Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Thiền sư Mel Weitsman, Người Sáng lập Trung tâm Thiền Berkeley Viên tịch Hưởng thọ 91 tuổi

13/01/202121:44(Xem: 359)
Thiền sư Mel Weitsman, Người Sáng lập Trung tâm Thiền Berkeley Viên tịch Hưởng thọ 91 tuổi

Thiền sư Mel Weitsman, Người Sáng lập Trung tâm Thiền Berkeley
Viên tịch Hưởng thọ 91 tuổi

(Remembering Sojun Mel Weitsman The founder of the Berkeley Zen Center has died. He was 91 years old)

 Thiền sư Mel Weitsman 1

Tăng đoàn của Trung tâm Thiền Phật giáo Berkeley đã thông báo rằng, Trưởng lão Thiền sư Mel Weitsman (Tông Thuần, Sōjun, 宗純), vị Trưởng lão Thiền sư đáng kính của Thiền phái Tào Động (Sōtō Zen, 曹洞宗), Phật giáo Nhật Bản, vị Giáo thọ sư nổi tiếng đã viên tịch vào hôm thứ Năm, ngày 7 tháng 1 năm 2021. Hưởng thượng thọ 91 tuổi.

 

Trưởng lão Thiền sư Mel Weitsman, người cùng với Trưởng lão Thiền sư Shunryu Suzuki Roshi (pháp danh Shōgaku Shunryū,  祥 岳俊隆, 1901-1971), đồng sáng lập Trung tâm Thiền Phật giáo Berkeley, một trung tâm thực hành Thiền phái Tào Động, Phật giáo Nhật Bản tại Berkeley, California, Hoa Kỳ vào năm 1967.

 

Hozan Alan Senauke, Quyền Tông trưởng Trung tâm Thiền Phật giáo Berkeley  (BZC), đã chia sẻ một Cáo phó và Tưởng niệm Trưởng lão Thiền sư Mel Weitsman với nội dung:

 

“Với nỗi buồn to lớn, Tăng đoàn của Trung tâm Thiền Phật giáo Berkeley đã thông báo rằng, Trưởng lão Thiền sư Mel Weitsman đã an nhiên trút hơi thở, xả báo thân, giác linh nhập thể tính Chân thường vào hôm thứ Năm, ngày 7 tháng 1 năm 2021. Hưởng Thượng thọ 91 tuổi.

 

Sự lãnh đạo uy nghiêm và ôn định của Trưởng lão Thiền sư Mel Weitsman đã khiến Trung tâm Thiền Phật giáo Berkeley  (BZC) trở thành ngọn Hải đăng cho các học viên Phật giáo, và những người tìm kiếm trở về chân tâm khác ở Vịnh phía Đông và rộng rãi hơn tại Hoa Kỳ, đã tạo ra một nơi mà việc thực hành thiền định nghiêm chỉnh hàng ngày không thể thiếu trong cuộc sống gia đình, công việc và dịch vụ của mọi người.

 

Ngài thường nói về Trung tâm Thiền Phật giáo Berkeley  như một kiểu “một phòng trường học”, nơi mỗi người có thể tìm thấy những lời dạy cần thiết cho kim chỉ nam của họ trong cuộc sống. Bất cứ ai cũng có thể gõ cửa văn phòng của Trưởng lão Thiền sư Mel Weitsman, và Ngài sẽ sẵn sàng đón tiếp một cách chân tình”.

 

Tiểu sử Trưởng lão Thiền sư Mel Weitsman

(1929-2021)

 

Trưởng lão Thiền sư Mel Weitsman (Hakuryu Sojun Mel Weitsman), tên khai sinh là Mel Weitsman, pháp danh (Tông Thuần, Sōjun, 宗純), một vị Tăng sĩ Phật giáo người Mỹ, là người sáng lập, Phương trượng Trụ trì, hướng dẫn tu tập Thiền tại Trung tâm Thiền Phật giáo Berkeley, California, Hoa Kỳ. vị Trưởng lão Thiền sư đáng kính của Thiền phái Tào Động (Sōtō Zen, 曹洞宗), Phật giáo Nhật Bản, vị Giáo thọ sư nổi tiếng và được thụ pháp mạch Thiền phái Tào Động vào năm 1984 từ đệ tử của Trưởng lão Thiền sư Suzuka là Hoitsu. Ngài cũng đồng Trụ trì Trung tâm Thiền Phật giáo San Francisco, nơi Ngài phục vụ từ những thập niên 1988-2997. Ngài cũng là biên tập viên của tác phẩm “Branching Streams Flow in the Darkness: Zen Talks on the Sandokai”, dựa vào các buổi chia sẻ Pháp thoại do Thiền sư Suzuki đã đăng trong Bài tụng “Tham Đồng Khế” (Sandōkai, 參同契).

 

Trưởng lão Thiền sư Mel Weitsman sinh năm 1929 tại Long Beach, Nam California, Hoa Kỳ. Thuở ấu thơ, Ngài đã bén duyên với Phật pháp, thấm nhuần giáo lý Phật đà.

 

Kinh nghiệm sống dày dặn của Ngài trải qua nhiều năm, bao gồm nghiên cứu nghệ thuật với vị thầy họa sĩ người Mỹ, một trong những nhân vật hàng đầu về trong thế hệ đầu tiên của các trường phái Biểu hiện Trừu tượng, Clifford Still (1904-1980) tại học việc Nghệ thuật San Francisco, vẽ tranh trừu tượng theo trường phái biểu hiện trừu tượng, và sau đó làm họa sĩ, giảng viên nghệ thuật âm nhạc.

 

Năm 1964, được sự hướng dẫn của Trưởng lão Thiền sư Shunryu Suzuki (1904-1971), tu học tại Trung tâm Thiền San Francisco.

 

Năm 1967, Ngài  cùng với Sư phụ Trưởng lão Thiền sư Shunryu Suzuki đồng sáng lập Trung tâm Thiền Phật giáo Berkeley, tọa lạc tại Berkeley, California, Hoa Kỳ.

 

Năm 1969, được Sư phụ Trưởng lão Thiền sư Shunryu Suzuki truyền pháp mạch dòng Thiền Tào Động, Phật giáo Nhật Bản và năm 1970, Ngài được Sư phụ trao quyền Tông trưởng Trung tâm Thiền trên núi Tassajara - một trong ba trung tâm thực hành thiền lớn nằm trong hệ thống Trung tâm Thiền San Francisco.

 

Ngài thụ học với các vị Trưởng lão Dainin Katagiri Roshi, Kobun Chino Roshi, Ryogen Yoshimura và Kazuaki Tanahashi, những vị Giáo thọ sư mà Ngài thường làm việc với bản dịch các tác phẩm thiền Phật giáo.

 

Năm 1984, được bổ nhiệm Trụ trì ngôi già lam cổ tự Rinso-In ở Yaizu, Nhật Bản.

 

Năm 1985, Ngài được bổ nhiệm Trụ trì Trung tâm Thiền Phật giáo Berkeley, Hoa Kỳ, sau đó Ngài được cung thỉnh vào ngôi vị lãnh đạo Trung tâm Thiền Phật giáo San Francisco, với tư cách đồng Trụ trì với Hòa thượng Tenshin Reb Anderson từ những thập niên 1988-1997.

 

Năm 1995, Ngài cùng với các vị Trưởng lão Hòa thượng Tetsugen Bernard Glassman, Dennis Genpo Merzel và Keido Les Kaye, đồng sáng lập Hiệp hội  Giáo thọ Thiền Phật giáo Hoa Kỳ (the American Zen Teachers Association, AZTA).

 

Năm 1988, Ngài đã Phú pháp Truyền đăng pháp mạch dòng Thiền Tào Động, Phật giáo Nhật Bản cho hơn ba mươi đệ tử, trong đó có Zenkei Blanche Hartman (1988) và Zoketsu Norman Fischer (1988).

 

Trong nhiều thập kỷ, Trưởng lão Thiền sư Mel Weitsman là Thạch trụ Tòng lâm của cộng đồng Phật giáo Vùng Vịnh San Francisco, Hoa Kỳ và hơn thế nữa. Đệ tử xuất gia của Ngài có khoảng hơn 200 vị.

 

Trưởng lão Thiền sư Mel Weitsman được sự tôn kính sâu sắc trong cộng đồng Thiền Phật giáo tại Mỹ và Nhật Bản. Hiện thân ấm áp, đượm thấm tình đời ý đạo của Ngài là một con đường thực hành kiên định, phẩm chất của vị cao tăng rạng ngời tỏa sáng. Ngài đã truyền đăng phú pháp cho hơn 30 người kế thừa mạng mạch Thiền phái Tào Động, đứng đầu các trung tâm Thiền Phật giáo khắp nước Mỹ, nhưng hầu hết Ngài thường trụ trong cộng đồng Trung tâm Thiền Phật giáo Berkeley, nơi vẫn tiếp tục phát triển mạnh.

 

Phần lớn các buổi chia sẻ Pháp thoại của Ngài được ghi âm và đều có sẵn trên mạng Internet. Hồi ký và tuyển tập các bài giảng của Ngài sẽ được Counterpoint Press xuất  bản vào năm 2021, cũng như tuyển tập các bài giảng mới của Trưởng lão Thiền sư Shunryu Suzuki, do Sojun và Jiryu Rutschman-Byler biên tập. Thư viện Châu Á tại Đại học Stanford đang trong quá trình mua lại các tài liệu lưu trữ của Trung tâm Thiền Phật giáo Berkeley, nơi sẽ có các bài Pháp thoại của Ngài.

 

Thích Vân Phong biên dịch

(Nguồn: Berkeley Zen Center)

 

 




***
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/02/202120:57(Xem: 234)
Sau khi đạt được Giác ngộ, Đức Phật nêu lên Bốn Sự Thật và sự thật thứ nhất là "Khổ đau". Khổ đau ẩn chứa trong thân xác, bàng bạc trong tâm thức của mỗi cá thể con người và bùng ra cùng khắp trong thế giới: bịnh tật, hận thù, ích kỷ, lường gạt, đại dịch, bom đạn, chiến tranh... Sự thật đó, khổ đau mang tính cách hiện sinh đó, thuộc bản chất của sự sống, gắn liền với sự vận hành của thế giới. Sự thật về khổ đau không phải là một "phán lệnh" hay một cái "đế", cũng không mang tính cách "kỳ diệu" gì cả, mà chỉ là một sự thật trần trụi, phản ảnh một khía cạnh vận hành của hiện thực.
07/02/202119:20(Xem: 240)
Nhà thiền có danh từ Tọa Xuân Phong để diễn tả hạnh phúc khi thầy trò, đồng môn, được ngồi yên với nhau, không cần làm gì, nói gì mà như đang cho nhau rất đầy, rất đẹp. Danh từ đó, tạm dịch là “Ngồi Giữa Gió Xuân” Mùa Xuân chẳng phải là mùa tiêu biểu cho những gì hạnh phúc nhất trong bốn mùa ư? Hạ vàng nắng cháy, vui chơi hối hả như đàn ve sầu ca hát suốt mùa để cuối mùa kiệt lực! Thu êm ả hơn, nhưng nhìn mây xám giăng ngang, lá vàng lả tả, tâm- động nào mà không bùi ngùi tưởng tới kiếp nhân sinh?
07/02/202119:15(Xem: 255)
Chú mục đồng chậm rãi bước xuống sông. Bên cạnh chú, con trâu lớn nhất đàn ngoan ngoãn xuống theo. Đôi mắt hiền lành của nó nhìn chú như mỉm cười, tin tưởng và thuần phục. Những con trâu bé hơn lại nhìn bước đi vững chãi, an lạc của con trâu đầu đàn mà nối nhau, cùng thong thả qua sông. Đây là khúc sông cạn mà chú đã dọ dẫm kỹ lắm. Đáy sông lại không có những đá nhọn lởm chởm có thể làm chân trâu bị thương. Bên kia sông, qua khu rừng có những cội bồ đề râm mát là tới đồng cỏ rộng. Mùa này, sau những cơn mưa, cỏ non vươn lên xanh mướt, đàn trâu gồm bẩy con mà chú có bổn phận chăm sóc tha hồ ăn uống no nê sau những giờ cực nhọc cầy bừa ngoài đồng lúa.
07/02/202119:08(Xem: 215)
Khi những cơn bảo và áp thấp nhiệt đới hung hãn nhất vừa tạm qua đi, khí trời phương Nam cũng trở buồn se lạnh. Nhiều người cho đó là hoàn lưu của những cơn bão miền Trung mà tất cả con dân “bầu bí chung dàn” vẫn còn đang hướng về chia sẻ, nhưng ít người nhận ra rằng đó chính là cái se lạnh của mùa đông phương Nam, báo hiệu mùa xuân sắp đến nơi ngưỡng cửa của bộn bề lo toan hằng năm.
06/02/202111:01(Xem: 332)
Mười bức “Tranh Chăn Trâu” trong phần này là của họa sư Nhật Bản Gyokusei Jikihara Sensei, vẽ vào năm 1982 nhân một cuộc thăm viếng thiền viện Zen Mountain Monastery ở Mount Tremper, New York, (Hoa Kỳ). Họa sư vẽ để tặng thiền viện. Các bài thơ tụng thời nguyên gốc của thiền sư Quách Am viết vào thế kỷ thứ 12. Thơ tụng được chuyển dịch ở đây bởi Kazuaki Tanahashi và John Daido Loori, sau đó được nhuận sắc bởi Daido Loori để mong tạo lập ra những hình ảnh và ẩn dụ cho thêm giống với phong cảnh núi sông ở quanh thiền viện Zen Mountain Monastery. Thiền sư Daido Loori là người lãnh đạo tinh thần và là tu viện trưởng của thiền viện này.
04/02/202119:26(Xem: 336)
Hôm qua mình có giới thiệu cuốn sách Buddhism in America (Phật Giáo Mỹ) của Richard Hughes Seager. Có bạn hỏi thêm muốn tìm hiểu Phật Giáo Mỹ nên nhờ mình giới thiệu vài cuốn. Nghĩ rằng đây là câu hỏi hay nên mình xin viết giới thiệu 7 cuốn sách để nhiều người lợi lạc. 1. Cuốn The Faces of Buddhism in America (Diện Mạo của Phật Giáo ở Mỹ) do Charles Prebish 2. Buddhist Faith in America (Đức Tin Phật Giáo ở Mỹ) tác giả Michael Burgan 3. Buddhism in America của Richard Huges Seager (1999, tái bản 2012) 4. Buddhism in America của Scott Mitchell 5. Altered Traits: Science Reveals How Meditation Changes Your Mind, Brain, and Body, 2017 6. A Mindful Nation: How a Simple Practice Can Help Us Reduce Stress, Improve Performance, and Recapture the American Spirit, 2012, 7: American Dharma: Buddhism Beyond Modernity
01/02/202121:01(Xem: 318)
Tại các nước nông nghiệp hình ảnh con trâu với đứa trẻ chăn trâu ngồi trên lưng trâu thổi sáo là một hình ảnh quen thuộc thường gắn liền với đời sống của người dân. Tại Việt Nam, từ lâu hình ảnh này đã đi vào tâm thức mọi người và không chỉ có giá trị trong đời sống lao động thực tiễn mà còn nghiễm nhiên đi vào lãnh vực văn học nghệ thuật nữa. Trong văn học Phật giáo nói chung và văn học Thiền tông nói riêng thời hình ảnh con trâu với trẻ mục đồng đã trở thành thi liệu, biểu tượng, thủ pháp nghệ thuật. Những hình ảnh này hiển hiện trong truyền thống kinh điển cũng như được đề cập đến nhiều lần trong những thời pháp của đức Phật khi Ngài còn tại thế.
01/02/202109:52(Xem: 292)
Vào thời thái cổ, theo truyền thuyết Đế Minh là cháu bốn đời của vua Thần Nông đi tuần thú phương Nam đến núi Ngủ Lĩnh ( nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung quốc ). Vua Đế Minh đã dừng chân tại nơi nầy, ngài cưới Vu Tiên nữ con vua Động Đình Hồ làm vợ. Đế Minh sinh được một trai tư chất thông minh ngài đặt tên Lộc Tục. Vào năm 2879 trước tây lịch ( khoảng thế kỷ thứ 7 TCN ) Đế Minh phong cho con làm vua ở phương Nam. Lộc Tục lên ngôi xưng đế hiệu Kinh Dương Vương đặt tên nước là Xích Quỷ ngài đóng đô tại Phong châu.
01/02/202109:39(Xem: 325)
Kinh Phật đầu tiên là kinh Hoa Nghiêm, kinh Phật cuối cùng là kinh Đại Bát Niết Bàn. Chúng ta học hai kinh nầy để nắm trọn lịch trình của đạo Phật. Kinh Đại Bát Niết Bàn thường gọi là Niết Bàn là kinh vừa kể lại lịch sử đức Phật trước khi nhập diệt vừa là kinh nói về lời giáo huấn cuối cùng của ngài. Vừa tâm lý tình cảm vừa là lời nhắn nhủ sau cùng của Phật cho đạo tràng như người cha trăn trối cho con tiếp tục theo đường đi của ngài. Đời thế gian của Đức Phật khi sinh ra vì bào thai to lớn quá phải giải phẩu bụng của mẹ ngài nên mất máu mà mất sớm, ngài sống qua sự nuôi dưỡng của người dì em của mẹ.
01/02/202109:27(Xem: 307)
Phần này bàn về các danh từ gọi dụng cụ gắp cơm và đưa vào miệng (ăn cơm) như đũa hay trợ, khoái, giáp cùng các dạng âm cổ của chúng. Các chữ viết tắt khác là Nguyễn Cung Thông (NCT), Hán Việt (HV), Việt Nam (VN), TQ (Trung Quốc), ĐNA (Đông Nam Á), HT (hài thanh), TVGT (Thuyết Văn Giải Tự/khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập Vận/1037/1067), TNAV (Trung Nguyên Âm Vận/1324), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), TViB (Tự Vị Bổ/1666), TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), KH (Khang Hi/1716), VBL (tự điển Việt Bồ La/1651) ĐNQATV (Đại Nam Quấc Âm Tự Vị/1895).