũng chẳng muốn trả lời. Anh càng im, chị càng giận nhiều hơn. Lúc ấy, chị đã xem thường anh đến mức, sự thật là có yêu anh thì lại bảo thương hại anh. Thế rồi, chị đã bị “gậy ông đập lưng ông” ngay mấy năm sau đó.                                                            

Phương bỏ nhà đi Sài gòn được khoảng hai năm thì chị lấy chồng, một anh vừa là chủ, vừa tài xế xe đường dài. Được tin vợ anh ta bị đau ung thư chết, Thứ không muốn bỏ lỡ cơ hội, nhận lời lấy anh ta vì đi buôn hàng chuyến mà có tài xế che chở cho, hàng hóa rất khó bị bắt. Hơn nữa, anh ta rất vui tính, hoạt bát, không phải lừ đừ như Phương. Không ngờ, tay tài xế này bắt cá hai tay. Khi vợ đang bệnh nặng, anh đã cặp bồ với một chị có sạp bán trong chợ và chị này đã mang thai. Thứ hí hửng tưởng mình đang là bà chủ xe nên lên mặt với hành khách và họ ghét, đi báo cho chị vợ kia. Thế là Thứ bị đánh ghen hội đồng. Vì quá giận anh tài xế sở khanh, chị mắng anh ta thậm tệ. Nhưng anh ta từ phụ xe rồi lên đến tài xế đâu phải hạng vừa. Chị mắng anh ta một, anh đáp trả tới hai, ba. Đến phút cuối, để chị không biểu lộ tính hung hăng nữa, anh kết luận:                                                                                                 

-Tốt gì thứ bỏ chồng. Tôi “thương hại” mà lấy bà thôi.                                                                                                            

Anh Phương nhớ đến đoạn này, lòng rất khoan khoái. Anh mỉm cười, nghĩ tiếp:                                               

Chuyện xảy ra như vậy nhưng Thứ vẫn chưa thấy đó là nhân quả báo ứng. Tính tự cao vẫn không chừa. Nhất là sau khi Phương cùng các con đi Mỹ rồi, chị càng thấy mình có giá. Bởi giờ chị như gái chưa chồng con, mà lại đẹp, giỏi. Lúc này có đủ thời gian cho chị chọn lựa. Thứ phải tìm người xứng đáng để lấy. Ước nguyện của chị đã thành. Chồng chị là một chủ tiệm buôn khá lớn ở Sài Gòn. Anh ăn nói rất nhã nhặn, chững chạc. Hai vợ chồng cùng đứng bán ở cửa tiệm khoảng một năm. Sau, anh giao hẳn tiệm cho chị trông coi vì biết chị có thể quán xuyến được. Còn anh tính chuyện làm ăn khác. Rồi anh tham gia vào một tổ chức buôn lậu, bị bắt và bị kết án tù. Khoảng năm năm sau, anh được thả về thì tiệm buôn không còn đông khách như xưa. Lượng hàng trong tiệm cũng ít hơn trước.                                                                                                                                                                   

Lúc còn trong tù, anh cứ nghĩ do tin tưởng vợ và giao cho chị mọi việc nên anh mới ra nông nỗi này. Nay tiệm thì như vậy, rồi nhiều người thân nói ra nói vào, do vợ chồng không hợp tuổi nên mới sinh ra những chuyện không may. Từ chỗ rất quí vợ, nay anh xem vợ như một thứ quỷ ám trong nhà. Thêm vào, bị ở tù mấy năm, phải chung đụng với những người ăn nói cộc cằn, nên anh bị nhiễm tính. Vì vậy, cứ thấy vợ làm gì trái ý là anh mắng nhiếc bằng những lời thô lỗ. Tháng nọ qua năm kia, chị cắn răng chịu đựng, không dám hé miệng nói nửa lời. Cãi lại anh ta, cơn giận của anh sẽ dữ dội hơn. Lỡ bị anh đuổi ra khỏi nhà thì làm sao tìm được nơi khác như ở đây. Vì lúc này tuổi đã cao, chị không muốn chạy buôn bên ngoài nữa nên phải ráng cam chịu.                                                                                                                                                                                                                

Nói vậy chứ sức người chịu đựng cũng có hạn. Thứ cảm thấy chán cảnh sống này. Rồi tình cờ, chị gặp một người bạn học cùng trường hồi xưa. Thứ tâm tình với bạn mọi việc. Chị này giải thích và khuyên Thứ rất nhiều. Chị thấy mọi điều chị ấy nói thật quá đúng cho trường hợp của mình. Những lời của bạn cứ như vang vang trong đầu chị. Giờ chị mới nhận ra, với người đàn bà, có tài và đẹp chưa đủ mà cần phải biết khiêm nhường nữa. Đây là điều căn bản cần cho giao tiếp ngoài đời và cả trong cuộc sống hạnh phúc gia đình nữa. Có khiêm tốn, đời sống sẽ êm xuôi trôi chảy. Còn như ngược lại là tự cao, mà xử sự bằng thái độ tự cao với ngoài đời thì gặp lắm thất bại, còn với gia đình thì xào xáo mãi không yên. Sau bao lần gặp đắng cay, ngồi nghiệm lại, Thứ thấy mình mắc phải tính ngã mạn và từ đó đã đưa tới nghiệp khẩu. Như vì quá kiêu ngạo nên chị có cách đối xử gần như xem thường những người đến mua bán với chị. Đôi khi, chị còn biểu lộ sự bực bội, nói năng lớn tiếng với họ. Thành thử tiệm buôn ngày càng vắng khách. Càng nghĩ, Thứ càng thấy ân hận về những việc đã làm. Nếu không có bạn chỉ cho, biết bao giờ chị mới nhận ra lẽ phải.                                                             

Rồi tiếp đến, đứa con lớn ở Mỹ gởi tiền về biếu chị và báo tin nó đã có việc làm. Còn đứa em, cuối năm sẽ ra trường. Chị sung sướng quá. Chị nghĩ, từ nay, chị có các con giúp và thêm số tiền chị dành dụm trước kia, sẽ đủ cho chị tiêu dùng thong thả ở tuổi sắp về già.  Chị không cần lệ thuộc tài chánh vào chồng nữa. Chị không chần chờ, nói thẳng với chồng những cảm nghĩ của mình rồi xin chia tay.                                                                         

Thứ nhấn mạnh chị muốn nói hết, không giấu giếm, sự thật về một quãng đời của chị. Không phải để chị van xin anh Phương một điều gì mà là để nhắc nhở anh rằng đừng xem thường luật nhân quả. Hãy luôn nghĩ đến nó để tránh xa việc làm ác. Cứ nhìn vào kết quả đầy bi thương của đời chị để làm gương. Trong khi có chồng hết sức yêu thương mình và biết lo cho con cái, chị chưa hài lòng vì chồng không hoạt bát, vui vẻ. Chị đứng núi này trông núi nọ. Do đó, chị cố tình muốn bỏ chồng để tìm một người khác vừa ý, rốt cuộc, kết quả là người sau chẳng bằng người trước. Chị nhớ ông bà ta có câu khuyên dạy thật hay về điều này: “Chê tôm ăn cá lù đù.” Khi chị biết được thì đời chị đã lận đận tới mấy đời chồng. Thật xót xa!                                                                                                                         

Nghĩ tới đây, anh Phương không cười vui. Lòng anh cảm thấy bùi ngùi, thương hại cho chị. Rồi chị Thứ kể, tiếp sau sự việc này, chị nghe lời người bạn đã khuyên. Chị đi chùa thỉnh kinh sách và nhất là các băng đĩa giảng Phật pháp để tìm hiểu và áp dụng vào cuộc sống. Chị mừng quá khi đọc thấy một câu Cổ nhân dạy. Nếu chị biết trước và đem ứng dụng thì đời chị đâu có long đong đến mức này:                                                                                                                                 

“Thất bại lớn nhất của đời người là tự đại”.                                                                                                                

Lá thư đã cuốn hút anh Phương thật nhiều. Anh thích thú nghĩ tiếp. Thứ trách anh rằng anh đã có tính nhẫn nhịn mà sao thiếu đức tính khoan dung. Chính vì thiếu tính ấy nên đời anh đã hai lần gặp khổ và rồi còn làm liên lụy đến cả những người thân. Một lần vì quá chấp vào câu ca dao: “Con cóc nằm nép bờ ao, lăm le đòi đớp ngôi sao trên trời” và quá chấp vào một tràng cười nên anh mới về nói với cha mẹ và đưa đến cái chết hết sức bi thảm cho cả gia đình. Lần thứ hai, anh quá chấp vào những lời nói nóng nảy, điên rồ của chị. Trong khi, đã từng có lần, anh khuyên chị rằng “no mất ngon, giận mất khôn”, tức là anh đã biết những lời ấy của chị là không khôn. Vậy mà, anh đã chấp và bỏ đi khỏi nhà, không một lời thư về, để rồi cả vợ chồng phải chịu nhiều cảnh trái ngang.                                                                                                                                                                                                      

Nghĩ đến đây, anh Phương vô cùng xúc động. Bao lâu nay, anh đâu có thấy được điều ấy. Lòng anh  buồn tê tái. Chỉ do quá chấp nhất, để rồi phải lãnh những hậu quả hết sức đớn đau. Về chuyện của hai người, phải chi hồi đó, đừng găm gút, anh chịu nghe lời thím Bảy khuyên thì vợ chồng đâu gặp cảnh ê chề trong nhiều năm. Những câu: “Đừng vì một lý do nào mà bỏ nhau…”  và “… không trả bằng cách này cũng phải trả bằng cách khác…” cứ quanh quẩn mãi trong ý nghĩ làm anh quá buồn khổ. Chờ cho nỗi cảm xúc dịu lại, anh nhớ tiếp:                                          

Thứ còn nêu trường hợp của chị Trân. Đồng ý là chị ấy đã lừa anh. Nhưng anh không thấy rằng nhờ chị ấy có tiền bỏ ra, lo làm mọi việc nên anh và hai con mới qua Mỹ rất sớm, ít nhất là ba năm. Thời gian đó, anh và chúng đã làm ra biết bao nhiêu là tiền. Hơn nữa, chúng qua lúc còn nhỏ tuổi nên mới dễ thành công như vậy. Đáng lẽ anh phải chịu ơn người ta mới phải. Đằng này, anh không nhận ra mà cứ cho là người ta đánh lừa mình rồi ôm lòng hận họ.                                                                                                                                                                      

Nghe các con nói, sau khi chị Trân bỏ đi chừng một năm, anh mang nhiều căn bệnh nguy hiểm, dễ đưa đến cái chết như mất ngủ liên tục, bệnh tim và cao huyết áp. Có phải do tâm anh, lúc nào cũng chứa đầy ắp những sự sân hận nên mới phải lụy vào thân những bệnh ấy không? Còn nữa, có phải cũng vì cái tâm nặng trĩu hận thù ấy cứ canh cánh mãi bên lòng nên tóc anh đã bạc trắng khi tuổi đời chưa tới năm mươi và sắc mặt anh lúc nào cũng biểu lộ sự cay cú của kẻ hận đời không ? Thật tội cho anh! Anh đâu có biết rằng làm như vậy là anh đang tự giày vò tâm tư mình để rồi rước khổ vào thân, chứ người mình thù ghét nào đâu có biết gì!                                                                                                                                                  

Nhớ tới đây, anh Phương ngừng. Anh thấy những lời chị Thứ nhận xét sao giống như người trong cuộc quá. Anh đoán, có lẽ, trước đây, đã có lúc chị cũng có tâm trạng như anh. Nay nhờ hiểu Đạo nên chị mới nhận ra điều đó. Bỗng dưng, anh nhớ tới lời một người bạn nói với anh hồi lâu lắm: “cùng một vấn đề, người ngộ và kẻ mê sẽ có cách giải quyết khác nhau một trời, một vực”. Rồi anh nghĩ tiếp:                                                         

Thứ mong anh đừng thù hận chị nữa. Những việc làm như mua nhà, tổ chức tiệc cưới trong nhà gần nơi chị ở, ai cũng đều biết dụng tâm của anh. Còn việc anh cấm cản các con không cho chúng bảo lãnh chị qua Mỹ, tới giờ này, anh đã nhận ra sai lầm chưa? Anh có biết, anh đã nhồi nhét vào đầu chúng bao nhiêu cái xấu của chị để ép chúng làm điều bất hiếu không? Bởi, dù gì, chị cũng đã nuôi nấng chúng ít nhất hơn mười lăm năm trong những ngày tháng vô cùng khó khăn, cơ cực. Chúng đã gửi thư cho chị, bày tỏ sự ân hận và khóc rất nhiều khi đọc tin tức về những đứa trẻ mồ côi bị cha mẹ bỏ rơi ngay từ lúc mới lọt lòng, rồi sau được đưa qua Mỹ. Đến khi chúng trưởng thành, còn biết về quê hương truy tìm nguồn cội. Các con nó nói, so công sức chị bỏ ra để dưỡng dục chúng, còn lớn hơn gấp bao nhiêu lần sự mang nặng đẻ đau của những bà mẹ đám trẻ mồ côi kia. Vậy thì tại sao chúng phải quên công ơn sinh dưỡng của chị? Chị biết đó là việc làm quá sai của anh. Mong anh hiểu rằng bao nhiêu quả xấu liên tục đã đến với anh trong cuộc đời này là do nhân ác anh đã gây tạo trong quá khứ. Vậy anh hãy ngừng mọi việc xấu, ác lại ở đây là vừa. Nếu hai bên cứ trả thù nhau mãi thì bao giờ mới dứt!!! Chị có câu thật hay của Cổ nhân dạy, anh nên ghi nhớ để dừng đi những toan tính đen tối nhắm vào chị:                                                                                                                                                                                                                      

“Sai lầm lớn nhất của đời người là đánh mất mình”.                                                                                                        

Anh Phương ngừng lại, ra vẻ suy tư. Anh cảm thấy lời dạy ấy thật thấm thía với anh. Anh ray rứt vì xấu hổ qua những việc đã làm. Rồi anh nhớ tiếp:                                                                                                                               

Cuối cùng, chị Thứ khuyên anh hãy cố gạt bỏ những chuyện cũ đáng buồn của hai bên. Nay chị muốn cùng anh lo một việc rất quan trọng cho vong linh những người thân của anh. Đó là việc làm Trai Đàn Chẩn Tế để cầu siêu độ cho cha mẹ và hai đứa em …                                                                                                                         

Anh đang nằm trên ghế sofa, vừa nhớ điều đó thì tự nhiên bật mình ngồi dậy. Anh biết thời gian gần đây có nhiều anh em bạn về Việt nam làm việc ấy. Tuy anh không hiểu nhiều về Đạo nhưng anh biết đó là điều rất tốt cho những người thân của anh đã chết trong oan ức, tức tưởi. Tiếc rằng anh đã không lo, để chị Thứ phải nhắc. Chị Thứ lại còn gợi ý muốn chung sức với anh nữa. Tự nhiên, anh thấy xúc động vì tấm lòng của chị. Anh còn mến phục chị nhiều hơn khi nhớ tới lời kể của thím Bảy là từ ngày chị ly dị chồng ở Sài Gòn về, năm nào đến ngày giỗ cha mẹ và hai em của anh, chị cũng cúng chay cầu siêu ở chùa Sư nữ.                                                                            

Tới đây, anh Phương thật sự kinh ngạc. Không ngờ, gần cuối cuộc đời, anh lại học được nhiều bài học rất có giá trị, từ một người có lắm sai lầm, nay đã đổi mới hoàn toàn nhờ hiểu Đạo. Trong những điều đáng ghi nhớ, đặc biệt nhất là tấm lòng vị tha và sự rộng lượng chân thành của chị đã gây mối xúc cảm mạnh mẽ vào tâm hồn anh. Từ chỗ ghét cay, ghét đắng chị Thứ, thế mà, chỉ nhờ nhận ra sự cao thượng của vợ cũ, anh đã bị cảm hóa bất ngờ. Giờ này, anh nghiệm thấy không gì làm thay đổi tâm tính một con người từ xấu qua tốt nhanh bằng lấy lòng nhân hậu để đối xử với họ.                                                                                                                                        

Anh tâm đắc nhất là đoạn thư ở cuối. Theo anh, đó cũng là những điều tâm huyết chị Thứ muốn nhắn gởi tới anh. Chẳng hạn chị nhắc nhở anh: “mọi việc đến với mình dù có nghiêm trọng đến mấy thì nên mở chứ không nên gút, nên buông xả chứ không nên ôm sân hận vào lòng”. Thứ còn nói, chị sẽ cảm thấy hết sức hạnh phúc nếu anh Phương làm được điều Phật dạy:                             

Lấy ân báo oán, oán tự tiêu tan.                                                                                                                  Lấy oán báo oán, oán thêm chồng chất.                                                                                                                                                                                                                                                                        

Vế trên anh đã đọc nhiều lần, nhưng lần này anh mới thấy giá trị. Vì anh mới nhận ra, lời dạy này chị Thứ đã áp dụng trọn vẹn qua những việc chị đã làm cho anh. Anh đã vô cùng xúc động về những việc làm ấy. Vì vậy, lòng anh lâng lâng sung sướng khi nhớ câu tuyệt vời đó.                                                                                                                                                                                                     

Anh thật khó quên những việc làm cao đẹp của vợ cũ. Chúng đã giải tỏa hết bao uất ức, hận thù đè nặng lên cuộc đời anh trong suốt nhiều năm. Nay anh nguyện sẽ cố gắng áp dụng lời dạy này vào những trường hợp tương tự về sau. Anh hy vọng sẽ có những ngày sống trong khoan dung, hỷ xả để tận hưởng những phút giây thật an lạc cho tâm hồn vào những ngày cuối đời. Rồi anh nhớ tới câu cuối của lá thư. Anh thầm cám ơn chị Thứ đã cẩn thận nhắc anh phải luôn tránh xa cách hành xử của người đời vì nó sẽ đem lại những kết quả phũ phàng mà thôi:                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                   

Lấy hận thù, trả hận thù,
Hận thù chồng chất, ngàn thu vẫn còn
./

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/12/2025(Xem: 2218)
Kính chia sẻ cùng chư Tôn Đức, chư pháp lữ, và quí thiện hữu một số hình ảnh trong mùa Tipitaka (Đại Tạng Kinh PaLi) khai hội tại Bồ Đề Đạo Tràng. Đây là lần thứ 20 trùng tụng Tipitaka theo thông lệ hàng năm. Lễ hội quan trọng năm 2025 này do giáo hội Phật Giáo India đăng cai tổ chức nên tất cả mọi trần thiết, trang hoàng đều do Ban tổ chức Hội trùng tụng Kinh tạng Pali India thực hiện. Lễ hội trùng tụng Tipitaka năm nay có các nước Phật Giáo tham gia trùng tụng Đại Tạng như: Nepal, Sri-Lanka, Lao, Campuchia, ThaiLand, Myanmar, Việt Nam, Bangladesh, India, International...
10/12/2025(Xem: 1838)
TU MÓT nhiều hơn thời khóa chính trong ngày. Thường giờ rảnh, nghỉ việc,... xưa rày bỏ trôi. Người biết TU, lúc ấy, niệm Phật liên hồi. Nhớ phải ký số đúng, tâm thời tịnh an.
10/12/2025(Xem: 2259)
Khoan Dung Người Xấu đẹp tâm ta. Gặp Kẻ Lỗi Lầm vội Thứ tha. Đối Xử thế này, lòng cảm động Thành Người Tốt: (nhờ) Giáo Dục ôn hòa.
02/12/2025(Xem: 2345)
Hành động ta làm chẳng mất đâu, Kể luôn tư tưởng nghĩ trong đầu! Hoàn toàn dội lại về ta cả! Nhân, Quả theo liền, cố khắc sâu.
02/12/2025(Xem: 2209)
Cố mỗi tháng, một lần THỌ BÁT QUAN TRAI. Để học giới TU SĨ một ngày, một đêm. Không ăn PHI THỜI: Phước vô lượng tăng thêm. Đói, uống nước; đồ lỏng, có thèm không ăn.
02/12/2025(Xem: 1972)
Nhớ rằng Sự Chết Đến Rất Bất Ngờ, Niệm Phật biếng nhác, chần chờ tự tan. Chấp trì A MI ĐÀ PHẬT nhất tâm, Hơn cả Bố Thí trăm năm thực hành.. *
02/12/2025(Xem: 2446)
THƯ TÒA SOẠN, trang 2 · TẢN MẠN THI CA MỘT THỜI - TUỆ SỸ (Nguyên Siêu), trang 4 · NHỮNG ĐÓNG GÓP TO LỚN CỦA CÁC HỌC GIẢ ANH QUỐC CHO NỀN PHẬT GIÁO ÂU-MỸ, t.t. (HT. Thích Trí Chơn), trang 7 · CÕI BỤT BAO DUNG (thơ Trúc Nguyên) trang 9 · LƯNG TRỜI CÁNH HẠC ĐI VỀ HOÀNG HÔN (TN Khánh Năng/Hạnh Thân), trang 10 · PHƯƠNG TRỜI VIỄN MỘNG (thơ Vĩnh Hữu Tâm Không), trang 14
02/12/2025(Xem: 2319)
CHÁNH PHÁP Số 168, tháng 11.2025 Hình bìa: hoangphap.org NỘI DUNG SỐ NÀY: THƯ TÒA SOẠN, trang 2 BẤT LAI BẤT KHỨ, DƯƠNG CẦM (thơ Vĩnh Hữu TK), trang 6 TUỆ SỸ ĐẠO SƯ, NGƯỜI THẦY TRONG TÔI (Nguyên Siêu), trang 7 NHỮNG ĐÓNG GÓP TO LỚN CỦA CÁC HỌC GIẢ ANH QUỐC CHO NỀN PHẬT GIÁO ÂU-MỸ, t.t. (HT. Thích Trí Chơn), trang 11 ĐIỆN THƯ PHÂN ƯU: NHÀ VĂN DOÃN QUỐC SỸ QUÁ VÃNG (GHPGVNTNHK), trang 12 TIỂU SỬ TLHT TUỆ SỸ (Môn đồ pháp quyến), trang 13
02/12/2025(Xem: 2277)
NỘI DUNG SỐ NÀY: · THƯ TÒA SOẠN, trang 2 · NHỮNG ĐÓNG GÓP TO LỚN CỦA CÁC HỌC GIẢ ANH QUỐC CHO NỀN PHẬT GIÁO ÂU-MỸ, t.t. (HT. Thích Trí Chơn), trang 7 · MANG KINH VỀ RUỘNG (thơ Thy An), trang 8 · LỜI PHẬT DẠY QUA KINH THẮNG TƯ DUY PHẠM THIÊN SỞ VẤN (HT. Thích Như Điển), trang 9 · NHỚ MẸ (thơ Ngọa Long Trí Phong), trang 12
02/12/2025(Xem: 2135)
CHÁNH PHÁP Số 166, tháng 09.2025 Hình bìa: Pixabay.com NỘI DUNG SỐ NÀY: THƯ TÒA SOẠN, trang 2 THÔNG ĐIỆP VU LAN 2025 (Hội Đồng Giáo Phẩm), trang 6 NHỮNG ĐÓNG GÓP TO LỚN CỦA CÁC HỌC GIẢ ANH QUỐC CHO NỀN PHẬT GIÁO ÂU-MỸ, t.t. (HT. Thích Trí Chơn), trang 7 GIÁO DỤC HIẾU THẢO VỚI MẸ CHA (Nguyên Siêu), trang 9 VU LAN BÁO HIẾU (thơ Thích Chúc Hiền), trang 13 NGƯỜI XUẤT GIA & VẤN ĐỀ LỄ LẠY CHA MẸ (Chúc Phú), trang 14