Khám Phá Những Căng Thẳng Của Phật Giáo Với Thời Hiện Đại

15/08/202515:01(Xem: 2970)
Khám Phá Những Căng Thẳng Của Phật Giáo Với Thời Hiện Đại

KHÁM PHÁ NHỮNG CĂNG THẲNG CỦA PHẬT GIÁO VỚI THỜI HIỆN ĐẠI:
Phỏng vấn Giáo sư David McMahan
David-McMahan

Nguyên tác: Exploring Buddhism’s Tensions With Modernity: An Interview with Prof. David McMahan
Tác giả: Raymond Lam
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
***



David McMahan. From fandm.edu

David McMahan là giáo sư ngành Nghiên cứu Tôn giáo tại Đại học Franklin & Marshall, Pennsylvania. Trong những năm gần đây, ông đã mang đến cho cộng đồng Nghiên cứu Phật giáo một cái nhìn sâu sắc và tinh tế hơn về sự tái tạo Phật giáo hiện đại. Cuốn sách "Sự hình thành Chủ nghĩa Hiện đại Phật giáo" (Nhà xuất bản Đại học Oxford, 2008) của ông lập luận rằng hiện đại hóa Phật giáo là một nỗ lực hợp tác có ý thức của người châu Á và phương Tây nhằm trang bị cho Phật giáo những công cụ tư tưởng mới để phát triển mạnh mẽ trong thế giới mới mẻ và đầy thách thức của thế kỷ 19 và 20.

Buddhistdoor Global: Nghiên cứu về cách thức thực hành thiền định ngày nay mang lại cái nhìn sâu sắc như thế nào về quá trình hiện đại hóa hay thế tục hóa của Phật giáo?

David McMahan: Trong hơn một thế kỷ, đã có một số tranh luận về cách phân loại Phật giáo. Vào thế kỷ 19 ở phương Tây, thật khó để hình dung một “tôn giáo” không có đấng sáng tạo. Một số người mô tả Phật giáo như một hệ thống đạo đức hoặc một lối sống. Sự mơ hồ đó đã khiến nhiều khía cạnh của Phật giáo dễ dàng len lỏi vào các lĩnh vực của cuộc sống thuộc phạm trù “thế tục” hiện đại. Thiền định là lĩnh vực đã hoàn toàn tách biệt và tự khẳng định mình trong bối cảnh thế tục.

Vài thập kỷ gần đây đã mang đến những bước phát triển thực sự mang tính lịch sử trong lịch sử các phương pháp thiền Phật giáo và các phương pháp thiền bắt nguồn từ Phật giáo. Cần lưu ý rằng những phương pháp này bắt nguồn từ những người xuất gia phản văn hóa. Chúng được duy trì chủ yếu bởi các nhà sư chuyên tu trong nhiều thế kỷ, và mặc dù thiền tại gia không phải là điều chưa từng nghe đến, nhưng nó chỉ là ngoại lệ cho đến khi các phong trào thiền tập đại chúng ở Đông Nam Á bắt đầu cách đây hơn một thế kỷ. Kể từ đó, các phương pháp thiền không chỉ vượt ra ngoài phạm vi tu viện mà còn vượt ra ngoài các tổ chức Phật giáo. Chúng đang được sử dụng cho những mục đích mà trước đây người ta không thể tưởng tượng được: nâng cao năng suất và hiệu quả, làm bài thi tốt hơn, giảm đau, cai thuốc lá, v.v.

Điều này khả thi ở Hoa Kỳ vì các phương pháp thiền định bắt nguồn từ Phật giáo đã được định hình lại cả về mặt tu từ lẫn thực tiễn, mang tính thế tục và trị liệu theo nghĩa y học hiện đại. Việc định hình lại này cho phép chính phủ rót tiền cho nghiên cứu và giảng dạy các phương pháp này trong các trường công lập và đại học, những nơi không được phép quảng bá tôn giáo.

Việc coi những thực hành này là thế tục cũng đã tách chúng ra khỏi khuôn khổ đạo đức, triết học và vũ trụ học Phật giáo truyền thống, tất cả đều là một phần thiết yếu của những thực hành này trong quá khứ. Được trình bày mà không có bối cảnh này, chúng đã hấp thụ đủ loại giá trị, mục đích và định hướng đạo đức khác từ nền văn hóa rộng lớn hơn. Do đó, chúng ta có quản lý tiền bạc chánh niệm, tình dục chánh niệm, chánh niệm để giảm căng thẳng do nhịp độ làm việc hối hả của cuộc sống hiện đại.

BDG: Chánh niệm, khoa học thần kinh và những phát triển liên quan dường như bao hàm hiện thân thế tục “hiện đại” của Phật giáo. Tuy nhiên, điều này dường như là một hiện tượng mâu thuẫn, với các giáo viên chánh niệm phi tôn giáo cố gắng tách mình khỏi Phật giáo, hoặc các nhà lãnh đạo hay nhà khoa học Phật giáo cố gắng khẳng định nguồn cảm hứng Phật giáo cho nhiều phát triển trong khoa học thần kinh. Những lợi ích xung đột này có ý nghĩa gì đối với phân tích của ông về chủ nghĩa thế tục Phật giáo?

DM: Mỗi người có những mối quan tâm và lợi ích khác nhau trong việc tiếp nhận chánh niệm và mối quan hệ giữa chánh niệm và Phật giáo. Một số người có lợi ích cố hữu trong việc khẳng định với những người khác rằng chánh niệm không phải là “tôn giáo” mà là tâm lý, trị liệu và khoa học. Họ muốn tách mình khỏi bất kỳ “chủ nghĩa siêu nhiên” nào và khỏi gánh nặng mà thuật ngữ “tôn giáo” thường mang theo trong giới trí thức hiện đại. Những người khác (hoặc trong một số trường hợp, thậm chí là chính những người đó) có thể muốn tận dụng sự huyền bí của “trí tuệ phương Đông”, và ý tưởng rằng trong thế giới mà mọi thứ dường như mới mẻ này, có những kỹ thuật được truyền lại từ thời cổ đại.

Tất cả những điều này đều liên quan đến vấn đề tính chính đáng và thẩm quyền. Một số Phật tử muốn lợi dụng uy tín to lớn của khoa học để củng cố tính chính đáng của các tư tưởng và thực hành Phật giáo. Những người khác có thể nản lòng trước sự thống trị của khoa học “duy vật” và tin rằng Phật giáo có thể mở rộng khoa học vượt ra ngoài định kiến duy vật hoặc cung cấp một cách suy nghĩ và nói về thực tại hoàn toàn khác, nằm ngoài diễn ngôn bá quyền của khoa học.

BDG: Ông có thể cho một vài ví dụ về quá trình hiện đại hóa đồng thời đa tiết, và chúng đã ảnh hưởng đến thực tiễn như thế nào?

DM: Mặc dù các phạm trù và tư tưởng phương Tây chắc chắn đóng vai trò quan trọng đối với quá trình hiện đại hóa Phật giáo, nhưng sẽ là sai lầm nếu nghĩ rằng quá trình này chỉ đơn giản là việc người phương Tây đưa Phật giáo vào thế giới hiện đại và người châu Á là những người theo chủ nghĩa truyền thống thụ động. Ngược lại, hầu hết những người theo Phật giáo bắt đầu các phong trào cải cách vào cuối thế kỷ 19 đều là người châu Á, như Anagārika Dharmapāla ở Sri Lanka (lúc đó là Tích Lan), Sōen Shaku ở Nhật Bản và Thái Hư ở Trung Quốc. Họ vay mượn tư tưởng từ phương Tây nhưng cũng sử dụng chúng để phê phán chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc phương Tây.

Ở Tích Lan, Dharmapāla đã kết hợp các yếu tố của phong tục thời Victoria của Anh với các quy tắc tu viện Phật giáo và phát triển những cách thức mới để cư sĩ tự ứng xử (Stephen Prothero đã thảo luận về điều này trong cuốn sách của ông về Henry Steel Olcott, The White Buddhist). Ông cũng đã tạo ra một tác động lớn đến Paul Carus, người Mỹ gốc Đức, tại Nghị hội Tôn giáo Thế giới ở Chicago vào năm 1893. Sau đó, Carus trở nên say mê Phật giáo và cuối cùng đã viết Phúc âm của Phật giáo, một tập hợp các bản kinh đã dịch (cộng với một bản do chính Carus viết!) sau đó được dịch sang tiếng Nhật và được sử dụng trong chương trình giảng dạy của tu viện ở đó.

Vì vậy, quá trình hiện đại hóa Phật giáo mang tính đa tiết không phải theo nghĩa là những người khác nhau ở các nơi khác nhau trên thế giới tạo ra các phiên bản hiện đại hóa của Phật giáo một cách độc lập, mà mỗi người đều đóng góp vào việc tạo ra một diễn ngôn toàn cầu có liên quan với nhau.

BDG: Trong bài phát biểu của ông tại hội nghị “Phật giáo trong con mắt toàn cầu: Vượt ra ngoài Đông và Tây” ở Vancouver hồi tháng Tám, một trong những khán giả đã gán cho Phật giáo thuật ngữ “dễ dàng thông qua” (easy passs) vì một bộ phận đáng kể người phương Tây thậm chí còn không coi Phật giáo là một tôn giáo, khiến nó trở nên tương đối không liên quan trong cuộc tranh luận về sự tách biệt giữa nhà thờ và nhà nước. Liệu sự “không liên quan” của Phật giáo có phải là một điều tốt, hay là diễn ngôn công khai của phương Tây về đức tin và xã hội đã bị bóp méo theo một cách nào đó vì không có tiếng nói Phật giáo nổi bật hơn (nếu điều đó có thể xảy ra)?

DM: Tôi nghĩ vấn đề này gợi ý những đường nét và giới hạn cụ thể của sự phân chia nhị nguyên điển hình của cuộc sống con người thành hai phạm trù cứng nhắc là "tôn giáo" và "thế tục". Những khái niệm này được phát triển với Kitô giáo đại diện cho "tôn giáo" nguyên mẫu. Bởi vì Phật giáo không phải lúc nào cũng nằm gọn trong hai phạm trù được hình thành như vậy, nên nó đã được "thông qua" ở một số khía cạnh.

Ví dụ, một số chương trình nghiên cứu Phật giáo do nhà nước tài trợ ở Hoa Kỳ đã có thể hoạt động gần như các tu học viện Phật giáo. Và dĩ nhiên, nhiều phương pháp thiền Phật giáo, ngay cả khi nguồn gốc của chúng được công nhận, vẫn được trình bày là phổ quát và có thể thực hành được bởi bất kỳ ai, dù thuộc bất kỳ tôn giáo nào, hoặc không theo tôn giáo nào.

Sự khó khăn trong việc hòa nhập của Phật giáo với các phiên bản phương Tây của nhị nguyên tôn giáo/thế tục, theo một cách nào đó, lại có lợi cho việc thích nghi và chấp nhận nó ở phương Tây. Người phương Tây có thể “thấm nhuần” Phật giáo, tiếp thu một số giáo lý và thực hành của nó mà không nhất thiết phải tự nhận mình là Phật tử hay tham gia các tổ chức Phật giáo. Ngược lại, các tổ chức Phật giáo có thể hoạt động như những “tôn giáo” với cùng sự bảo vệ và quy chế miễn thuế như các tôn giáo khác.

Những Phật tử chính thống hơn có thể chỉ trích những người “mê” Phật giáo. Thomas Tweed gọi họ là “Phật tử đầu giường” - những người có sách Phật giáo trên đầu giường nhưng không có mức độ chí nguyện cam kết cao hoặc tham gia các tổ chức Phật giáo. Tuy nhiên, họ đã phổ biến các tư tưởng, thực hành và hình ảnh Phật giáo ở phương Tây, khiến các khía cạnh của Phật pháp trở nên quen thuộc và được chấp nhận hơn.

BDG: Ông nhìn nhận thế nào về sự phát triển của “chủ nghĩa thế tục” Phật giáo ở phương Tây trong thập kỷ tới? Liệu nó sẽ còn thế tục hơn nữa, hay chúng ta sẽ thấy sự “mở rộng thâm nhập” gia tăng giữa tôn giáo và thế tục?

DM: Tôi nghĩ rằng nhiều khả năng các loại hình Phật giáo khác nhau sẽ tiếp tục phát triển. Tôi nghi ngờ rằng Phật giáo thế tục sẽ hoàn toàn thay thế các hình thức chính thống hơn. Cũng như Phật giáo có các hình thức đại chúng và tinh hoa ở châu Á, Phật giáo thế tục ở một số nơi gần giống như một hình thức tôn giáo đại chúng.

Thuật ngữ “tôn giáo đại chúng” thường được dùng để chỉ những hoạt động phi thể chế của người dân thường—nó không đòi hỏi nhiều kiến thức chuyên sâu, tương đối tự do, không phụ thuộc vào thể chế, và thường quan tâm đến những lợi ích trần tục. Nó cũng có thể tồn tại trong một mối quan hệ không mấy dễ chịu với các hình thức chính thống và thể chế hơn, nhưng vẫn chồng chéo với chúng.

Phật giáo thế tục là một loại hình tôn giáo đại chúng-tinh hoa khác thường. Trong khi chế độ tu viện đang phát triển mạnh mẽ ở những nơi như Đài Loan và Đông Nam Á, có lẽ phần lớn Phật giáo ở phương Tây sẽ tồn tại ở cấp độ đại chúng này hơn là cấp độ thể chế. Phật giáo được thực hành bởi những người có thể không hoàn toàn tự nhận mình là Phật tử, nhưng có những tư tưởng và thực hành Phật giáo như một phần trong kho tàng các phương thức định hướng thế giới. Ở một số khía cạnh, điều này tương tự như cách thức vẫn luôn diễn ra ở Đông Á, nơi nhiều người đã thực hành các khía cạnh của nhiều truyền thống khác nhau (Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo) mà không nhất thiết phải gắn bó hoàn toàn với bất kỳ truyền thống nào. /.

https://www.buddhistdoor.net/features/exploring-buddhisms-tensions-with-modernity-an-interview-with-prof-david-mcmahan/

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/09/2010(Xem: 23705)
Phật giáo là một tôn giáo khiêm tốn,chú trọng vào tâm linh và trí tuệ, nhắm vào mục đích giải thoát con người khỏithế giới biến động và khổ đau. Phật giáo không chủ trương tranh giành uy quyền,củng cố thế lực hay bành trướng ảnh hưởng trong thế giới Vô thường này.
18/09/2010(Xem: 16800)
Nhiều người hỏi tôi, Phật tử nghĩ gì về hôn nhân đồng tính? Vâng, vấn đề này tùy thuộc vào đối tượng mà bạn nói đến. Cách đây vài năm, trong cuộc phỏng vấn với hãng CBC, đức Dalai Lama đã bác bỏ quan hệ đồng tính, khiến ngạc nhiều người cải đạo sang đạo Phật ngạc nhiên. Đôi khi, họ quá dễ dãi cho rằng đạo đức Phật giáo là phù hợp với quan điểm tiến bộ tiêu biểu của họ. Khi cuộc phỏng vấn của người Gia-nã-đại được lên mạng internet, vài người bị choáng và bị rối, nhưng quan điểm của đức Dalai Lama đưa ra không làm ngạc nhiên đối với bất cứ ai lưu tâm theo dõi vấn đề này. Rốt cuộc thì lập trường của ngài vẫn trước sau như một. Tại một hội nghị cách đây 12 năm, khi các lãnh đạo đồng tính gặp đức Dalai Lama ở San Francisco để thảo luận vấn đề cấm Phật tử Tây Tạng phản đối việc đồng tính luyến ái, ngài đã nhắc đi nhắc lại quan điểm truyền thống rằng đồng tính luyến ái là “tà hạnh”
18/09/2010(Xem: 21980)
Phật bảo sáng vô cùng Đã từng vô lượng kiếp thành công Đoan nghiêm thiền tọa giữa non sông Sáng rực đỉnh Linh Phong
17/09/2010(Xem: 19631)
Gốc tiếng Phạn của chữ cà-salà kasaya.Nhưng thật sự chữ kasayatrong tiếngPhạn không có nghĩa là áomà có nghĩa là bạc màu, cáu cặnhay hư hoại. Sách tiếng Hán dịch chữ này là đạm(màu nhạt), trọchay trược (đục, dơ bẩn, ô nhiễm, rác bẩn), hoặc còn dịch là hoại sắc,bất chính sắc, hư nát, dính bẩn…Tóm lại chiếc áo cà-sacủa người xuất gia tu Phật, của hàng tỳ kheo,…tượng trưng cho những gì nghèonàn, thô sơ, tầm thường, và khiêm nhường nhất. Người đọc, nếu chưa có ý niệm gìvề chiếc áo của một nhà tu Phật giáo, cũng có thể hơi ngạc nhiên khi đọc nhữngđiều vừa nêu trên đây.
10/09/2010(Xem: 78606)
Một cuộc đời một vầng nhật nguyệt (quyển 3) Vào thời không có đức Phật Chánh Đẳng Giác ra đời, tại vùng Allakappa bị dịch bệnh hoành hành, lây lan từ người này sang người khác, nhà này sang nhà khác làm cho rất nhiều người chết, đói kém xảy ra khắp nơi. Những người còn mạnh khỏe, chưa bị lây nhiễm
08/09/2010(Xem: 13423)
Chịu đựng sự nhục nhã và lời thóa mạ là đức tính quan trọng nhất mà mỗi ngươi có thể rèn luyện, bởi vì sức chịu đựng là vô cùng mạnh mẽ, tại vì chỉ một giây phút tức giận là có thể phá hủy hết công đức của cả một đời người.
07/09/2010(Xem: 14158)
Chúng ta chỉ có một địa cầu. Người Phật tử và những người có lương tri trên hành tinh này đều giống nhau, đều khát vọng an bình toàn cầu, như cọng cỏ khát ánh mặt trời, như cá khát dòng sông êm dịu. Thế nhưng, khi chúng ta đứng trên một bình diện nào đó của địa cầu, huớng về khát vọng, chúng ta sẽ thất vọng phát hiện: quả địa cầu này tràn đầy bạo động và bất an, chiến tranh cục bộ, tranh giành quân bị, xung đột địa giới, dân tộc mâu thuẫn, giáo phái phân tranh, chủng tộc kỳ thị, tà giáo ngang ngược, khủng bố đe dọa, buôn chích ma túy, tàn phá môi trường, tài nguyên cạn kiệt, giàu nghèo chênh lệch, tội phạm gia tăng, công chức hủ hóa, HIV hoành hành và vô số bệnh thái sa đọa khác của xã hội loài người. Tất cả đó, dù trực tiếp hay gián tiếp, đã và đang phủ lên một màu sắc u ám, đe dọa đến sự an bình trên quả địa cầu này.
04/09/2010(Xem: 23740)
Tôi được một vị Tăng sinh ở Saigon mời góp ý kiến về Bát Kính Pháp khoảng hai tuần trước, nhưng vì khá bận rộn với những công việc tại đây (vừa lo thi cử cho việc trường lớp xong thì lại có duyên sự Phật sự 10 ngày tại Minnesota) nên đã khất hẹn với vị ấy là: khi nào tranh thủ được thời gian thì tôi sẽ xem xét vấn đề kỹ hơn để bàn cùng quý vị. Lúc ấy tôi nghĩ rằng: những vị Tăng sinh này sẽ tìm được câu trả lời cho những nghi vấn liên quan đến Bát Kính Pháp nhanh chóng thôi, vì ở Việt Nam hiện có rất nhiều chư Tôn Đức chuyên nghiên cứu, hiểu sâu sắc và hành trì Luật tạng miên mật, các vị dễ dàng đến đảnh lễ thưa hỏi.
04/09/2010(Xem: 15495)
Đọc xong những câu chuyện của các phụ nữ ở Hoa Kỳ và kinh nghiệm của các vị đối với đạo Phật, chúng tôi đã rất hoan hỷ và xúc động trước những nhận thức sâu xa của họ về cuộc sống, con người và môi trường chung quanh... Những lời dạy của đức Phật vừa nhiệm màu vừa thực tiễn đến làm sao! Những lời giảng dạy ấy đã chữa lành, loại bỏ những khổ đau và đem lại sự bình an, hạnh phúc đến hàng vạn con người trong nhiều thế kỷ qua. Sau đây là các câu chuyện của những phụ nữ người Hoa Kỳ từ các nguồn gốc khắp nơi trên thế giới. Những câu chuyện về hạnh phúc và sự sống trong tỉnh thức của họ qua sự tu tập và trở về với Đạo Phật. Chúng tôi xin hân hạnh giới thiệu và chia xẻ cùng bạn đọc.
02/09/2010(Xem: 12277)
Phiêu linh bao kiếp luân hồi - Phút giây hội ngộ, đời đời khổ đau - Mịt mùng tăm tối lạc nhau- Mang mang sáu cõi lao đao kiếm tìm