Nước non cách mấy buồng thêu

01/04/201313:53(Xem: 27024)
Nước non cách mấy buồng thêu

Nước Non
Cách Mấy Buồng Thêu

Tuệ Sỹ


Một ngày nóng, rồi một ngày lạnh . Người ta cứ mãi triền miên giữa những cơn nóng lạnh bức bách . Bức bách đến kỳ cùng, cho đến khi lòng người vĩnh viễn đắm chìm tận lòng biển . Không nghe và không thấy, người ta chỉ biết nói chuyện bằng những ngón tay, khi nào trời đã tối hẳn. Đến như thế thì đất đá lại biết nói chuyện hơn người . Để bàn tay bất động trên mặt bàn , mối mọt từ mấy trang sách sẽ từ từ chun ra . Trên mặt bàn sẽ hiện nhiều vết máu . Mùi tanh hôi từ các đồng trống kết tụ về ó tiếng quỉ cái đọc thơ trên những xác lá.

Đừng nói chi đến mùa thu này đi mùa thu khác đến . Chỉ có mùi vị tức tưởi tanh hôi của những cảm khái trong cái phong vận hư phù của tuế nguyệt. Những người quen thói chờ đợi và níu cái gì đến tức phải đến, những người ấy một khu ngửi ngửi phải mùi vị ấy thì lảo đảo ngây ngất như nhập đồng cốt , rồi sẽ chập chờn đứng dậy kêu gào , khản giọng kêu gào như quỉ đói . Quỉ đói thì cầu xin một bát cháo ở ngã ba đường , vạch cỏ mà tìm những hạt gạo muối.

Cũng thế, người ta có bổn phận tìm và lựa một đôi lời vụn vặt, nhưng nghe được, rồi đảo qua đảo lại để sắp đạt câu chuyện sinh tồn . Qủi đói còn biết vạch cỏ để kiếm ăn để sống, ngườI ta sao lại không ? Tuy vậy, đã vì sinh tồn sao lại quên được cái cách điệu đong đưa tuế nguyệt.

Nhưng nói gì đến cái chỉ biết khóc và cười của sắn bìm và sương tuyết ? Dù sao, từng đòan người cũng đã lũ lượt ,chờ khi đêm tối, kéo nhau vào những chốn rừng thiêng nước độc , ghé mắt trông chừng những hang đá, mỗI hốc cây. Họ đi tìm ở đâu ? NgườI ta nói, họ đi tìm tình yêu và sự chết. Có kẻ nói gọn hơn , họ đi tìm sự sống. Cũng có thể thực và cũng có thể không thực. Sự thực thì có đãy, nhưng tình thực thì không. Sự tình nào thì chẳng nông và nổi . Cái sự của tình nó nông như vũng nước của dấu chân trâu, cái tình của nó nổi như bong bóng.

Rồi cứ thế mà nó mãi . Từng đọan và từng đoạn xô bồ như đòan người vội vã xô đẩy nhau . Gắng gượng chống chế để kéo dài được mọi sự . Tóc càng dài càng trắng . Đoàn người càng dài càng tối đen, chuyện được kể lể càng dài càng sặc mùi quỉ quái tanh hôi . Cũng còn có những lời nói dài bất tận, dài đến độ trời trở nên xanh và lạnh , lá tre trở thành đỏ và rụng xuống như máu :

Man nương ngâm lộng màn hàn không

Cửu Sơn tỉnh lục lệ hoa hồng

Bài hát của cô gái mọi trên đỉnh Cửu Sơn , trong vùng đất Thương Ngô, chỉ hát cho một người nghe , và người độc nhất trong lịch sử văn học Trung Quốc có thể nghe , là vua Thuấn. Cái tinh anh và thể phách của ngài không ngự trị trên lịch sử văn minh Trung Quốc, mà chỉ phảng phất trên môi của cô gái mọi . Người ta bắt chước điệu nói hư phù của quỉ mới nói ra như vậy, chứ như điệu nói của người thực thì không bao giờ . Bởi vì nhìn lên thì thấy một xe quỉ, nhìn xuống thì thấy một con heo ủi đất . Thế là trong cái phong vận tiêu tao của tuế nguyệt , một khi trời đất mở ra chỉ thấy toàn heo và đất bùn, khi khép lại, chỉ thấy toàn có quỉ.

Trung Hoa có ba người tài: Tiên tài Lý Bạch, Nhân tài Đổ Phủ, Quỉ tài Lý Hạ . Tiên tài không thấy có sự nghiệp của Nghiêu Thuấn gì hết , mà có Hằng Nga, có Dao trì, thành ra chỉ có đàn bà và rượu.

Nhân tài thì có cười có khóc ; có sao hôm sao mai .

Quỉ tài chỉ có cái xác chết của vua Thuấn và những bài ca vu vơ của cô gái mọi thôi sao?

Nhưng có thể chắc chắn là không có mối tư lự não nùng giữa những cái còn cái mất của ngày qua tháng lại . Quỉ mà sống thì cũng đồng như không sống . ? Chở quỉ một xe? ( Kinh Dịch) chẳng khác nào chở cái không hư dạo giữa cõi tuần hoàn có sinh có diệt. Quỉ chỉ biết khóc mà thôi , và tiếng khóc của nó làm cho người ta sợ hãi thực . Biết sợ như thế rồi sau đó mới biết cười và biết nghêu ngao trong Du hí tam muội . Tóc trắng da mồi la tinh thể của Du hí tam muộI vậy : Bạch phát thương nhan, chính thị Duy- ma cảnh giới ( Tô Đông Pha)

Nơi cõi đó có một mùa xuân vĩnh cửu kết tụ thành bụi phân hoa liễu :

Chi thượng liễu miên suy hựu thiểu

Thiên nhai hà xứ vô phương thảo

(Tô Đông Pha)

Sự kết tụ ấy đã khơi mở một nguồn suối tuôn trào, thành một niềm tương ứng vừa gần gũi vừa xa xôi của kẻ ở góc biển này và người ở chân trời nọ :

Ngồi kể lại chuyện ngày xưa cũ kỹ

Em không nghe vì

anh cũng không nghe

Hồn hoa phấn xông hương sầu dị dị

Tóc vàng tơ tỉ mỉ ngón tay đè.

Vì ngọc trắng cát lầm thu xiêu lệch

Gió băng trời xin thổi bụi bay theo

Ngàn xuân rộng

vô ngần trong bóng nguyệt

Đầu xanh em tư lự suốt sông đèo

( Bùi Giáng, Mưa Nguồn)

Vì sự bức bách của nóng và lạnh, cho nên cái chuyện chưa từng xảy ra, bỗng chốc đã trở thành cũ kỹ . Từng ngày từng ngong ngóng buổi chiều để đi suốt qua một cánh đồng cỏ, ghé mắt trông chừng bóng liễu rủ. Trời sáng người làm quỉ, trời tối quỉ làm ngườI . Người và quỉ cứ gây phiền muộn mãi cho nhau đến thế thì thôi.

Nước non cách mấy buồng thêu

Những là trộm nhớ thầm yêu chốc mòng

Trong buồng thêu đầy những mối mọt . Chúng không còn tham lam đắm đuối vật vờ với mùi giấy mùi mực của đống sách này chồng lên đống sách nọ như nấc thang dài vô tận đưa thẳng lên trời . Bây giờ chúng mê mẩn tâm thần chết lên chết xuống với cái mùi vị hương nồng của tóc cũ tóc mới , từ tóc ngắn chấm vai cho đến tóc dài chấm gót chân đỏ , chấm đến một vùng đất bạc.

Đứng mãi đãy hay đi ? Và đi đâu để đạp chân lên miền tương ứng ? Tương ứng của xa vời trong gang tấc và của gang tấc trong xa vời ? Hay một lần từ giả chỗ đứng đóđể mà đi tức là đi mãi, đi cho biết hết cõi sinh tồn , hết cõi hủy diệt ?

Gác kinh viện sách đôi nơi
Trong gang tấc lại gấp mười quan san

Câu chuyện sau đây nghe được từ sau tấm vách của một gia đình nọ.Cái gia đình ấy không tối nào mà vắng tiếng to tiếng nhỏ. Họ là hai anh em ruột thịt .Bằng cái tuổi ấy , nếu không nhịn được , ai cũng có quyền lập gia đình riêng , tội gì mà phải gắn bó , rồi chung đụng để cứ gây phiền tóai cho nhau hoài . Họ làm phiền nhau thì có, mà làm phiền hàng xóm thì không. Bởi vì , dù họ có cãi nhau thực đấy , nhưng nghe rành rõi; không vội vàng gay gắt .

- Sao chú không bảo nó xéo đi nơi khác, thế có hơn không?

- Có gì mà phiền ? Hắn đến đó vì chuyện riêng của hắn , can dự đến ai.

- Ừ, thì đã can dự gì đến ai. Sao chú không lấy mắt của chú treo lên trên cành cây mà nhìn nó có hơn không ? Tội gì thấp thỏm trông chừng.

---o0o---


Vi tính: Thúy Nga

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/02/2022(Xem: 11045)
Tôi học mãi Phẩm 6 về “ Người Hiền Trí “trong kinh Pháp Cú và bài thứ tư trong kinh Trung Bộ “ Sợ Hãi và Khiếp Đảm “ mà vẫn không chán vì càng học càng thấy nhiều lợi ích để tu tập và sửa đổi những tật xấu và lỗi lầm của mình trên đường tu học nhất là khi mình được một đại phước duyên gần gũi một bậc hiền trí . Thú thật ….trong những năm tự nhốt mình trong tháp ngà tôi đã nghiên cứu Thiền, Tịnh, Mật, rất cẩn thận từ ghi chép, nghe nhiều pháp thoại, so sánh kinh sách nhiều tông phái …thế nhưng chưa bao giờ như lúc này tôi cảm nghiệm lời dạy Đức Phật lại thâm huyền và siêu việt hơn bao giờ hết khi phối hợp hai phẩm này trong hai bộ kinh căn bản nhất cho những ai bước trên đường Đạo . Trộm nghĩ dù với tuổi nào khi chưa hoàn tất hay gặt hái được mục đích thành tựu của Trí Tuệ ( DUY TUỆ THỊ NGHIÊP) thì chúng ta hãy cứ bước đi mà chẳng nên dừng lại .
24/02/2022(Xem: 19795)
Tác giả tác phẩm này là Tỳ Kheo Sujato, thường được ghi tên là Bhikkhu Sujato, một nhà sư Úc châu uyên bác, đã dịch bốn Tạng Nikaya từ tiếng Pali sang tiếng Anh. Bhikkhu Sujato cũng là Trưởng Ban Biên Tập mạng SuttaCentral.net, nơi lưu trữ Tạng Pali và Tạng A Hàm trong nhiều ngôn ngữ -- các ngôn ngữ Pali, Sanskrit, Tạng ngữ, Hán ngữ, Việt ngữ và vài chục ngôn ngữ khác – trong đó có bản Nikaya Việt ngữ do Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch từ Tạng Pali, và bản A-Hàm Việt ngữ do hai Hòa Thượng Tuệ Sỹ và Thích Đức Thắng dịch từ Hán Tạng.
22/02/2022(Xem: 9772)
Trong lịch sử, các đại dịch đã buộc nhân loại phải đoạn tuyệt với quá khứ và hy vọng ở tương lai thế giới mới của họ. Điều này không có gì khác lạ. Nó là một cổng thông tin, một cửa ngõ, giữa thế giới đương đại và thế giới tương lai. Nhà văn, nhà tiểu luận, nhà hoạt động người Ấn Độ Arundhati Roy, Đại dịch là một cổng thông tin
21/02/2022(Xem: 8122)
Bốn Sự Thật Cao Quý được các kinh sách Hán ngữ gọi là Tứ Diệu Đế, là căn bản của toàn bộ Giáo Huấn của Đức Phật và cũng là một đề tài thuyết giảng quen thuộc. Do đó đôi khi chúng ta cũng có cảm tưởng là mình hiểu rõ khái niệm này, thế nhưng thật ra thì ý nghĩa của Bốn Sự Thật Cao Quý rất sâu sắc và thuộc nhiều cấp bậc hiểu biết khác nhau. Bài chuyển ngữ dưới đây đặc biệt nhấn mạnh đến nguồn gốc vô minh tạo ra mọi thứ khổ đau cho con người, đã được nhà sư Tây Tạng Guéshé Lobsang Yésheé thuyết giảng tại chùa Thar Deu Ling, một ngôi chùa tọa lạc tại một vùng ngoại ô thành phố Paris, vào ngày 16 và 30 tháng 9 năm 2004. Bài giảng được chùa Thar Deu Ling in thành một quyển sách nhỏ, ấn bản thứ nhất vào năm 2006.
19/02/2022(Xem: 12323)
Nhân Tết Nhâm Dần, với tâm niệm hộ trì Tam Bảo và mừng tuổi chư Tăng tu hành nơi xứ Phật chúng con, chúng tôi vừa thực hiện một buổi cúng dường Trai Tăng & tịnh tài đến chư Tôn đức Tăng già, các bậc xuất sỹ thường trú tại khu Thánh tích Bồ Đề Đạo Tràng, nơi đức Thế Tôn thành Đạo..
18/02/2022(Xem: 10851)
Phải công nhận với đà tiến triển kỹ thuật văn minh của vi tính, những gì ta có thể được tiếp xúc, thọ nhận sẽ nhiều hơn ngày trước ngàn lần ... khiến chúng ta đã có thể thay đổi dễ dàng theo sự tiến hóa của nhân loại và mở rộng sự hiểu biết với thế giới bên ngoài, hơn thế nữa ký ức chúng ta cũng được lưu lại dưới dạng hình ảnh, những bài pháp thoại và những trang cập nhật có thể truy cứu trong vài phút ...đó là lý do tôi ao ước được viết lại cảm nghĩ của mình khi nghe lại bài pháp thoại tuyệt vời từ 6 năm về trước tại Tu Viện Quảng Đức. Kính xin niệm ân tất cả nhân duyên đã cho tôi có cơ hội này ....
17/02/2022(Xem: 17454)
Cháu tìm ra chút nhân duyên Trời cao biển rộng ngoại tìm ra không? Non xanh nước biếc phiêu bồng Về già ngoại vẫn đếm đong đi tìm Một đời bay mỏi cánh chim Nghiệp duyên ba nổi bảy chìm xang bang Lên non xuống biển tìm vàng Nhân duyên bắt được chỉ toàn đá rêu
17/02/2022(Xem: 10910)
“Một con én một đoạn đường lay lất Một đêm dài nghe thác đổ trên cao Ta bước vội qua dòng sông biền biệt Đợi mưa dầm trong cánh bướm xôn xao
17/02/2022(Xem: 10632)
Phần này tiếp theo loạt bài “Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes” về các Kinh Lạy Cha và Kinh A Ve (đánh số 5 và 26). Bài này chú trọng đến các dạng chữ Nôm trong bản Kinh Tin Kính (KTK) của LM Philiphê Bỉnh, đặc biệt là từ tài liệu của các LM de Rhodes và Maiorica, và cũng so sánh với các dạng chữ quốc ngữ trong tài liệu chép tay của cụ Bỉnh.
15/02/2022(Xem: 18380)
Với mục đích quảng bá Phật Pháp miễn phí đến những vị muốn Tu học Phật Pháp, Rèn luyện Anh ngữ, Luyện Dịch Việt-Anh hoặc Anh-Việt, (nhất là những vị đang sinh sống, hoặc sẽ đi hay đang du học, ở những quốc gia sử dụng tiếng Anh – cũng là ngôn ngữ quốc tế được sử dụng khắp thế giới). Thế Giới Phật Giáo .org đã thực hiện sách Song ngữ ANH-VIỆT Đối chiếu (từng đoạn văn Rất NGẮN để dể đối chiếu) sau đây.