Ấm Ma Và Thiền Định

15/05/202111:18(Xem: 8167)
Ấm Ma Và Thiền Định

ẤM MA VÀ THIỀN ĐỊNH
buddha_227

Ấm ma là hiện tượng hóa ngôn ngữ. Trong kinh Lăng Nghiêm nói đến 50 ấm ma là nói đến biến tướng của nghiệp thức, của các kiết sử thông qua lục căn từng giao tiếp với lục trần trên nền tảng “ sắc-thọ-tưởng-hành-thức”.

Bất cứ pháp môn nào lúc hành trì miên mật luôn gặp ngũ ấm khởi hiện quấy rối.Nhẹ nhất là ngứa ngáy khó chịu,muốn tìm mọi cớ , mọi việc để ngưng hành trì; thích lăng xăng đi đứng…vượt qua những động thái đó là lúc nhập định, tâm lắng đọng là lúc nghiệp thức phát khởi, chủng tử nào nặng nhất thì hạt giống đó luôn xuất hiện;nghiệp dục nặng thì hiện tướng dục biến dạng nhiều cảnh trạng cám dỗ. Sân hận nhiều thì ác tướng kích hoạt phiền não nổi lên;tham danh thì chướng ma tôn vinh hành giả, gắn kết hành giả với sứ mạng cao cả. Tham lợi thì tiền của vật chất là mồi ngon hiến tặng để hành giả say đắm; mọi thứ tham đắm đều cám dỗ hành giả say mê.50 ấm ma là biểu tượng chung cho vô số chướng duyên trên con đường hành trì chuyên sâu vào tâm linh giải thoát.

Trong trạng thái thiền định là thế, nếu hành giả bất động trước những ấm ma cám dỗ, tiến bộ tâm linh sẽ khai phát. Tiến bộ sơ đẵng dễ nhận thấy là cảm nhận những gì sắp xảy ra gần; giao tiếp biết được trình độ khả năng, thiện hoặc bất thiện của đối tượng, đôi khi nắm bắt được ý tưởng của đối phương; cảm nhận được việc lành dữ sắp xảy đến…cứ miên mật hành trì, chắc chắn sẽ có kết quả hoặc nhiều hoặc ít tùy theo mức độ tâm định.

Ngược lại, người đi trên lộ trình giải thoát nhưng không chuyên sâu hành trì, đời sống chìm vào nghiệp thức hiển lộ qua cách sống thường nhật, tự mãn điều kiện vật chất sống sung túc, háo danh, lăng xăng vào chuyện thế tục, ngóng chuyện thế sự, tâm hướng bên ngoài nhiều hơn nhìn vào mình qua thân khẩu ý, nhìn vào diễn tiến tâm thức; do thế cứ huân tập thêm nhiều ác nghiệp, tiêu giảm các thiện nghiệp, tâm khó lắng yên.

Cuộc sống ai cũng gặp thuận cảnh hoặc chướng duyên tùy lúc. Càng gặp thuận cảnh hay chướng duyên, người tu cần cảnh giác tránh lọt sâu vào biến tướng của nghiệp thức, bị lạc dẫn bởi ấm ma sanh kiêu mạng hoặc sanh cảm thống. Cuộc sống đôi lúc gặp trục trặc trắc trở, thì con đường hướng nội cũng không khác. Tu tập đôi khi biếng nhác trễ nải, lắm khi ngưng trệ muốn xét lại con đường đang hành trì, sanh ngờ vực pháp môn đang tu tập…Đó là những chướng duyên thường gặp, phải kiên trì vượt qua, có chí ắt thành công.

Đây không phải chuyên đề về công năng tu tập, nên không đi sâu vào từng trạng thái của ấm ma làm cản trở việc tu tập. Khái quát hiện tượng tâm thức gọi là ấm ma lạc dẫn hành giả, mục đich cảnh giác người con Phật đi vào con đường thiện nghiệp hoặc giải thoát trong từng giai đoạn.

Cẩn chí

MINH MẪN 
12/5/2021



***
youtube
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/02/2022(Xem: 19336)
Tác giả tác phẩm này là Tỳ Kheo Sujato, thường được ghi tên là Bhikkhu Sujato, một nhà sư Úc châu uyên bác, đã dịch bốn Tạng Nikaya từ tiếng Pali sang tiếng Anh. Bhikkhu Sujato cũng là Trưởng Ban Biên Tập mạng SuttaCentral.net, nơi lưu trữ Tạng Pali và Tạng A Hàm trong nhiều ngôn ngữ -- các ngôn ngữ Pali, Sanskrit, Tạng ngữ, Hán ngữ, Việt ngữ và vài chục ngôn ngữ khác – trong đó có bản Nikaya Việt ngữ do Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch từ Tạng Pali, và bản A-Hàm Việt ngữ do hai Hòa Thượng Tuệ Sỹ và Thích Đức Thắng dịch từ Hán Tạng.
22/02/2022(Xem: 9526)
Trong lịch sử, các đại dịch đã buộc nhân loại phải đoạn tuyệt với quá khứ và hy vọng ở tương lai thế giới mới của họ. Điều này không có gì khác lạ. Nó là một cổng thông tin, một cửa ngõ, giữa thế giới đương đại và thế giới tương lai. Nhà văn, nhà tiểu luận, nhà hoạt động người Ấn Độ Arundhati Roy, Đại dịch là một cổng thông tin
21/02/2022(Xem: 7821)
Bốn Sự Thật Cao Quý được các kinh sách Hán ngữ gọi là Tứ Diệu Đế, là căn bản của toàn bộ Giáo Huấn của Đức Phật và cũng là một đề tài thuyết giảng quen thuộc. Do đó đôi khi chúng ta cũng có cảm tưởng là mình hiểu rõ khái niệm này, thế nhưng thật ra thì ý nghĩa của Bốn Sự Thật Cao Quý rất sâu sắc và thuộc nhiều cấp bậc hiểu biết khác nhau. Bài chuyển ngữ dưới đây đặc biệt nhấn mạnh đến nguồn gốc vô minh tạo ra mọi thứ khổ đau cho con người, đã được nhà sư Tây Tạng Guéshé Lobsang Yésheé thuyết giảng tại chùa Thar Deu Ling, một ngôi chùa tọa lạc tại một vùng ngoại ô thành phố Paris, vào ngày 16 và 30 tháng 9 năm 2004. Bài giảng được chùa Thar Deu Ling in thành một quyển sách nhỏ, ấn bản thứ nhất vào năm 2006.
19/02/2022(Xem: 12059)
Nhân Tết Nhâm Dần, với tâm niệm hộ trì Tam Bảo và mừng tuổi chư Tăng tu hành nơi xứ Phật chúng con, chúng tôi vừa thực hiện một buổi cúng dường Trai Tăng & tịnh tài đến chư Tôn đức Tăng già, các bậc xuất sỹ thường trú tại khu Thánh tích Bồ Đề Đạo Tràng, nơi đức Thế Tôn thành Đạo..
18/02/2022(Xem: 10738)
Phải công nhận với đà tiến triển kỹ thuật văn minh của vi tính, những gì ta có thể được tiếp xúc, thọ nhận sẽ nhiều hơn ngày trước ngàn lần ... khiến chúng ta đã có thể thay đổi dễ dàng theo sự tiến hóa của nhân loại và mở rộng sự hiểu biết với thế giới bên ngoài, hơn thế nữa ký ức chúng ta cũng được lưu lại dưới dạng hình ảnh, những bài pháp thoại và những trang cập nhật có thể truy cứu trong vài phút ...đó là lý do tôi ao ước được viết lại cảm nghĩ của mình khi nghe lại bài pháp thoại tuyệt vời từ 6 năm về trước tại Tu Viện Quảng Đức. Kính xin niệm ân tất cả nhân duyên đã cho tôi có cơ hội này ....
17/02/2022(Xem: 15911)
Cháu tìm ra chút nhân duyên Trời cao biển rộng ngoại tìm ra không? Non xanh nước biếc phiêu bồng Về già ngoại vẫn đếm đong đi tìm Một đời bay mỏi cánh chim Nghiệp duyên ba nổi bảy chìm xang bang Lên non xuống biển tìm vàng Nhân duyên bắt được chỉ toàn đá rêu
17/02/2022(Xem: 10573)
“Một con én một đoạn đường lay lất Một đêm dài nghe thác đổ trên cao Ta bước vội qua dòng sông biền biệt Đợi mưa dầm trong cánh bướm xôn xao
17/02/2022(Xem: 10434)
Phần này tiếp theo loạt bài “Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes” về các Kinh Lạy Cha và Kinh A Ve (đánh số 5 và 26). Bài này chú trọng đến các dạng chữ Nôm trong bản Kinh Tin Kính (KTK) của LM Philiphê Bỉnh, đặc biệt là từ tài liệu của các LM de Rhodes và Maiorica, và cũng so sánh với các dạng chữ quốc ngữ trong tài liệu chép tay của cụ Bỉnh.
15/02/2022(Xem: 17871)
Với mục đích quảng bá Phật Pháp miễn phí đến những vị muốn Tu học Phật Pháp, Rèn luyện Anh ngữ, Luyện Dịch Việt-Anh hoặc Anh-Việt, (nhất là những vị đang sinh sống, hoặc sẽ đi hay đang du học, ở những quốc gia sử dụng tiếng Anh – cũng là ngôn ngữ quốc tế được sử dụng khắp thế giới). Thế Giới Phật Giáo .org đã thực hiện sách Song ngữ ANH-VIỆT Đối chiếu (từng đoạn văn Rất NGẮN để dể đối chiếu) sau đây.
13/02/2022(Xem: 14679)
Hiện nay chúng ta đang có 2 cách tính thời gian theo : Âm Lịch và Dương Lịch. Phương Tây và nhiều nước trên thế giới sử dụng Dương Lịch, lịch này tính theo chu kỳ tự quay xung quanh trục mình của Trái Đất và Trái Đất quay xung quanh mặt trời. Trong khi đó cách tính Âm Lịch sử dụng Can Chi, bao gồm thập Can và thập nhị Chi. Trong đó, 10 Can gồm: Canh, Tân, Nhâm, Quý, Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ được tạo thành từ Ngũ hành Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ. 12 Chi được lựa chọn từ các con vật gần gũi với con người hoặc thuần dưỡng sớm nhất. Có một sự khác nhau trong 12 Chi giữa Âm Lịch Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam,.... đó là Chi thứ 4 là con Mèo hay con Thỏ. Ở Việt Nam, 12 con giáp gồm: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, tương ứng với 12 con vật : Chuột, Trâu, Hổ, Mèo, Rồng, Rắn, Ngựa, Dê, Khỉ, Gà, Chó, Lợn. Khi ghép lại sẽ tạo thành 60 năm (bội số chung nhỏ nhất của 10 và 12) từ các tổ hợp Can - Chi khác nhau, gọi chung là Lục Thập Hoa Giáp.