Chơn Tâm, Vọng Tâm

22/07/202509:41(Xem: 4259)
Chơn Tâm, Vọng Tâm

Chơn Tâm, Vọng Tâm

Tác giả: Thích Nữ Diệu Không

Dịch giả: Nguyên Giác
Thich Nu Dieu Khong

Lời dịch giả: Bài viết "Chơn Tâm, Vọng Tâm" được Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Không (1905-1997) viết, in trong Tạp chí Liên Hoa, số 9, tháng 9 năm Ất Mùi, tức là năm 1955. Tạp chí Liên Hoa thành lập năm 1955, với Thượng toạ Thích Đôn Hậu trú trì chùa Linh Mụ ở Huế làm chủ nhiệm, Thượng toạ Thích Đức Tâm làm chủ bút, và Ni sư Thích Nữ Diệu Không làm quản lý. Trong bài này, Ni sư ký tên tác giả là Diệu Không.

Thích Nữ Diệu Không (1905-1997) thế danh là Hồ Thị Hạnh, quê ở làng An Truyền, huyện Phú Vang, thành phố Huế.. Năm 1932, thọ giới sa di ni, được hoà thượng Giác Tiên ban pháp danh Trừng Hảo, pháp tự Diệu Không. Trong thập niên 1930s, sư bà tham gia tích cực phong trào chấn hưng Phật giáo, vận động thành lập, xây dựng điều lệ và chăm lo phát triển An Nam Phật học hội. Năm 1944, thọ tỳ kheo ni giới. Ni trưởng đã có công sáng lập, tham gia xây dựng nhiều ni viện, ni trường, khai sáng nhiều cô nhi viện, ký nhi viện trên khắp các tỉnh, thành miền Trung và miền Nam.

Năm 1978 sau một cơn bệnh Sư đã an nhiên thị tịch, được chư Tăng vây quanh tiếp dẫn. Nhưng khi thời kinh hộ niệm chấm dứt, Sư cô Bảo Châu đau đớn khóc thét lên, Sư bèn giật mình tỉnh dậy vì bi nguyện độ sinh. Kể từ đấy, Sư thường dạy: “Khi đã thấy cảnh tịnh độ rồi thì tôi xem cảnh đời này toàn là giả”. Có lẽ nhờ thấy giả mà Sư kham nhẫn được mọi sự. Gần 5 năm già yếu ngọa bệnh, Sư luôn luôn hoan hỷ với mọi người, đón nhận sự săn sóc chu đáo của tất cả các đệ tử, sự chữa trị tận tình của các bác sỹ Tây y và Đông y.

Mặc dù già bệnh, tinh thần Sư luôn minh mẫn cho đến giây phút cuối, mỗi khi ai có việc quan trọng đến thỉnh ý, Sư đều dạy những lời khuyên hết sức sáng suốt. Cách 2 tháng trước khi qua đời, Sư còn phát tâm cúng dường cơ sở Hồng Đức cho Giáo hội để sử dụng trong việc đào tạo Tăng tài. Như một trái cây chín mùi, như đi cuộc hành trình đã đến đích, Sư an nhiên thâu thần thị tịch vào lúc 2 giờ khuya, theo ngày âm lịch là 22 tháng 8 năm Đinh Sửu; tức ngày dương lịch là 23 tháng 9 năm 1997, hưởng thọ 93 tuổi đời với 53 hạ lạp.

…. o ….

 

CHƠN TÂM VỌNG TÂM

Trong kinh Lăng - Nghiêm, Phật dạy: trong tâm ta có hai thứ căn-bản là: “vô-thỉ sanh tử” và «vô-thỉ bồ-đề, niết-bàn» ; nhưng hai thứ căn-bản sẵn có trong tâm ấy, từ vô-thỉ đến nay, không dễ gì mà nhận được.

Vì trí-giác cũng đó, mà vô - minh cũng đó. Người có chí tu-hành, cần phải nghiên-cứu quán-sát, khi tâm sanh diệt, niệm gì là chơn, niệm gì là vọng. Nếu vọng, chơn không nhận rõ, thì việc đời và việc Đạo cũng khó phân. Việc đời, việc Đạo đã không phân ra, thì nhận lầm pháp phàm-phu cho là pháp của Bồ-tát, do đó mà buộc tội vào thân không phải là ít.

Vậy ai là người muốn tu tỉnh, người biết sợ tội phước, nghĩa là muốn có minh- nhãn, hãy tịnh tâm quán sát ở tâm mình, phân biệt cho rõ các tâm niệm; khi biết rõ được tâm niệm mình thì biết rõ được tâm niệm người, vì tâm mình và tâm người là đồng một thể.

Nhưng nói đến vấn-đề chơn tâm, vọng tâm, dù cho lấy nước biển làm mực tả cũng không hết, đây chỉ xin tạm giới-thiệu danh-từ chơn, vọng, để các bậc thiện-tri-thức thể-nhận được phần nào thôi.

Thí-dụ: Nước trong và nước đục. Trong, đục tuy phân hai mà thể nước là một. Chơn tâm ví như nước trong. Vọng tâm ví như nước đục.

Người tu-hành khi an trú cảnh-giới thanh-tịnh, thì tâm trống lặng như hư-không, lúc ấy mặc dù các cảnh trần chạm xúc sáu căn của họ, các căn của họ đã thanh-tịnh, nên căn không chấp trần, trần đến rồi trần tự đi, các căn có thấy, nghe, hay, biết mà vẫn không trú trước vào các cảnh. Những lúc ấy chính là lúc chơn tâm hiển lộ nơi người tu-hành và tánh trí-huệ được minh-liễu.

Trái lại, khi tâm trú trước vào một cảnh gì, do nơi tâm chấp trước ấy, khởi ra vọng động, sanh khởi muôn ngàn niệm khác, niệm niệm sanh diệt theo trần cảnh, làm lộn đục chơn-tánh, thì gọi là vọng-tâm, ví như nước trong vì lẫn bùn dơ, làm cho mất thể nước trong, lại làm đục ngầu chơn-tánh. Nước trong đã bi đục, chảy đến đâu làm cho bùn dính đến đó; vì vậy nên không những làm ô-nhiễm lây người khác nữa.

Người tu-hành chuyên phần tự lợi, tuy ngó như là ích-kỷ, song tự lợi ấy để mà lợi tha, vì muốn tịnh tâm mình, cũng như muốn lóng cho được dòng nước trong, để dòng nước trong ấy sẽ hòa cùng muôn dòng nước đục khác, làm cho bớt phần đục vậy.

Hỡi ai là người muốn lợi người, hãy nên tu tập, vì tu tập quán sát tâm mình, tức là để làm lợi cho người, chớ nên cao-đàm vọng-thuyết, tự xưng là Bồ-tát lợi tha, vọng nhận phàm-tâm của mình mà cho là tâm của bậc Thánh-trí.

Nếu chưa vào được cảnh-giới Bồ-tát, thì nên tự lượng phàm-phu nghiệp lực của mình, tu tập để dứt các điều ác, vâng làm các điều lành, biết vọng tâm mà trừ, biết chơn tâm mà hướng, như thế gọi là bậc thiện-nhơn trí-thức, biết tôn trọng Chánh-pháp vậy.

DIỆU – KHÔNG

.

NGUỒN:

. Tạp Chí Liên Hoa, số tháng 9, năm Ất Mùi (1955)

https://thuvienhoasen.org/a30422/tap-chi-lien-hoa-lien-hoa-van-tap-

 . Tiểu sử Ni trưởng Thích Nữ Diệu Không

https://thuvienphatviet.com/tieu-su-ni-truong-thich-nu-dieu-khong/

 

 

.... o ....

True Mind, False Mind

Author: Thích Nữ Diệu Không

Translator: Nguyên Giác

 

Translator's note: The article “True Mind, False Mind” was authored by Abbess Thích Nữ Diệu Không (1905-1997) and published in Liên Hoa Magazine, issue 9, in September of the year Ất Mùi, which corresponds to 1955. Liên Hoa Magazine was founded in 1955, with Venerable Thích Đôn Hậu, abbot of Linh Mụ Pagoda in Huế, serving as the publisher; Venerable Thích Đức Tâm as the editor-in-chief; and Abbess Thích Nữ Diệu Không as the managing editor. In this article, the author signed her name as Diệu Không.

Thích Nữ Diệu Không (1905-1997), whose secular name was Hồ Thị Hạnh, was born in An Truyền village, Phú Vang district, Huế city. In 1932, she received the novice precepts and was given the dharma name Trừng Hảo by the venerable monk Giác Tiên, along with the respectful dharma name Diệu Không. During the 1930s, she actively participated in the Buddhist revival movement, advocating for the establishment and development of the An Nam Buddhist Studies Association, where she contributed to the creation of its charter. In 1944, she received the bhikkhuni precepts. She played a significant role in founding and constructing numerous nunneries and nun schools, as well as opening many orphanages and children's homes throughout the central and southern provinces and cities.

In 1978, after a prolonged illness, Abbess Diệu Không peacefully passed away, surrounded by her fellow monastics. However, when the chanting session concluded, Bhikkhuni Bảo Châu cried out in anguish, causing the Abbess to awaken, motivated by her vow to save all sentient beings. From that moment on, the Abbess frequently taught, “When I have seen the Pure Land, I perceive this life as entirely illusory.” Perhaps due to her understanding of illusion, the Abbess was able to endure all hardships. Throughout nearly five years of aging and illness, she remained joyful in the company of others, receiving the attentive care of her disciples and the dedicated treatment of both Western and Eastern doctors.

Although she was old and ill, the Abbess's spirit remained clear until the very end. Whenever someone sought her counsel on important matters, she offered the wisest advice. Two months before her passing, she made the decision to donate Hồng Đức Monastery to the Buddhist Sangha for the purpose of training monastics. Like a ripe fruit or a journey that had reached its destination, she peacefully departed this life at 2:00 a.m. on August 22 of the lunar calendar in the year of Đinh Sửu, which corresponds to September 23, 1997. She was 93 years old and had dedicated 53 years to monastic life.

.

True Mind, False Mind

 

In the Lankavatara Sutra, the Buddha taught that our minds encompass two fundamental aspects: beginningless birth and death, and beginningless bodhi, which is nirvana. However, these two aspects, which have existed in the mind since time immemorial, are not easily perceived.

Because wisdom exists, ignorance also persists. Buddhist practitioners must study and observe the arising and ceasing of thoughts, discerning which thoughts are true and which are false. If the distinction between false and true is not clearly recognized, it becomes challenging to differentiate between worldly and spiritual matters. When worldly and spiritual affairs are not distinguished, the teachings of ordinary people may be mistakenly regarded as the teachings of Bodhisattvas, leading many individuals to be unjustly accused of self-inflicted wrongs.

So, anyone who wishes to cultivate their understanding and who recognizes the importance of distinguishing between sin and virtue—essentially, anyone seeking clarity of thought—should calm their mind and observe their own mental processes. By clearly identifying their own thoughts, they will gain insight into the thoughts of others, as both their mind and the minds of others share the same essence.

However, when discussing the concepts of true mind and false mind, even using seawater as ink to illustrate the point would not suffice. Here, I would like to briefly introduce the terms and those with a good understanding gain some insight.

For example, consider clear water and muddy water. Although they are two distinct types, the essence of water remains the same. The true mind is akin to clear water, while the deluded mind resembles muddy water.

When a practitioner resides in a pure realm, their mind is as empty and silent as space. At that moment, although the external world interacts with their six senses, those senses remain untainted, preventing attachment to the external environment. The external world arises and fades away on its own. The senses perceive sights, sounds, smells, and sensations, yet they do not linger on the external world. During these moments, the true mind of the practitioner is revealed, and the nature of wisdom is clearly illuminated and comprehended.

On the contrary, when the mind fixates on a particular scene, this attachment can lead to delusion, which in turn generates a multitude of thoughts. Each thought arises and dissipates in response to the external scene, obscuring the true nature of reality. This phenomenon is referred to as a delusional mind, akin to clear water tainted with muddy sediment, resulting in a loss of clarity. Once the clear water becomes contaminated, it carries the mud with it wherever it flows; thus, it not only pollutes its surroundings but also affects those it encounters.

Cultivators who focus on self-interest, though it may appear selfish, ultimately benefit others. Their desire to purify their minds is akin to seeking a clear stream of water; when this clear stream merges with muddier waters, it helps to reduce the overall muddiness.

Whoever wishes to benefit others should engage in practice, as observing one's own mind is a means of helping others. Avoid excessive talk and refrain from falsely claiming to be a Bodhisattva who aids others, as this misrepresents one's ordinary mind as that of the saintly wise.

If you have not yet entered the Bodhisattva realm, you should assess your own karmic force, strive to perform good deeds, refrain from engaging in harmful actions, learn to dispel false thoughts, and understand how to cultivate your true mind. This is the hallmark of a wise and virtuous person who knows how to respect the Dharma.

DIỆU – KHÔNG

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/12/2016(Xem: 48261)
Tất cả chúng ta đều biết rằng lời Phật dạy trong 45 năm, sau khi Ngài đắc đạo dưới cội cây Bồ Đề tại Gaya ở Ấn Độ, đã để lại cho chúng ta một gia tài tâm linh đồ sộ qua khẩu truyền cũng như bằng văn tự. Kể từ đó đến nay, con Người vĩ đại ấy và giáo lý thậm thâm vi diệu của Ngài đã vượt ra khỏi không gian của xứ Ấn và thời gian trải dài suốt 26 thế kỷ từ Á sang Âu, từ Âu sang Mỹ, từ Mỹ sang Úc, Phi Châu v.v… Như vậy đủ để cho chúng ta thấy rằng giáo lý ấy đã khế hợp với căn cơ của mọi người, dầu tu theo truyền thống Nam truyền hay Bắc truyền và ngay cả Kim Cang Thừa đi nữa cũng là những cổ xe đang chuyên chở mọi người đi đến con đường giải thoát của sanh tử luân hồi.
20/12/2016(Xem: 13239)
Ngày cô gái chuẩn bị về nhà chồng, cô đến đảnh lễ Phật và xin đôi lời dạy bảo. Phật nói cô giữ gìn 2 điều: Một là, đừng mang lửa từ nhà ra ngoài và cũng đừng mang lửa từ ngoài vào nhà. Hai là phải luôn soi gương. Cô gái không hiểu, xin Phật dạy rõ.
18/12/2016(Xem: 9704)
Như thông lệ hằng năm, giữa tháng 12 là lúc thời điểm Pháp hội Puja of Merit Accumulation khai hội tu tập & cầu nguyện cho'' Thế giới hòa bình, chúng sinh an lạc'' tại Bồ Đề Đạo Tràng. Nhân cơ duyên này, chúng tôi đã được quí vị pháp hữu, thiện hữu phát tâm cúng dường gieo duyên cùng Pháp hội và chư Đại tăng trong thời gian 1 tuẫn lễ pháp hội diễn ra. (Dec 15 to Dec 22-2016)
14/12/2016(Xem: 18649)
Bước vào thiên niên kỷ mới, trong mười năm của giai đoạn đầu tiên (2006-2016), Phật giáo đã khai dụng được nhiều cơ hội nhưng cũng phải đối diện với lắm thách thức giữa một thế giới đầy biến động. ● Xin nhận diện một số cơ hội: Xu thế mà người dân trong hai lục địa Âu và Mỹ đón nhận Phật giáo vừa như một triết lý sống nhân bản, vừa như một khoa học trị liệu hiệu quả đã bước qua khỏi giai đoạn nghiên cứu kinh viện để lan tỏa ra trong nhiều lãnh vực ứng dụng thiết thực khác của đời sống. – Hiện tượng những tổ chức Phật giáo quốc gia đơn lẽ đang nhịp nhàng gia nhập vào các mạng lưới Phật giáo quốc tế đã trở nên chặt chẻ hơn. – Những công trình nghiên cứu và khảo sát kinh điển Phật pháp càng lúc càng nhiều và càng có phẩm chất nhờ ứng dụng công nghệ thông tin khi xử lý các văn bản. – Nghệ thuật và văn học Phật giáo được giới trí thức trên thế giới khám phá và xác nhận như một dòng chủ lưu đóng góp vào những giá trị nhân văn của nhân loại – …
12/12/2016(Xem: 13189)
Thưa bà, lâu nay ít thấy bà “xuất hiện” trên mặt báo, phải chăng bà đang có dự án mới? Tạ Thị Ngọc Thảo (TTNT): Đúng, hơn nửa năm nay tôi ít “xuất hiện” trên mặt báo là vì những đề tài tôi quan tâm, nghiên cứu và viết ra đã gởi thẳng đến “địa chỉ” nơi nhận. Và tôi cũng nhận được phản hồi tích cực, vì nơi gởi và nơi nhận cùng trăn trở một mối lo “sau khi du lịch biển và đánh bắt không còn là thế mạnh thì làm sao để chuyển đổi ngành nghề cho bà con các tỉnh miền Trung”? Rồi hai bên cùng bàn cách “làm như thế nào!”. Chúng ta đều biết, có những việc nhờ báo chí đưa duyên, nhưng có những việc làm trước nói sau; cho chắc (cười).
09/12/2016(Xem: 11596)
Các thiền sư Phật giáo luôn nhắc nhở các đệ tử không được phát khởi vọng niệm ham muốn (tham), cho dù đó là “ham muốn được thành Phật”; không được phát khởi vọng niệm sân hận, cho dù đó là “sân hận người đã giết cha của mình”; không được phát khởi vọng niệm si mê (si), tin tưởng một cách mù quáng, cho dù đó là “tin tưởng vị thầy của mình”. Thamsân-si là ba chất độc gây đau khổ cho bản thân của chính mình và cho người khác. Trong cuộc sống hàng ngày, người Phật tử cũng còn phải thực tập để làm ngược trở lại những tiến trình của “tham-sân-si”. Thí dụ: Muốn tránh tánh tham lam (lấy vào), thì phải thực tập bố thí (cho ra); Muốn tránh “thù hận”, thì phải thực tập “hiểu và thương” bằng việc làm từ thiện; muốn tránh “si mê”, thì phải thực tập hơi thở chánh niệm, ý thức về lời nó
09/12/2016(Xem: 11223)
"Hoằng pháp thị gia vụ" đó là câu nằm lòng cho những trưởng tử Như Lai, khi bước chân vào đời. Mọi việc qua bốn oai nghi đều mang trọng trách: "Tác Như Lai sứ". Và khi hành động bất cứ việc gì cũng đều là việc Phật: "Hành Như Lai sự". Qua 35 năm thành hình một tổ chức Phật giáo thống nhất ba miền với các hệ phái, Phật sự từ đó cũng được đáp ứng tùy từng giai đoạn. Mỗi hệ phái, tông phong cũng được duy trì và phát triển chung với sự phát triển của Giáo Hội.
03/12/2016(Xem: 9201)
Cộng đồng Phật giáo chỉ là một nhóm thiểu số tại Cuba. Dù vậy, họ vẫn đang có những bước đi lặng lẽ thơ mộng và trang nghiêmtại đảo quốc xinh đẹp này. Và cũng kỳ lạ, Omar Perez, một nhà thơ và là một nhạc sĩ nổi tiếng ở Cuba – con trai của lãnh tụ du kích Che Guevara – đã trở thành một tu sĩ Thiền Tông.
03/12/2016(Xem: 11315)
Một năm lại sắp trôi qua với những vết tích điêu tàn, khổ nạn để lại trên khắp trái đất. Nhìn lại, chúng ta không khỏi giật mình, và chạnh lòng thương tưởng những nạn nhân từ các thảm họa của thiên nhiên, hoặc của con người gây nên. Có ai đã được gì sau chiến tranh và thiên tai? Có ai được hả hê sung sướng trên những bệnh tật, đói lạnh, xác người chết cứng, và nước mắt khổ đau của những kẻ sống còn sau một cơn hồng thủy, động đất, giông bão… hay sau một vụ oanh kích, nổ bom tự sát…?
09/11/2016(Xem: 18554)
Bài viết này [“Biểu nhất lảm Tam Tạng Kinh Điển Phật giáo” (An Overview of the Buddhist Tripataka)] nhằm cung cấp một cái nhìn duyệt qua kho tàng Kinh điển Phật giáo từ ngày Đức Phật Thích-ca Mâu-ni [khoảng 560 – 480 trước Công Nguyên (tr. CN)] còn tại thế cho đến ngày nay. Đạo Phật đã có một lịch sử trên 2.500 năm.