Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Câu chuyện kinh Lăng Nghiêm

28/01/202110:11(Xem: 862)
Câu chuyện kinh Lăng Nghiêm
Câu chuyện kinh Lăng Nghiêm
Phổ Tấn
Buddha-302

Chùa Thiếu Lâm Tự mở ra khóa ngồi thiền cho 18 vị tu thành A la Hán. Khoá tu này trong 30 ngày ngồi trong tịnh thất suốt ngày đêm. Vị chủ trì là Hòa thượng trụ trì của Thiếu Lâm Tự. Thời bấy giờ là mùa xuân, cảnh đẹp hoa nở và thời tiết ấm áp. Mọi thiền sinh miệt mài tập trung thiền định đạt được 30 ngày miên mật thì bỗng xảy ra tiếng nói vọng vào từ ngoài cửa. Giọng nói đầy êm dịu thanh thoát và trong trẻo của một cô gái. Mỗi tiếng phát âm đi sâu vào tim người nghe một cảm giác êm dịu nhẹ nhàng như vuốt ve trái tim của con người.

-           Bạch sư trưởng lão trụ trì. Con là một vương nữ đã đến thiền tự mấy năm nay dâng hoa cúng Phật. Con có nguyện với Phật rằng chính tay con mang tặng đôi giày cho các vị thiền sinh tu tập trong Tịnh thất này vào ngày cuối cùng của khóa thiền tập. Hôm nay là ngày cuối cùng, như con nguyện với Phật, xin sư trụ trì cho phép con mang tặng cho 18 vị tu thành A La Hán đôi giày mà chính con tự tay may vá tạo thành.

-           Vị sư trụ trì bảo, này thí chủ trẻ, nơi đây là tịnh thất cho thiền định của khóa tu thiền và hôm nay là ngày cuối cùng. Thí chủ hãy về đi, tôi không chấp nhận lời yêu cầu này được. Cảm ơn lòng cúng dường của thí chủ.

-           Cô gái trẻ quỳ lạy ở ngay cổng tịnh thất, cất giọng khẩn cầu:  Bạch thầy, con đã thề nguyền với Phật với lòng thành kính là chính tay con may vá tặng 18 đôi giày cho 18 vị tu tập thành A La Hán vào ngày cuối cùng của khóa tu trước khi họ đắc đạo thành A La Hán. Xin thầy cho phép con thực hiện lời thề nguyện này, nếu không còn quỳ mãi ở nơi đây không đứng dậy.  Sư trụ trì Thiếu Lâm Tự từ chối hai lần liên tiếp, nhưng cô gái trẻ vẫn một mực quỳ lạy yêu cầu cho cô thực hiện lời thề nguyện với Phật. Cuối cùng sư trụ trì đành chìu lòng thành của cô gái.

Cô gái bước vào trong tịnh thất, 18 cặp mắt của các vị tu thiền sinh đều ngước nhìn lên cô gái ấy. Một cô gái đẹp vô cùng xuất hiện trước 18 vị. Dáng người thanh thoát mảnh mai, nước da trắng mịn hồng hào, gương mặt trái xoan trắng mịn tươi sáng, ánh mắt long lanh dịu dàng với cặp long mài như lá liễu. Đôi môi chúm chím hồng tươi tự nhiên không son phấn. Mái tóc xõa dài đến ngang lưng đen nhánh và mượt mà. Cả người cô gái thoát ra một mùi hương êm ã dịu dàng thom tho của người con gái mới lớn. Miệng xinh xắn mỉm cười và tiếng nói thì thật là êm dịu thánh thót như chim họa mi cất tiếng hót. Cô gái bước vào mang theo bị túi chứa 18 đôi giày do chính tay cô may vá tạo thành. Với mấy cái khăn lau màu trắng sạch sẽ. Cô gái bước đến một vị thiền sinh chắp tay trước ngực rồi quỳ xuống lạy vị tu thiền, rồi lấy chiếc khăn trắng sạch lau đôi bàn chân của vị thiền sinh rồi chính bàn tay mềm mại đó cô mang đôi giày vào đôi chân của vị thiền sinh này. Một bàn tay mềm mại ngón tay ngòi viết búp măn trắng mịn. Bàn tay ấy và cả người cô gái có mùi hương thơm tho ấy tỏa lên một sức quyến rũ cực kỳ mạnh mẽ. Cô gái vuốt ve đôi chân của từng vị một, lau sạch đôi chân và chính đôi tay ấy mang vào đôi giày đẹp do cô tự may vá lấy. 18 vị thiền sinh sau 30 ngày miên mật thiền định đã bị một sức quyến rũ cực mạnh làm trái tim họ đập mạnh, tâm họ bấn loạn không còn nhất tâm bất loạn được nữa. Họ cố gắng an trụ và điều phục Tâm, họ cho 6 căn của họ không tiếp xúc 6 trần của cả toàn thân và mùi hương của cô gái trẻ. Họ đã cố gắng điều phục chiến đấu Tâm họ ngay lúc này. Thời điểm của ngày thứ 30, kết quả của một tháng nhập thất tịnh tu. Cô gái lau đôi chân và mang đôi giày cho 18 vị thiền sinh xong. Bây giờ cô gái quỳ lạy vị sư trụ trì Thiếu Lâm Tự và cất giọng nói.

-           Bạch sư trưởng lão trụ trì. Con rất cảm tạ người đã cho phép con hôm nay làm tròn điều thề nguyện của con, mà con đã chuẩn bị cả tháng nay. Tâm nguyện của con đã thành, giờ con xin phép đi ra khỏi đây.

Vị trưởng lão trụ trì chậm rãi cất lời, giọng đầy cứng cỏi và vang lên mạnh mẽ.

-           Này cô gái trẻ. Tôi đã từ chối 3 lần việc thí chủ đến đây xin vào tịnh thất mang giày cho 18 vị tu thiền hôm nay, mà cô vẫn một mực đòi hỏi thực hiện. Nay việc đó cô đã làm xong. Cô đã vào tịnh thất vào ngày cuối cùng của khóa tu nhập tịnh thiền để quậy phá tâm tu tập của 18 thiền sinh. Họ đã an định thì nay họ mất hết an định suốt 30 ngày họ tu tập. Việc làm này như Ma Vương quậy phá Đức Phật đang thiền định dưới cội bồ đề khi xưa. Cô đã tạo nghiệp lớn trong đời cô rồi. Với nghiệp này cô sẽ phải trả quả báo của nó. Có hai cách trả nghiệp do cô tự gây ra. Một là cô sẽ làm vợ 18 vị này trong 18 kiếp sau này của Cô. Hai là cô phải tự mình treo cổ chết ngay tại đây để trả hết nghiệp. Cô hãy chọn đi.

Cô gái nghe vậy òa lên khóc nức nở, giọt nước mắt chan chứa làm động tâm từ bi của 18 vị thiền sinh. Nhưng đôi mắt của vị sư trưởng trụ trì vẫn sáng ngời không cảm xúc. Cô gái xin sám hối nhưng vị trụ trì vẫn im lặng không chấp thuận. Cuối cùng cô gái đành chọn treo cổ tự vẫn để trả nghiệp mình làm. Và điều ấy được thực hiện ngay cổng của tịnh thất. Khăn vải trắng được mang ra treo cô gái tại cửa của tịnh thất. Vị sư trụ trì bắt tất cả 18 vị thiền sinh ngồi thiền và ngắm nhìn cô gái ấy giãy dụa chết trước mặt họ. Cô gái xinh đẹp kia giờ đã trở thành một thân xác cứng đờ, lưỡi lè ra dài vì thắt cổ. Thân thể trắng hồng xưa kia giờ đã xanh lè tái nhợt. Đôi mắt long lanh giờ trở thành đôi mắt lòi ra mở rộng không nhắm được. Toàn thân cô gái thom tho xưa giờ bắt đầu rục rã.

 Vị sư trụ trì bắt tất cả 18 vị thiền sinh quán chiếu nhìn thân cô gái trẻ ấy và dạy bảo: Này các con, các con hãy tịnh tâm nhìn thân cô gái đang treo cổ ngay trước cửa tịnh thất mà quán chiếu. Việc quán chiếu đầu tiên là Vô thường. Trước đây cô gái trẻ là người con gái đẹp có sức hút mãnh liệt, giờ là thân thể chết bất động xanh mét và xấu xí. Đó là Vô thường. Biết Vô thường thì rất dễ dàng nhưng cảm nhận Vô thường trong từng sắc na của cơ thể ta là điều rất khó làm được. Thời gian trôi qua làm ta cảm nhận Vô thường vì nó thay đổi theo từng sắc na của quá khứ. Vì Vô thường nên đi đến Vô ngã của chính ta và các pháp xung quanh ta. Các pháp và chính chúng ta đều Vô ngã. Tức là không có cái gì tự nhiên mà hiện hữu, chúng phải dựa vào nhau mà cùng hiện hữu và cùng tiêu diệt. Cái này có cái kia có, cái nầy mất cái kia mất. Duyên khởi là Vô Ngã Tướng mà Đức Phật dạy cho chúng ta. Vì có Ngã có cái tôi nên chúng ta tham sân si tức là có lậu hoặc đau khổ. Đạo Phật có vị giải thoát, lời Phật dạy như biển có vị mặn. Giải thoát là diệt tận cùng các lậu hoặc tham sân si. Diệt bằng cách nó hiện ra thì chặt đứt nó. Chặt hoài nó cứ hiện ra hoài thì quán tận gốc rễ nó là Tánh Không. Ngủ uẩn 6 căn 6 trần 6 thức, 7 đại đều là Không, là không có tự tính, không bền bĩ không tự nhiên mà sinh ra. Vì vậy tất cả là Giả lập, duyên hội tụ thì có, duyên tan rã thì chết, thì bị diệt. Bây giờ thân cô gái đang tan rã, duyên ngũ uẩn đang tan rã. Ngũ uẩn đang trả về với ngũ uẩn. Sắc uẩn thì thành cát bụi, 4 uẩn còn lại là Tâm trả về Tâm thức của cô gái, đợi chờ duyên hội tụ với 7 Đại: đất nước gió lửa không kiến thức mà thành thân thể khác của kiếp sau. Tâm thức này bị nghiệp dẫn đi đầu thai. Cô gái đã tạo nghiệp và đang trả nghiệp. Các con hãy quán chiều đến thân thể bất tịnh của chúng sinh. Như thân thể cô gái này giờ mỗi ngày một sình to lên, lớn lên gần bằng gấp đôi. Tay chân và bụng đều nỡ to lớn và bắt đầu hôi thúi sình to. Thân thể thanh cảnh lúc đầu nay đã trở thành to lớn phình ra và chảy nước. Sự tan rã của thân thể ấy là một minh chứng cho bất tịnh của thân. Hãy ngồi thiền Tứ Niệm Xứ: quán Thân bất tịnh, quán Thọ khổ đau, quán Tâm vô thường, quán Pháp vô ngã. Hãy thiền quán chiếu tận sâu 4 điều trên.

-           Vị sư trụ trì giảng tiếp sau mấy ngày các thiền sinh quán Tứ Niệm Xứ xong. Này các con, kế tiếp là các con hãy quán chiếu Bát Nhã Tánh Không. Đó là bản tánh của sự sự vật vật chúng ta và các pháp. Đó là vô tự tánh của Ngã và Pháp. Đó là bản chất của hiện tượng do hình tướng bên ngoài chúng ta thấy. Kế đến là quán chiếu đến Chân Như là bản chất hiện thực của vạn pháp. Đó là Chân Như, Như Lai Tạng, là Phật Tánh Chân Tâm niết bàn. Giờ ta nói với các con về tánh thấy tánh nghe tánh cảm xúc theo kinh Lăng Nghiêm. Đó là Phật tánh, Chân Như. Khi cô gái bước vào tịnh thất, các con đều ngẩn đầu ngắm nhìn cô gái xinh đẹp là cái thấy vì có đối tượng là cô gái. Khi cô gái chưa xuất hiện thì là cái thấy là thấy không có cô gái. Cái thấy là cái thấy có đối tượng hay không có đối tượng. Tương tự khi cô gái cất tiếng nói ra các con nghe vì có âm thanh đối tượng nghe. Khi cô gái không nói im lặng thì các con nghe là nghe không có âm thanh. Vậy tánh thấy theo kinh Lăng Nghiêm là gì? Khi cô gái xuất hiện là duyên hội tụ lại cô gái có mặt tại tịnh thất. Duyên sanh ra thì tạo đối tượng cho cái thấy cái nghe cái xúc. Duyên này xảy ra cho trần cảnh mà có. Duyên đi đôi với nghiệp tạo thành đối tượng cái thấy cái nghe cái xúc.

-       Bây giờ các con nghiệm lại nền tảng cho cái thấy, môi trường cho duyên này xảy ra, và không gian cho nó hiện hữu. Tất cả là cái cố định không bao giờ sanh diệt bất biến, đó là quy luật cho thấy nghe cảm xúc v.v..quy luật cho 6 căn tiếp xúc 6 trần tạo ra 6 thức . Luật hội tụ sáu cái này là tánh, là bản chất là môi trường là không gian cho nó xảy ra. Đó là Tánh thấy Tánh nghe Tánh cãm xúc v.v. v. Các tánh chất nầy gom lại một tánh chung là Tánh giác. Tánh giác chỉ có một nhưng áp đặt lên 6 căn thì tạo thành 6 tánh của 6 căn đó. Các con nên hiểu Tánh giác đó còn gọi là Phật Tánh là Chân Như là Tri Kiến Phật là Chân Tâm tùy theo kinh Phật giảng mà có tên. Gom lại các bản chất các tánh chất đó là Như Lai Tạng.

 Như vậy kinh Lăng Nghiêm có gọi là vọng thấy vọng nghe là gì? Nói khoa học là sự vận chuyển từ mắt vô võng mạc ở mắt, rồi chuyển hình ảnh ở võng mạc bằng hệ thần kinh điện tử chuyển lên vỏ não ở bộ phận thấy của mắt. Vỏ não có khu vực này để thấy rồi chuyển qua bán cầu não ở khu vực phân tích và bộ nhớ. Tất cả sự hoạt động vận hành này cố định không sinh không diệt có từ muôn đời trước và sau nầy gọi là quy luật tự nhiên, biết được quy luật nầy là Phật Tánh Tánh giác. Giác nầy là không có phân biệt phân tích của não bộ là Tánh thấy. Còn phân tích não bộ là còn cái tôi xen vào. Lúc phân tích là sự hoạt động của Mạc Na Thức số 7 còn gọi là cái Ngã. Vậy vọng thấy vọng nghe vọng cảm xúc đều là có đối tượng có phân biệt phân tích, có xen vào cái Ngã . Còn Tánh thấy thì không có vọng là không có Ngã xen vào không có phân tích. Khi cô gái bước vào và hành động thì các con đã có cái thấy cái nghe cái cảm xúc. Nhưng khi các con quán chiếu trở lại thì Tánh thấy Tánh nghe Tánh cảm xúc là cái bất biến không sanh diệt là bản chất của chúng do các con quán chiếu về nền tảng, về môi trường, về không gian của nó. Gom chúng lại 6 căn với đối tượng 6 trần đó thành một Tánh giác thì Tánh giác nầy áp vào căn nào thì trở thành tánh của căn đó như Tánh thấy là áp vào căn mắt, Tánh nghe v.v..Tánh là bản chất không sanh không diệt cố định và bất biến. Vậy cái gì bất biến trong việc thấy nghe của chúng ta?  Về phân tâm học sự phân tách suy luận phán đoán là sự hoạt động của Ý thức còn lại Tiềm thức và Vô thức thì không có phán đoán này. Phân tâm học đi theo đường của y khoa là khi thấy chuyển lên vỏ não thấy rồi tự nhiên chuyển qua khu vực bán cầu não bộ nên phân tích và đi vào bộ nhớ ngay. Chúng ta không thể ngăn được sự chuyển qua nầy nên có phán đoán ý thích của cái tôi cái Ngã của mình. Tu đạo là kiềm chế sự vận chuyển này để nó đừng đi đến cái Ngã đến tham sân si. Theo Duy Thức thì chủng tử nhìn thấy ghi nhận vào Tàng thức và trú ở đó muôn đời nên khi ta gặp lại người xưa mấy chục năm vẫn còn nhớ vì chủng tử này ở Tàng thức vận hành. Tánh giác là cái biết lần thứ hai biết được mình đã biết những điều qui luật tự nhiên đó. Cái biết đầu là biết của Ý thức, cái biết sau là cái biết của Trí tuệ. Thức biến thành Trí là vậy. Các con hãy cố gắng thiền định về Tánh thấy.

Lục tổ Huệ năng dạy rằng: Người đời sắc thân xem như là bức tường thành, mắt tai mũi lưỡi là các cánh cửa thành, ngoài có 5 cửa tức là căn mắt tai mũi lưỡi thân, trong có cửa ý nên gọi là Ý căn, Tâm là cõi đất, tánh Phật Tánh là vua , vua ngự trên đất tâm là Tánh giác Như Lai phóng ánh sáng lớn ra ngoài soi sáng 6 cửa thanh tịnh phá sạch cõi lục dục, tự sáng chiếu bên trong tiêu trừ 3 độc tham sân si. Trong ngoài sáng rõ thấu suốt không khác gì cõi Tây Phương.  Lục tổ dạy Tánh giác ở bên trong tâm ta rồi sáng chiếu hết 6 cửa thành của 6 căn thông suốt. Vậy tu tập là lấy Ý căn làm chính mà đi vào Tâm để nhận ra Phật tánh Tánh giác để rồi mở Tánh giác đó ra chiếu rọi hết 6 căn thành Tánh thấy Tánh nghe Tánh biết v.v.v. Tu tập là tu Ý căn như kinh Pháp Cú Phật dạy ý dẫn đầu các pháp. Tu Ý căn là dùng ý thức để tránh dùng ý thức. Tại sao? Vì khi thiền đạt Định tức hơi thở vô ra nhẹ nhàng ít oxygen lên não bộ, thì cơ thể buông xả Ý thức ít vận động ít phân tích, giảm dần Ý thức là đi đến Vô phân biệt. Khi Ý thức ít vận hành thì ta dùng Chánh Niệm, công án hay niệm Phật hay niệm Quán Thế Âm hay quán Tứ Niệm Xứ. Ý thức dẹp bớt dần đi đến hết còn Ý thức là trạng thái Định của thiền. Bây giờ Tánh giác từ Tàng thức bật dậy đi ra ngoài mà không bị Mạc Na Thức xen vào. Ý thức của cái tôi Ngã không xen vào thì lúc đó trực nhận trực giác bật lên và đó là Tánh giác là Trí tuệ Bát Nhã. Tức là cái biết lần thứ hai sau cái biết của Ý thức. Cái biết của Ý thức mất thì cái giác bật ra, còn gọi là cái Trí, thức biến thành Trí. Tương tự như quán Tánh Không để đạt Trí tuệ Bát Nhã là Tánh không.

Đến đúng 7 ngày, thân thể của cô gái trẻ đã thành tiêu huỷ, mấy con vòi bò lúc nhút nước vàng chảy lênh láng. Sư trụ trì ra lệnh các thiền sinh đã quán chiếu và nghe thuyết giảng về Tánh giác của kinh Lăng Nghiêm xong, mang thi thể của cô gái ra chôn bên cạnh chùa và canh giữ ngôi mộ này cho đến đúng 49 ngày. Sư trụ trì e ngại có người thương cảm mà ăn cắp thi thể cô gái. Các thiền sinh thay phiên nhau canh giữ ngôi mộ đúng 49 ngày. Sư trụ trì kêu gọi các thiền sinh đúng 18 người đến ngôi mộ, ngồi chung quanh ngôi mộ và ra lệnh khai quật ngôi mộ lên xem thi thể cô gái có bị mất cắp không. Sau khi mở nắp quan tài ra, mọi người ngạc nhiên kêu ồ lên tiếng khi thấy trong quan tài là một tượng của Bồ Tát Quán Thế Âm to lớn bằng người cô gái. Ngoài tượng ra quan tài sạch sẽ không có chất gì của thân thể con người, sạch sẽ và đẹp đẻ như mới. Sư trụ trì ra lệnh mọi người quỳ lạy và tụng bài kinh Quán Thế Âm Bồ Tát và cho biết cô gái ấy là hiện thân của Quán Thế Âm thử thách ngày chót của thiền sinh đã ngộ được đạo. Sự thử thách do lấy 6 căn tiếp xúc 6 trần tạo ra 6 thức là Vọng thức nếu ai đạt Tánh giác thì sẽ đắc đạo tức là Thủ hộ 6 căn thành công. Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát!!!

Phật dạy Y Nghĩa bất Y Ngữ, xin quán câu chuyện hư cấu này với ý nghĩa của nó.




***
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/09/202117:46(Xem: 518)
Kính mời quý Phật tử xem thông báo này của Moreland City Council (nhân viên council vừa đến chùa nhờ thông báo), nếu quý vị chưa chích Covid-19 vaccine xin liên lạc booking số: 1800 675 398 và đến Fawkner Community Hall, 79 Jukes Rd, Fawkner (cách Tu Viện Quảng Đức một con đường, 5 phút đi bộ) vào các ngày 27, 28 và 29 tháng 9 năm 2021 để được chích vaccine. Từ 12 tuổi đến 60 tuổi sẽ được chích Pfizer; từ 60 tuổi trở lên sẽ được chích AstraZeneca. Cầu nguyện đại dịch sớm tận trừ và mọi người vui khỏe và bình an. Nay xin thông báo, Thích Nguyên Tạng Trụ Trì Tu Viện Quảng Đức 🙏🙏🙏🌹🥀🌷🌷🌸🏵️🌻🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️
23/09/202112:03(Xem: 347)
Có một câu chuyện tu thân mà tôi học từ sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Sơ Đẳng (Tiểu Học) khi tôi còn mười, mười một tuổi tức cách đây 70 năm tại Hải Phòng mà tôi vẫn còn nhớ. Đó là bài Cách Sửa Mình như sau:
20/09/202110:52(Xem: 338)
Trí tuệ và từ bi có phải chỉ riêng nhân loại mới có? Hay là, loài vật cũng có trí tuệ và từ bi, nhưng ở mức sơ khai hơn? Cuộc nghiên cứu mới đây về heo rừng cho thấy những bất ngờ về mức độ cao của khôn ngoan và tình thương nơi một trường hợp khảo sát.
19/09/202116:24(Xem: 352)
Hai năm trước, khoảng tháng 11 năm 2019, một người bạn từ bên kia nửa vòng trái đất cho tôi biết vừa thấy “tuyển tập” Thấp thoáng Lời Kinh, tập hợp một số sách viết về Kinh Phật của tôi xuất hiện trên Thư Viện Hoa Sen và một số trang mạng khác. Tôi hơi ngạc nhiên nhưng nghĩ có thể là do anh 5 Hiền, Nguyễn Hiền-Đức đây rồi chớ không phải ai khác. Bởi vì người bạn 5 Hiền rất dễ thương này mấy năm trước đã mang đến tặng tôi nhiều “tuyển tập” của tôi do anh có nhã hứng thực hiện mà không “trao đổi” trước chút nào cả, khiến mình không khỏi giật mình.
17/09/202114:00(Xem: 448)
Tăng đoàn Phổ Môn và Suối Từ (Texas) dưới sự hướng dẫn của Thiền sư Thích Thông Hội và Thiền Sư Thích Diệu Thiện đến viếng thăm, tụng kinh, ban pháp thoại và thiền hành với Ni chúng Hương Sen (Riverside, California) vào thứ hai ngày 13 tháng 09 năm 2021. Chương trình bắt đầu bằng bài kinh Bát Nhã do tăng đoàn Suối Từ và Phổ Môn tụng. Chùa Hương Sen tụng bài Kinh Tám Điều Giác Ngộ của Bậc Đại Nhân và Lục Hòa. Sau đó, Thiền sư Thích Thông Hội ban bài pháp thoại nói về tên của Chùa Hương Sen với ý nghĩa giác ngộ như sau:
16/09/202120:53(Xem: 380)
Qua Covid-19, đến biến thể Delta, hoành hành khốc liệt, đã “minh bạch” nhiều vấn đề, khiến cho toàn thế giới suốt hai năm (2020-2021) phải chịu nhiều khủng hoảng về nhiều mặt và đầy hoang mang lo sợ. Các nhà khoa học cũng phải cuốn cuồng nghiên cứu, thử nghiệm, các nhà lảnh đạo hàng đầu thế giới với binh hùng tướng mạnh, tiện nghi vật chất hiện đại, thực hiện nhiều biện pháp, nhưng cũng chưa có gì khả quan, hữu hiệu, để ngăn ngừa dịch bệnh, mà phải thực hiện với một “thông điệp” được lặp đi lặp lại: “Bịt miệng, thường rửa tay và ở yên một chỗ” thì mới mong được an ổn. Cách đây hơn 26 thế kỷ, sau khi chứng ngộ dưới gốc cây Bồ Đề tại Bodh Gaya, Đức Phật đã biết, nhìn thấy và hiểu tận tường sự vận hành của vũ trụ, nên bài Pháp đầu tiên tại Vườn Lộc Uyển là Tứ Diệu Đế (TDĐ) (Khổ - Tập - Diệt – Đạo) đã nói rõ lên được thực tế của “trần gian” chúng ta. TDĐ chỉ rõ sự thật về cuộc sống khổ đau của con người, về nguồn gốc nguyên nhân dẫn đến đau khổ, về sự chấm dứt đau khổ và phương pháp t
12/09/202109:02(Xem: 402)
LUẬN ĐIỂN CỦA ATISHA súc tích nhưng bao hàm rộng rãi đem những vấn đề cốt yếu đến với nhau của những giáo huấn của ba lần Chuyển Pháp Luân, như đưa ra một cách tóm tắt trong chương hai. Nó được sáng tác ở Tây Tạng bởi một đạo sư Ấn Độ là Atisha Dipamkara theo lời thỉnh cầu của Jhangchup Wö, sau đó là người cai trị miền tây Tây Tạng. Jhangchup Wö đặc biệt thỉnh cầu một giáo huấn thật sự nổi tiếng vì sự thậm thâm của nó cũng như trong sáng của nó, vì thế nó có thể làm lợi lạc cho dân tộc Tây Tạng nói chung. Atisha súc động sâu xa và hoan hỉ vì sự chân thành thỉnh cầu của Jhangchup Wö, và đáp ứng lời thỉnh cầu ấy ngài đã sáng tác ra luận điển súc tích này.
10/09/202112:29(Xem: 849)
Thưa quý vị, Con virus corona đang khiến cả thế giới hoảng loạn chao đảo. Nhưng Phật dạy: “Không có gì là ngẫu nhiên”. Dường như nó cũng là một sự sắp xếp tưởng như vô tình mà lại hữu ý để loài người nhận ra những điều quan trọng, điều gì đó lớn hơn con virus... Mỗi ngày, con virus lần lượt phơi bày tất cả sự thật mà chúng ta từ lâu đã không có khả năng nhìn thấy hoặc cố tình quên đi. Mỗi ngày, nếu để ý, ta sẽ thấy mỗi diễn biến của nó đều điểm vào những sai trái mà con người đã bày ra khi đến thế giới này. Nó bóc trần lần lượt những dối trá, vốn luôn được che đậy kỹ càng. Giờ đây con người nhận ra không có gì dấu giếm được dưới ánh mặt trời.
08/09/202121:42(Xem: 383)
Hành trình 10 năm ăn thuần chay của giáo viên trường tiểu học Luo Yuliang (小學羅裕良), nhằm mong muốn việc sinh nở của vợ được suôn sẻ. Thường nhật tại tư gia, đến bữa ăn vợ chồng thầy giáo luôn "Bên mâm cơm chay" (鍋邊素), cho đến khi cơ hội cho ba đứa trẻ cắp sách đến trường, chúng cũng được cung cấp các bữa ăn chay. Sau đó, đã mở ra một phong trào mới cho gia đình 5 nhân khẩu đều ăn hoàn toàn thuần chay.
06/09/202110:28(Xem: 374)
Nữ cư sĩ Mazie Keiko Hirono Thượng nghị sĩ Phật tử đầu tiên của quốc gia Hoa Kỳ Nữ cư sĩ Mazie Keiko Hirono Thượng nghị sĩ Phật tử đầu tiên của quốc gia Hoa Kỳ 1Hình 1: Cư sĩ Phật tử Mazie Keiko Hirono thời còn là cô bé với mẹ, tỉnh Fukushima, Nhật Bản, vào khoảng năm 1949. Ảnh: Mazie Hirono Đây là tự truyện do Nữ cư sĩ Mazie Keiko Hirono Thượng nghị sĩ Phật tử đầu tiên của quốc gia Hoa Kỳ kể rằng: "Được đặc ân và trách nhiệm khi tôi phục vụ người dân Hawaii tại Thượng viện Hoa Kỳ. Là một người nhập cư và trưởng thành trong hoàn cảnh khó khăn, tôi chưa từng bao giờ cảm nghĩ, đối với con đường quan lộ đến Thượng viện Hoa Kỳ. Đồng thời, những kinh nghiệm của tôi cho thấy những cơ hội có sẵn đáng kinh ngạc ở Mỹ, và thúc đẩy tôi mong muốn được đền đáp.