Chiều thu ngưỡng nguyện

11/04/201312:01(Xem: 13263)
Chiều thu ngưỡng nguyện

Những mùa Vu Lan

Chiều thu ngưỡng nguyện

Thích Đức Niệm

Nguồn: Thích Đức Niệm

Mùa thu lại về. Thu về với người tha hương. Thu về trong tiếng kêu thương nghẹn ngào của người con nước Việt đang hồi vận nước nghiệp dân bất hạnh viễn xứ. Thu về mặt nước hồ trong, lá vàng lác đác nhẹ rơi. Người con hiếu thảo chạnh lòng nhớ nghĩ đến mẹ cha. Tính đến nay, tôi đã trải hơn mười một mùa thu tha hương lá đổ. Mười một mùa thu Vu-Lan báo hiếu trôi qua, mà tôi vẫn còn mang nặng kiếp ly hương sống nương nhờ trên đất khách, một mình thành tâm âm thầm hướng vọng quê hương khấn nguyện phụ mẫu cửu huyền siêu thăng, ân nhân quá cố, anh hồn tử sĩ vô y nhờ ân thần lực Phật pháp hộ trì được về chân cảnh.
Hơn mười một mùa thu lặng lẽ trôi qua, và sẽ còn tiếp tục trôi qua mãi, mà mười đầu ngón tay của tôi không còn đủ để tính đếm nữa. Thời gian trôi qua theo từng nhịp tim bóp thắt, tôi cảm nghe trong tôi âm thầm kéo mất đi dần sinh lực trẻ trung cũng như trong mọi người và hiện vật có hiện trạng chuyển dần đến chỗ suy tàn theo thời gian. Nhớ lại cái ngày tôi xách chiếc va li cũ sờn nhỏ bé ra đi du học xứ người, đầu tóc hãy còn xanh đen, mắt chưa đeo kính, nét trán căng láng chưa nhăn, răng còn trắng cứng, lúc đó, các bậc thầy tôi, Hòa-Thượng Trí-Hữu, Trí-Thủ, Thiện-Hòa, Thiện-Hoa đang còn ở thời tráng kiện, người đã đưa tôi ra tận cổng chùa, vỗ nhẹ vào vai tôi, căn dặn: “Ra đi như lúc về, chiếc áo tràng nhớ mặc mãi trên thân. Đó là cách đền trả bốn ân. Đạo pháp sau này trên vai Đức-Niệm đấy. Con hãy cố gắng giữ vững đạo tâm và chí nguyện cái thuở sơ tâm xuất gia cũng như ngày hôm nay”. Tôi cúi đầu khẽ đáp: “Dạ bạch thầy! Con nguyện ghi nhớ mãi nơi lòng”. Trong lúc đó, nước mắt tự nhiên tuôn trào, vì chưa lần nào xa đại chúng lòng bâng khuâng nghĩ ngợi không biết những ngày sắp tới ra sao! Vì đây là lần đầu tiên xa cách Thầy bạn và mái chùa thân yêu mà đã suốt gần mười bảy năm tôi sống trong đó.
Trước cổng chùa, sắp bước lên xe từ biệt để lên đường du học, các thầy tôi đã nắm lấy tay tôi xiết mạnh, từ đôi mắt của các Ngài phát ra tia sáng từ hòa trìu mến lạ lùng. Tôi chắp tay cúi đầu chào các thầy tôi lần chót với giọng nói nghẹn ngào: “Xin quý thầy ở lại, để con tự đi một mình”, rồi bước lên xe. Xe rồ máy ngập ngừng lăn bánh hướng về phi trường Tân-Sơn-Nhất. Tôi ngoái đầu nhìn lại phía sau, vẫn còn thấy các thầy tôi vẫy tay tiễn biệt người đệ tử suốt gần hai mươi năm canh cánh bên mình. Mái chùa Ấn-Quang thân yêu đã che chở tôi từng bao năm tháng, nơi đó ghi đậm biết bao là kỷ niệm từ cái thuở thơ ấu hành điệu đến giờ. Xe đưa tôi từ từ khuất dần sau hàng cây song song hai bên vệ đường, chen lẫn với nhà cửa phố phường lâu đài cao thấp.
Tôi còn nhớ rõ buổi sáng hôm ấy, buổi sáng mùa thu, sân chùa thanh tịnh, trước giờ ra đi, tôi đã vào lạy từ biệt Đức-Tăng-Thống Thích-Tịnh-Khiết. Sau ba lạy, tôi im lặng quỳ đợi Ngài dạy bảo. Ngài ngồi trầm ngâm một hồi lâu, với giọng nhẹ hiền: “Đạo pháp sau này do ông gánh vác mở mang. Ngày ông về chắc không còn gặp tôi nữa. Ông nên cố gắng đem hết tâm chí mình dâng trọn cho đạo pháp như cho chính mạng sống ông”. Tôi cảm động nghẹn ngào nước mắt tuôn trào trầm lặng. Cái không khí trầm lặng kẻ ở người đi sanh ly thật là buồn, khó mà diễn tả!
Hơn mười một mùa thu đã qua, mà hình ảnh Ngài vẫn sống mãi trong lòng tôi. Lời dạy của Ngài, lời căn dặn nhắn nhủ của các bậc Thầy tôi, tất cả vẫn còn rạt rào sống dậy nơi tâm khảm. Tôi còn nhớ những hoàng hôn xuống, những đêm về, tôi quỳ hầu bên cạnh Đức-Tăng-Thống với chiếc quạt tay, tôi quạt hầu, được nghe Ngài kể những giai đọan thăng trầm của đạo pháp, sự thịnh suy của các đời vua chúa thời Lê, Nguyễn, cùng với sự học đạo hộ pháp của các vua chúa, hoàng hậu, và những thay ngôi đổi thứ của cung miếu triều vua. Có những lúc tôi đi học về trễ, Ngài bảo người thị giả nhớ để dành lại cho tôi những thức ăn xứ Huế của Ngài dùng còn. Những lúc tôi đi học về trễ, hoặc khi đi giảng dạy nơi xa đôi ba ngày, Ngài thầm ý đợi trông nhắc nhở: “Đức-Niệm đi mô chừ chưa về!” Bao nhiêu tích cũ truyện xưa về cung miếu triều vua, thay ngôi đổi thứ; bao nhiêu cao tăng cư sĩ có công trong việc chấn hưng Phật giáo của thời cận đại mà nay tôi được biết, phần nhiều được nghe Thầy kể lại năm xưa. Lời Ngài mãi vang vọng trong tâm trí tôi. Làm sao tôi quên được tình thương ấm cúng ngọt ngào đó! Tôi quên sao được ân pháp nhũ giáo dưỡng của các bậc ân sư tôn trưởng! Tôi được an thân lập mạng trưởng thành trong ánh sáng đạo từ bi và ngày nay ra hành trì Phật sự đều nhờ ân đức các Ngài. Tôi mang ân giáo dưỡng sâu nặng và ngày nay tôi đem hết năng lực, nung nấu ý chí hiến trọn đời cho đạo pháp, đi trọn con đường giác ngộ lợi tha.
Ra đi du học những tưởng mang theo hoài bão, sau vài ba năm học nghiệp thành tựu trở lại quê hương phục vụ đạo pháp xứ sở. Nào ngờ buổi mai mùa thu năm ấy, từ biệt ngôi chùa thân yêu, bái biệt các bậc ân sư và trao lời hứa hẹn với các bạn đồng đạo, mà cho đến hôm nay, ngày về vẫn còn xa xăm vô định. Thật không ngờ!
Ngày nay Đức-Tăng-Thống, các bậc Thầy tôi hầu hết đã ra người thiên cổ! Bạn cùng chung lý tưởng, cùng đi con đường giác ngộ giải thoát với tôi năm xưa, sau ngày 30-4-1975 đã vắng bóng dần trên đường chân lý giải thoát. Giờ đây, nơi quê hương đất mẹ Việt-Nam không còn thấy bóng hình đoàn tăng sinh, nguồn sống của đạo pháp, từ các Phật-Học-Viện. Nếu có, chỉ còn thưa thớt như chim lạc đàn trong buổi hoàng hôn bão tố, phải chịu cái khổ khủng bố kềm kẹp của loài quỷ đỏ vô thần từ rừng rú tràn về. Quê hương tôi còn đó. Biển rộng sông dài còn đó. Dãy núi Trường-Sơn, nơi nương tựa của khí thiêng sông núi Việt-Nam chứng kiến bao cuộc thăng trầm của dân tộc vẫn còn đó. Nhưng tiếng chuông chùa hôm sớm ngân vang mang lại lời an ủi dân lành; tiếng ngân nga hòa điệu với lời cầu kinh trầm hùng trong mùa Vu-Lan báo hiếu, nguyện cầu cho hồn thiêng đất nước thanh bình, cho những anh linh hy sinh vì đại nghĩa thì nay bặt lạnh khói trầm hương. Âm khí lạnh lùng thê lương đang phủ trùm khắp quê hương đất nước tôi. Khói trầm hương giờ đây không còn đủ sưởi ấm chốn thiền môn, nơi che chở linh hồn dân tộc ngàn đời.
Cây có cội, nước có nguồn. Làm con phải biết hiếu thảo mẹ cha, ông bà, thầy tổ. Ta có thân nầy và khôn lớn nên người, muôn phần đều nhờ ân sanh thành dưỡng dục của cha mẹ. Chín tháng nằm trong thai mẹ cưu mang. Ba năm bú sữa săn sóc, bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn. Có lúc con ấm mình cắn đắn lăn khóc, mẹ cha hồi hộp lo âu trằn trọc suốt đêm, quên ăn mất ngủ, canh cánh bên con chăm sóc, đến nỗi không thì giờ tắm gội uống ăn! Con mạnh khỏe, cha mẹ mừng vui. Cha mẹ mừng vui lo buồn theo tiếng cười tiếng khóc khi đau lúc mạnh của con. Mỗi tiếng khóc của con làm cho cha mẹ mỏi mòn nhăn mặt, tim thắt ruột đau. Cha mẹ vất vả chạy ăn chạy mặc, âm thầm đè nén che dấu những nỗi lo buồn túng thiếu, trong tâm ruột thắt lòng đau, ngoài mặt lúc nào cha mẹ cũng tỏ ra tươi cười như vô sự, để cho con được an lòng vui dạ lớn khôn. Suốt bao tháng năm săn sóc cho thân vóc của con được sạch sẽ mạnh khỏe, những mong cho con mình khôn lớn để sắm sửa ăn mặc học hành. Kịp đến lúc tuổi trưởng thành, cha mẹ lại phải lo phần gia thất dựng vợ gả chồng. Từ thuở con vừa lọt lòng cho đến khi con thành gia thất, vì thương con, lo cho con mà cha mẹ đã trải bao lần hồi hộp lo âu, quên ăn mất ngủ, nếm đủ đắng cay.
Nay gặp ngày Vu-Lan thắng hội, mùa báo hiếu của những người con thảo cháu hiền, tôi thành tâm mong những người con còn đang dong ruổi bon chen trên vạn nẻo đường trần thế, nên để chút suy tư hồi tâm hướng về cha mẹ quê hương:
Hôm nay gặp lễ giải đảo huyền
Con nguyền theo gót Mục-Kiền-Liên
Chư Tăng tự tứ con cầu nguyện
Mười phương phụ mẫu giải đảo huyền
Xin có lời nhắn gửi đến những người con hiếu, đừng để cha mẹ than thân tủi phận trong cảnh bị bỏ quên, cô đơn thiếu thốn, vì những kẻ làm con toan tính so đo ích kỷ chỉ biết nghĩ đến mình. Nếu không có tình thương cha mẹ thì con không thể sống còn lớn khôn. Con không cha mẹ như cá không có nước. Con sống trong tình thương cha mẹ, như cá thong dong trong biển hồ nước mát:
Mẹ thương con biển hồ lai láng
Con thương mẹ tính tháng tính ngày
Cha mẹ chỉ mong cho con được mạnh khỏe hạnh phúc trọn đời, chỉ mong được nghe con nói lời hiếu thảo. Cha mẹ hy sinh cho con, chỉ mong được thấy con ăn ở nhân đức, tạo tiếng khen tốt cho gia phong dòng tộc là cha mẹ mãn nguyện rồi. Nên khi người con khôn lớn, dù sống trong hoàn cảnh nào cũng phải có bổn phận nghĩ đến đấng sanh thành dưỡng dục, để mong báo đền ân sâu nghĩa nặng:
Công cha ba năm tình thâm cốt nhục
Nghĩa mẹ chín tháng dưỡng dục cưu mang
Biết lấy chi đền đáp thâm ân
Chừ hai đứa mình lên non gánh đá xuống xây lăng phụng thờ.
Lòng của cha mẹ thương con mênh mông như trời biển, tình của mẹ đối với con mát ngọt dịu hiền như nước suối thần tiên không bút mực nào tả cho cùng xiết:
Lòng mẹ bao la như biển Thái-Bình rạt rào
Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào...
Cổ đức xưa đã diễn tả nỗi lòng người con đối với công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ: “Ôi cha ta sanh ta. Mẹ ta nuôi ta. Hỡi ôi cha mẹ sanh ta rất là cực nhọc. Phận làm con muốn báo đền ơn sâu cha mẹ, biết làm sao báo đáp cho trọn bây giờ!” Thầy Tử-Lộ ngày ngày đội gạo mướn để kiếm tiền nuôi mẹ. Nhưng tay không lúc nào rời sách, chí không ngừng dùi mài kinh sử. Kịp đến khi thầy ứng cử khoa kỳ thì quả nhiên công thành danh toại đỗ đạt ra làm quan. Lúc bấy giờ Tử-Lộ muốn báo đền ơn cha mẹ về vật chất ăn mặc sung mãn sang trọng hơn, thì cha mẹ đã qua đời không còn nữa. Nên ông xót thương thường than:
Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng
Con muốn báo đền ơn cha mẹ, nhưng cha mẹ không còn nữa!
Người không có tâm hiếu kính mẹ cha, đương nhiên trở thành là kẻ phản nghịch, vong ân bội bạc. Hạng người ấy, nếu có gia đình thì khó được hạnh phúc. Còn ở xã hội thì khó được người nể vì. Chẳng may lập bè kết đảng thì chỉ là tổ phá sản quốc gia, làm khốn đốn dân tình, loạn luân xã hội mà thôi. Vì sao? Bởi vì cha mẹ là bậc ân nhân gần nhứt, nuôi ta khôn lớn nên người, ân kia cao dầy sánh bằng trời biển mà người con không biết nghĩ tưởng kính thương phụng thờ, thì thử hỏi trên đời nầy còn biết kính thương ai nữa? Trong nhà không hiếu thuận mẹ cha thì ra ngoài xã hội đừng hòng nương tay bất cứ việc gì. Đối với cha mẹ mà còn đem đi tố khổ hành hạ thì nhất định dân tộc phải bị chôn xuống hố, xã hội loạn luân và quốc gia lệ thuộc ngoại bang đó là điều chắc chắn rõ ràng. Kinh Phật dạy: “Hiếu là đầu muôn hạnh lành”. Hiếu đã là đầu muôn hạnh lành, tức là có hiếu thì có nghĩa, có trung, có tín. Nếu hiếu kính mà không làm được, thì cho dù nói hay đến đâu, tài giỏi đến mấy đi nữa, đó cũng chỉ là bỏ gốc lấy ngọn, bỏ hình ôm bóng, dong ruổi chụp bắt bóng đêm làm gia sản hạnh phúc cho mình. Những kẻ khóc mướn, chửi thuê, bồi bút, cúi luồn nô lệ để được lợi dưỡng chức quyền, múa may quay cuồng với cuộc đời mà quên đi tình quê hương, ân cha mẹ, chẳng khác nào tiếng con mọt ăn cột gỗ, chỉ gây thêm đổ vỡ cho ngôi nhà luân lý, tác hại thiện chí của nhân loại mà thôi. Nên sách thánh hiền có câu: “Làu thông kinh sách ngàn muôn quyển. Hiếu hạnh làm đầu mới nên người”.
Nhưng báo hiếu bằng cách nào đây cho tròn hiếu nghĩa? Nghĩ cho cùng không ngoài thực hành hai phương pháp báo hiếu bằng tinh thần và vật chất.
Về phương diện vật chất, người con có bổn phận cung cấp phụng dưỡng cha mẹ cơm no áo ấm thức ăn, giường nệm, hầu hạ thuốc thang khi cha mẹ đau ốm.
Về phương diện tinh thần, người con nên khuyên giải an ủi để cha mẹ được an vui ở cái tuổi xế chiều. Nhất là nên khuyên cha mẹ quy y Tam-Bảo Phật, Pháp, Tăng, tin sâu nhân quả, luân hồi, ăn chay, niệm Phật, gắng tu dưỡng thân tâm để mong giải thoát khỏi cảnh giới khổ đau tối tăm trong nẻo luân hồi. Phải tìm cách khuyên cha mẹ biết rõ lý vô thường để tập hạnh buông xả thì tâm hồn mới thong thả, cửa giải thoát mới có cơ mở rộng. Báo hiếu như thế mới là vẹn toàn, cha mẹ được an vui giác ngộ giải thoát. Cổ đức nói: “Phụ mẫu đắc ly trần, tu đạo phương thành tựu!” Nghĩa là, cha mẹ được thoát vòng lao lý phàm trần, con tu hành mới đắc quả.
Hỡi những người con đã lỡ lầm quên ơn cha mẹ, nên sớm hồi tâm trong dịp Vu-Lan tháng bảy mùa báo hiếu nầy. Nếu không thì sẽ nghìn năm ân hận. Ta không hiếu kính cha mẹ ta, thì sẽ mắc phải quả báo là con cháu ta cũng lại đối xử với ta hơn thế ấy. Ta không thương cha mẹ ta, thì ai là người thương cha mẹ ta? Ta không có lòng đoái tưởng hiếu kính cha mẹ, ân sư thì ai đoái tưởng hiếu kính ta? Đến khi khát nước đào giếng sao kịp. Hỡi những người con?
Xưa nay những bậc hiền nhân quân tử trong đời chưa có ai không hiếu kính cha mẹ mà thành danh thơm vạn kỷ. Ta thấy ngài Mục-Kiền-Liên cứu mẹ là bà Thanh-Đề, thầy Tử-Lộ đội gạo nuôi mẹ, thầy Mạnh-Tử đã nhờ mẹ mà nên người. Khổng-Phu-Tử đã nói: Ta nói được lời gì có ích cho đời, đều từ nơi cha mẹ ta mà có được. Lục-tổ Huệ-Năng bán củi nuôi mẹ. Đức Thích-Ca trước khi vào Niết-Bàn cũng đã đích thân lên cõi trời Đao-Lợi thăm và thuyết pháp cho mẹ nghe. Ngài cũng đã thuyết pháp cho vua cha và nghiêng mình kề vai khiêng quan tài phụ vương Tịnh-Phạn khi trà-tỳ. Đối với ơn cha mẹ, nghĩa thầy trò, hồn sông núi anh linh nghĩa sĩ, tình quyến thuộc quê hương, tôi đã trót nguyện mang sứ mạng tình thương của Như-Lai Phật Tổ lo hoằng pháp lợi sanh, nên đành thiếu bổn phận với tất cả những bậc ân sâu nghĩa nặng mà tôi chưa trọn báo đền. Xin dâng trọn công đức đời tu của cả đời tôi hồi hướng đến tất cả.
Hơn mười một mùa báo hiếu lặng lẽ trôi qua. Giờ đây tôi vẫn còn là kẻ tha hương đất khách, nhớ lời thầy dạy năm xưa, nguyện đem hết sức chống chèo con thuyền Bát-Nhã, nêu cao ngọn đuốc trí tuệ rạng tỏa mười phương. Lắm lúc cảm thấy cô đơn vắng thầy, thiếu bạn lý tưởng trên đường tu hành hoằng pháp trong những cơn giông tố ba đào dập dồn nội chướng ngoại ma, chạnh lòng nhớ đến ân nhân quá cố:
Bơ vơ cảnh khổ con đành ở
Chẳng biết làm sao đáp thâm ân.
• Giàu sang danh vọng không làm tăng giá trị đạo đức an lạc. Ôm giữ tiền bạc của cải mà không biết phát tâm làm việc lành thiện bố thí thì khó tránh khỏi điều phiền lụy tai ương.



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/03/2015(Xem: 14361)
Theo quan điểm của Phật giáo “hạnh phúc” là sự đoạn trừ tâm tham ái, để hiểu rõ vấn đề này, người viết xin chia sẻ quý vị quan điểm này như sau: Chúng ta đang sống trong cõi Ta-bà như mảnh vườn hoang luôn bị chế ngự bởi dục vọng khổ đau, bệnh tật, sầu hận, chết chóc… Con người bao giờ cũng muốn vươn lên từ đời sống thấp hèn để tìm một cái gì đó cao đẹp và an lạc hơn đằng sau bức tường đầy sự hấp dẫn của ngũ dục (tài, sắc, danh, thực, thùy) mà con người cảm nhận qua tri giác hay còn gọi là tham ái.
15/03/2015(Xem: 9970)
Tôi có hai người bạn. Là bạn nhưng họ trẻ hơn tôi quãng chục tuổi. Là bạn vì chúng tôi khá quý mến nhau, có nhiều điểm tương đồng và hay sinh hoạt bên nhau. Tên khai sinh của họ là Châu Thương và Mỹ Hằng. Pháp danh của hai bạn này là Nguyên Niệm là Thánh Đức. Điểm thú vị rằng đây lại là một cặp vợ chồng.
14/03/2015(Xem: 14693)
Việc tu hành trên hết là để giải tỏa áp lực của tâm lý. Và áp lực đó nếu nghĩ theo cách thông thường, thì nó luôn đến từ ngoại giới. Vì chúng ta sống trong đời sống, mà không có một tấm lòng để gió cuốn đi. Mà chúng ta chỉ sống với nhau luôn bằng tham, sân, si, cho nên áp lực sẽ đến với chúng ta liên tục là đương nhiên. Nhưng nếu chúng ta quanh năm ngồi một chỗ không đi đâu cả, thì tâm lý vẫn có vấn đề khó khăn như thường. Đó là do chúng ta luôn sống trong vọng tưởng, và ảo tưởng mà thành ra như thế thôi.
13/03/2015(Xem: 14520)
Chánh Niệm cho Tình Yêu Bài của Đỗ Thiền Đăng Diễn đọc: Trọng Nghĩa - Mộng Lan
12/03/2015(Xem: 19488)
Đạo Phật ngày càng suy đồi, tha hoá, “mạt pháp”, nguyên nhân thì nhiều, nhưng đôi khi vì trong giới tu sĩ và cư sĩ không trang bị đủ kiến thức của giáo pháp như thực - tức là giáo pháp cội rễ - mà chỉ chạy theo cành, nhánh, ngọn lắm hoa và nhiều trái. Từ đấy, khó phân biệt đâu là đạo Phật chơn chánh, đâu là đạo Phật đã bị biến chất, chạy theo thị hiếu dung thường của thế gian. Đôi nơi đạo Phật còn bị trộn lẫn với tín ngưỡng duy linh và cả tín ngưỡng nhân gian nữa... Nhiều lắm, không kể xiết đâu.
11/03/2015(Xem: 29858)
Món quà để lại lúc lâm chung của một vị Thầy thuốc Trung y cao tuổi, thật quá tuyệt vời! Tổng cộng có 100 điều, mỗi điều đều rất cao thâm, nên cần phải đọc đi đọc lại nhiều lần, nó sẽ giúp bạn đề cao nhận thức đối với sức khỏe!
11/03/2015(Xem: 14546)
Chúng tôi về thăm Trúc Lâm Bảo Sơn, huyện Tóc Tiên, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu vào cuối giờ chiều. Vùng đất nơi đây khá cằn cõi nhưng cây xanh thì rất nhiều. Đón chúng tôi là sư cô còn rất trẻ. Trà và mứt đủ loại được bày ra như một bữa tiệc. Hóa ra quý sư cô nơi đây sản xuất mứt, vừa để ăn, để tặng, vừa mang bán kiểm tiền kiến thiết chùa và giúp đời.
11/03/2015(Xem: 19342)
Đối với vạn vật trong cõi nhân gian, Phật giáo đều có sự quan sát thấu đáo, hiểu rõ thiên có thiên lý, địa có địa lý, nhân có nhân lý, vật có vật lý, tình có tình lý, tâm có tâm lý. Trên thế gian bất kỳ sự vật gì cũng có cái “lý” riêng biệt của nó, địa lý phong thủy tất nhiên cũng có “nguyên lý” của nó.
06/03/2015(Xem: 12410)
Mai năm nay nở sớm trước Tết. Qua Tết thì những cánh hoa vàng đã rụng đầy cội, và trên cây, lá xanh ươm lộc mới. Quanh vườn, các nhánh phong lan tiếp tục khoe sắc rực rỡ giữa trời xuân giá buốt. Đêm đến, trời trong mây tịnh, vườn sau đón ngập ánh trăng, tạo một không gian huyền ảo lung linh. Đã không có những ngày xuân rực nắng, không có những đêm xuân ấm cúng tiếng đàn câu ca và những chung trà bằng hữu; nhưng chân tình của kẻ gần người xa, vẫn luôn tỏa sự nồng nàn, tha thiết. Cái gì thực thì còn mãi với thời gian thăm thẳm, vượt khỏi những cách ngăn của không gian vời vợi.
27/02/2015(Xem: 14600)
Con người sinh ra, họ khổ đau, rồi họ chết. Theo Anatole France, đó là điều mà kẻ uyên bác đã từng tóm lược về thân phận loài người. Mặt khác, một số nhà tư tưởng tự do nói rằng: "Con người là guồng máy nhỏ, cấu tạo bởi sự sắp xếp ngẫu nhiên của các nguyên tử và phát triển theo quá trình tiến hóa tự nhiên. Đau khổ không thể nào tránh khỏi trong cuộc đấu tranh của con người cho sự sống còn. Không có ý nghĩa nào khác hơn, cũng chẳng mục đích chi cao cả. Chết là sự tan rã của các phần tử hóa học; không còn gì tồn tại."