Ẩn Sĩ Trong Vườn Vua

13/02/202211:07(Xem: 20917)
Ẩn Sĩ Trong Vườn Vua

ẨN SĨ
TRONG VƯỜN VUA
 
Thuở xa xưa có một người
Trong gia đình nọ sống đời giàu sang
Nhưng mà ông lại chẳng màng
Chẳng ưa cuộc sống tầm thường thế nhân
Ông vào Hy Mã Lạp Sơn
Sống đời ẩn sĩ ở luôn trong rừng
Hàng ngày thiền định tập trung
Chân tâm phát triển vô cùng an vui
Hưởng thiền lạc thật tuyệt vời
Ung dung, tự tại, xa nơi thị thành
Khi ông thâu nhận môn sinh
Năm trăm người đã nhiệt tình ghi danh.
*
Mùa mưa giăng phủ rừng xanh
Quỳ bên sư trưởng môn sinh thưa thầy:
“Chúng con xin rời khỏi đây
Trở về thành thị ít ngày tạm nương
Để chờ bá tánh thập phương
Sẽ đem muối, giấm cúng dường thành tâm
Nhận xong về chốn sơn lâm
Thầy trò lại sẽ quây quần một nơi.”
Thầy đồng ý khẽ thốt lời:
“Các con trở lại khi trời hết mưa
Riêng ta vẫn cứ ẩn tu
Một mình trong chốn rừng thưa an lành.”
Tuân lời cả đám môn sinh
Cùng quỳ tạm biệt, về kinh đô liền
Ở vườn vua chốn công viên
Thành Ba La Nại giữa miền hoàng cung.
Hôm sau họ mới thong dong
Ra đi khất thực quanh trong xóm làng
Bà con hoan hỉ cúng dường
Muôn phần hậu hĩnh, trăm đường thành tâm
Vài ngày sau khắp xa gần
Thầy tu khất thực tiếng đồn loan nhanh
Nhà vua nghe được ngọn ngành:
“Các thầy khắc khổ tu hành nêu gương
Các căn nhiếp phục đàng hoàng
Luôn luôn giữ giới nghiêm trang vô ngần
Thật là công đức bội phần.”
Vua nghe vội tới ân cần thăm ngay
Sau khi đảnh lễ các thầy
Vua mời họ ở lại đây suốt mùa
Trong công viên bốn tháng mưa,
Các thầy vui nhận lời vua thỉnh mời.
Kể từ khi đó thảnh thơi
Ăn trong cung điện khỏi dời chân đi.
*
Thế rồi tới một ngày kia
Là ngày “Lễ Rượu” dân thì vui chơi
Người ta uống rượu khắp nơi
Lệ xưa: “Uống rượu cuộc đời gặp may.”
 
blank
Nhà vua nghĩ đến các thầy
Làm chi có rượu, ai đây cúng dường
Hôm nay nhân lễ bất thường
Rượu ngon vua vội truyền mang biếu thầy,
Thầy đâu quen uống rượu này
Cho nên tất cả cùng say sưa liền
Trở về lại chốn công viên
Các thầy múa hát cuồng điên lạ lùng
Bao đồ đạc vứt lung tung
Rồi nằm thiếp ngủ say không biết gì.
Hôm sau tỉnh, thấy ê chề
Hối vì làm những hành vi đêm rồi
Nghĩ sao bất chính quá thôi
Trong lòng hổ thẹn mọi người khóc than:
“Chúng ta tội lỗi vô vàn
Chỉ vì không được ở gần minh sư!”
Thế là tất cả giã từ
Rời công viên nhắm rừng xưa trở về.
Về xong sắp đặt mọi bề
Rất là ngăn nắp, rất chi gọn gàng
Theo như nếp sống thông thường
Rồi tìm sư trưởng nghiêm trang kính chào.
Thầy mừng, thăm hỏi: “Thế nào
Các con ăn ở ra sao trong thành?
Có hoà hợp, có tịnh thanh?
Có luôn giữ giới tu hành hay chăng?”
Năm trăm đệ tử thưa rằng:
“Chúng con uống rượu cúng dường của vua
Cho nên đều lỡ say sưa
Mất đi chánh niệm từ xưa giữ gìn
Múa ca ăn nói huyên thuyên
Ngu đần như lũ vượn miền rừng hoang
Để rồi hổ thẹn khóc than
May không thành vượn kéo đoàn về đây.”
Thầy từ bi dạy: “Chuyện này
Thời nào cũng có, lâu nay vậy rồi
Các môn sinh ở khắp nơi
Không thầy hướng dẫn, bao người lầm sai.
Rút kinh nghiệm cho tương lai
Đây là bài học nhớ hoài nghe con
Tu hành cần giữ giới luôn
Lánh xa ác hạnh, tiến gần minh sư.”
Môn sinh tiếp tục đường tu
Kể từ ngày đó rất ư trưởng thành
Luôn tịnh lạc, mãi an lành
Bên thầy kề cận tu hành nghiêm trang.
 
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
(thi hóa, phỏng dịch theo bản văn xuôi
FOREST MONKS IN A KING’S PLEASURE GARDEN
của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)
*
Nhận diện Tiền Thân:
 
TRUYỆN ẨN SĨ TRONG VƯỜN VUA
Sư trưởng có năm trăm đệ tử là tiền thân Đức Phật.
 
____________________________________
 
***
facebook
youtube
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26/05/2021(Xem: 13614)
Phật Đà sau khi thành Chánh Đẳng Chánh Giác nơi cội Bồ Đề, trong thời gian hai mươi mốt ngày, chỉ riêng mình thọ dụng diệu lạc giải thoát, tự riêng cảm niệm lý pháp tịch tịnh vi diệu thậm thâm khó thấy, không phải cảnh giới của tìm cầu, chỉ có bậc trí mới chứng ngộ được; chúng sanh thì bị nhiễm trước thâm sâu ngã kiến, ái lạc phiền não nặng nề, mặc dù họ được nghe Phật Pháp, e rằng cũng không thể rõ thấu, chỉ uổng công vô ích, chi bằng im lặng tịnh trụ tốt hơn. Sau đó Đại Phạm Thiên Vương ân cần cầu thỉnh Phật thuyết pháp, Thế Tôn mới đến Lộc Dã Uyển ngoài thành Ba La Nại Tư, vì năm ông thị giả lúc trước bỏ Phật mà vào trong đây tu khổ hạnh gồm có: A Nhã Kiều Trần Như, Át Bệ, Bạt Đề, Thập Lực Ca Diếp, Ma Nam Câu Lợi, giảng pháp môn Tứ Đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Năm vị sau khi nghe pháp thấu hiểu ý nghĩa các lậu đều dứt, chứng thành bậc A La Hán, đây là Tam Bảo đầu tiên mới thiết lập trong thế gian: Đại Thánh Phật Đà là Phật Bảo, Pháp Luân Tứ Đế là Pháp Bảo, Năm A La Hán là Tăng Bảo.
24/05/2021(Xem: 12828)
Đại thừa lấy việc chăn trâu dụ cho việc điều tâm, luyện tâm. Cái tâm đó, nguyên lai thuần hậu, nhưng đã bị đánh lạc mất, để nó chạy rông, buông lung theo sở thích không biết gì đến những hiểm nguy rình rập, cho nên phải tìm lại, và chế ngự cho thuần tính. Cái tâm vọng động xấu xa lần hồi được gạn lọc khỏi các cấu nhiễm trần gian sẽ sáng dần lên và từ chỗ vô minh sẽ đạt tới cảnh giới vòng tròn viên giác. Đó là tượng trưng cho phép tu “tiệm”. Theo phép tu tiệm thì phải tốn rất nhiều công phu mới tiến đến được từng nấc thang giác ngộ. Nhờ công phu, cái vọng tâm lần hồi gạn lọc được trần cấu mà sáng lần lên, cũng như nhờ được chăn dắt mà con trâu hoang đàng lâu ngày trở nên thuần thục dần dần và lớp da đen dơ dáy trắng lần ra.
24/05/2021(Xem: 10470)
Cơn đại dịch quét qua địa cầu gây điêu đứng và làm xáo trộn cả đời sống của nhân loại. Nó tước đi những sinh mệnh, làm đảo lộn nếp sống của từng cá nhân, gia đình, xã hội, quốc gia và quốc tế. Nó không phân biệt, nể trọng hay nhường nhịn ai; không kỳ thị trí thức hay bình dân, giàu hay nghèo, già hay trẻ, nam hay nữ, khỏe mạnh hay yếu đuối. Nó ly cách từng cá nhân, chia lìa những gia đình, khoanh vùng từng xã hội; và như lưỡi hái khổng lồ của tử thần, nó phạt ngang, san bằng tất cả những gì nằm trên lối đi thần tốc của nó.
24/05/2021(Xem: 16917)
Ca khúc phổ nhạc “Đóa Hoa Dâng Đời... Của Ns Phật Giáo Hằng Vang từ bài thơ có tựa là “ Đóa Hoa Ngàn Đời... Của Huyền Lan đăng tuần báo Giác Ngộ đặc biệt Phật Đản số 110 ra ngày 09/05/1998. Sau đó vào năm 2003. Cư Sỹ Tống Hồ Cầm – Phó Tổng Biên Tập Báo Giác Ngộ - tức nhà thơ Tống Anh Nghị - Chủ Nhiệm CLB thơ ca Báo Giác Ngộ, hợp tuyển thơ báo Giác Ngộ nhiều tác giả có tên gọi “Sắc Hương Hoa Bút... Được tuyển chọn vào tập thơ nhiều tác giả nầy...
24/05/2021(Xem: 12524)
Ni sư Thích Nữ Giới Hương có lẽ là vị trụ trì viết nhiều nhất ở hải ngoại. Đó là theo chỗ tôi biết, trong cương vị một nhà báo nhiều thập niên có liên hệ tới nhà chùa và công việc xuất bản. Viết là một nỗ lực gian nan, vì phải đọc nhiều, suy nghĩ nhiều, phân tích nhiều, cân nhắc kỹ rồi mới đưa chữ lên mặt giấy được. Đặc biệt, Ni sư Giới Hương cũng là vị trụ trì viết bằng tiếng Anh nhiều nhất. Tôi vẫn thường thắc mắc, làm thế nào Ni sư có đủ thời giờ để gánh vác Phật sự được đa dạng như thế. Nghĩ như thế, vì tự thấy bản thân mình, nghiệm ra, không có đủ sức đọc và viết nhiều như Ni sư.
18/05/2021(Xem: 13972)
Phật sử ghi lại rằng, vào canh Ba đêm thành đạo, đức Phật đã tìm ra câu giải đáp làm sao thoát khỏi cảnh “Sinh, Già, Bệnh, Chết”, tức thoát khỏi vòng “luân hồi sinh tử”. Câu trả lời là phải đoạn diệt tất cả “lậu hoặc”. Lậu hoặc chính là những dính mắc phiền não, xấu xa, ác độc, tham, sân, si… khiến tâm con người bị ô nhiễm từ đời này sang đời khác, và đời này con người ta vẫn tiếp tục huân tập lậu hoặc, tạo thành nghiệp. “Lậu hoặc” hay “nghiệp” là nguyên tố nhận chìm con người trong luân hồi sanh tử, là nguyên nhân của khổ đau. Muốn chấm dứt khổ đau, chấm dứt luân hồi sanh tử thì phải đoạn diệt tất cả các lậu hoặc, không có con đường nào khác!
18/05/2021(Xem: 10900)
Năm 1959 một sự đe dọa của Tàu Cộng chống lại Đức Đạt Lai Lạt Ma đưa đến sự phản kháng ở Lhasa. Hy vọng tránh được một cuộc tắm máu, ngài đã đi lưu vong và hơn 150,000 Tây Tạng đã đi theo ngài. Bất hạnh thay, hành động này đã không ngăn được sự tắm máu. Một số báo cáo nói rằng khoảng một triệu người Tây Tạng đã chết trong năm đó như một kết quả trực tiếp của việc Tàu Cộng xâm chiếm Tây Tạng.
16/05/2021(Xem: 20320)
Nhận xét rằng, Chúng ta đang đứng trước một khúc quanh gấp của lịch sử nhân loại. Đại dịch Covid-19 đã khép kín mỗi cá nhân trong một không gian chật hẹp, cách ly xã hội, cô lập cá nhân, cách ly cả những người thân yêu. Nó đã tạo ra những khủng hoảng tâm lý trầm trọng trong nhiều thành phần xã hội. Một số đông bị quẫn bức, không thể tự kềm chế, bỗng chốc trở thành con người bạo lực, gieo kinh hoàng cho xã hội. Một số khác, có lẽ là số ít, mà phần lớn trong đó là thanh thiếu niên, khởi đầu cũng chất đầy oán hận trong lòng, nhưng rồi trước ngưỡng sinh tử sự đại, tự mình phấn đấu tự kềm chế, cuối cùng đã khám phá chính mình, trong trình độ nào đó, với những giá trị nhân sinh chỉ có thể tìm thấy trong những cơn tư duy thầm lặng. Giá trị nhân sinh không thể tìm thấy bằng những cao trào kích động của tuổi trẻ. Thế hệ ấy sẽ làm thay đổi hướng đi của lịch sử Đông Tây qua hai nghìn năm kỷ nguyên văn minh Cơ-đốc, khi mà tín đồ có thể liên hệ trực tiếp với đấng Chí Tôn của mình qua mạng truyền
15/05/2021(Xem: 14272)
Phần này bàn về niên hiệu Long Thái và chúa Khánh ở Cao Bằng vào thời LM de Rhodes đến truyền đạo. Đây là lần đầu tiên các danh từ như vậy được dùng trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh (chữ quốc ngữ). Các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là cuốn "Chúa Thao cổ truyện" và bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false.
15/05/2021(Xem: 10078)
Không nói được tiếng Tây Tạng và chưa bao giờ dịch tác phẩm nào nhưng Evans-Wentz được biết đến như một dịch giả xuất sắc các văn bản tiếng Tây Tạng quan trọng, đặc biệt là cuốn Tử Thư Tây Tạng ấn bản năm 1927. Đây là cuốn sách đầu tiên về Phật giáo Tây Tạng mà người Tây Phương đặc biệt quan tâm. Ông Roger Corless, giáo sư Tôn Giáo Học tại đại học Duke cho biết: “Ông Evans-Wentz không tự cho mình là dịch giả của tác phẩm này nhưng ông đã vô tình tiết lộ đôi điều chính ông là dịch giả.”