Học Lời Thầy Trao.

19/12/202007:36(Xem: 8574)
Học Lời Thầy Trao.
Học Lời Thầy Trao.
Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-15
Lối xưa người đến dạo chơi,
Hoá thành chú Tiểu, học lời Thầy Trao.
Thênh thang mây trắng hôm nào,
Ra vào chốn tịnh, trăng sao gối tình.

Lặng nghe Thầy Tụng âm kinh,
Uy hùng Đức hạnh, dáng hình thong dong.
Bái song thân vào cửa không,
Phật Học Quảng Trị, ngỏ lòng tự do.

Thiền môn nhịp mỏ tròn vo,
Chuông ngân vang khắp, chuyến đò qua sông.
Dòng Thạch Hãn, nước xanh trong,
Chú Tiểu thửa ấy, thuộc lòng Công phu.

Chấp trì nguyện chí chân tu,
Bái Ngài Chánh Trực, giả từ song thân.
Chấp lao phục dịch đền ơn,
Ươm mầm hạnh tuệ, hương thơm vang ngần.

Giới kinh, luật Mật muôn phần,
Pháp hoa, kinh tạng, soi tầm chiêm sâu.
Thầy dung dị nói từng câu,
Khiêm cung lấy hạnh, bấy lâu nay rồi.

Thân mang bệnh trả cho đời,
Nuôi tâm xuất chí, từng lời Di ngôn.
Đi về tâm Phật thổi hồn,
Nuôi từng ý nguyện, Giác Chơn Tên Thầy.

Từ nhiếp độ hạnh dung đầy,
Dạy trao đồ chúng, chữ Này giản đơn.
Sáu bảy năm sống biết ơn,
Trải phần hoá độ, chẳng hờn chi ai.

Truyền trao Chánh pháp Như Lai,
Ngộ từng con chữ, chẳng phai bao giờ.
Liễu nhiên an trú vầng thơ,
Nhất thành hơi thở, ra vô kiếp người.

Nhẹ nhàng tâm hạnh sáng ngời,
Dạo quanh chùa Củ, nhặt lời Huân nhiên.
Thả thân tịnh cảnh nhiếp thiền,
An vui tự chủ, giữa niềm Trời Tây.

Chấp trì niệm Phật hương bay,
Đến như giấc mộng, thân này trả xong.
Chốn cảnh tịnh giữa Huyền không,
Thu thần Tịch diệt, một lòng Tây phương.

Thất chúng đệ tử tâm hương,
Kim Tiên chốn Tổ, chơn thường ghi ơn.
Thành tâm bái vọng tri âm,
Mong Thầy Tái hiện, muôn phần Đời Con.


       Kính bạch giác linh Ôn, hơn 67 năm Ôn thác tích giữa chốn Hồng Trần, hơn 27 năm mùa hạ An cư, Ôn là vị Danh Tăng mô phạm cho tất cả thất chúng đệ tử noi gương.
        Một đời tu sĩ không thị phi hơn thua, không tranh ghế quyền uy, không so đo tính kế, không vọng ngôn hai lời, mà chính Ôn luôn học theo lời Thầy thế độ, Ngài thượng Chánh hạ Trực, bậc mô phạm Tùng lâm uy Đức, cho Tăng tín đồ Phật giáo Quảng Trị.
         Một đời khiêm cung, luôn dành phần hơn cho người khác, giản dị vô cùng như chiếc áo nâu sờn bạc phai màu, chiếc xe Honda Cúp 86 ngày trước Ôn vẫn dùng trong suốt thời gian hành hoá, hay giữ gìn oai nghi luật hạnh mà Ôn đã hành trì.
         Kính bạch Ôn, chúng con Tỳ kheo Minh Thế, có nhân duyên diện kiến Ôn nhiều lần Tại Quảng Trị, vào những năm lưu dấu tu học dưới mái chùa An Dạ, chùa Hà Mỹ, hay thính giới Bồ tát, hay các Phật sự sau này ở quê hương Quảng trị mỗi khi con có dịp về trong những năm 2007-2008-2009-2015-2017-2018, cứ một lần vậy là chúng con học nhiều đều hay.
         Khi gặp Ôn ở tại chùa Hà My, Chùa An Đôn, chùa Phật Học Quảng Trị, Chùa Sắc Tứ Tịnh Quang, Chùa Long An..., tất cả lưu dấu nhiều cho chúng con.
         Lời Ôn dạy tuy mộc mạc chất phát, nhưng thấm từng con chữ tu hành cho ai đó khi phát tâm xuất gia.
        Ôn dạy rằng:
“ Người tu sĩ, càng khiêm cung bao nhiêu thì sanh tử nhẹ bấy nhiêu.
Người tu sĩ càng tham bao nhiêu, thì ái nghiệp nặng bấy nhiêu...”
        Ôn dạy tiếp, trong lần khác, chúng con ghi nhớ:
“ Người Tu nhớ về giới học chạm đến tâm an tịnh, nhờ vào thiền tập, làm những gì giản đơn, thì người tu sĩ ấy có lối về chạm đến cảnh tịnh mà chư Phật trao cho chúng ta.
Người tu sĩ, giới hạnh khiêm cung, thì vị ấy có được tâm an trú Chánh niệm, thực hành kinh Tứ Niệm Xứ, thì chính ta chạm phải vào lối tự do An lạc...”
         Một lần như vậy con học được, và vui khi chúng con gặp Ôn.
         Kính bạch Ôn, việc Giáo hội Ôn tận tụy trong cương vị cho phép, việc tu học Ôn luôn trì Pháp Hoa, Đại Bi, Kinh Niết Bàn.., Ôn dung dị hết mức không phân biệt giàu nghèo, Ôn không tham về vật chật tiền tài, mà Ôn chỉ lo tu và học những gì Sư phụ Ôn trao cho Ôn, bằng tâm ứng nhiếp hoá, đơn sơ mà tự tại.
          Bạch Ôn, chúng con được nghe Quý anh em huynh đệ kể lại:
      “Sáng Ngày, 29-10-Canh Tý, Ôn đi vòng quanh sân chùa, chạm tay vào những đau ấn năm xưa nơi Ôn một đời tu học, hầu Ngài Bổn sư thế độ, những ấn tâm mà bảo tháp hiện chùa, Tam bảo, cổng tam quan, Ôn đều đi qua, tăng xá, nhà Trù, thiền phòng đông Tây, Ôn từng đi qua nhìn chúng lần cuối, như bài pháp Vô Ngôn...
       Thế đến, Ôn xuống nhà Trù gặp O Huê, rồi bảo rằng: O Huê ơi..! Nấu cơm cúng Phật, cúng Tổ, rồi nấu cơm cho chúng chưa..?
        O Huê đáp: Bạch Ôn, chúng con đang làm việc bếp, và chúng con sắp nấu.
         Ôn dạy: Được rồi, nhớ nấu nhé, mười lăm phút nữa, gọi Ôn dạy để đi cúng ngọ và dùng cơm.
          Lúc bấy giờ, Ôn không thị tướng thân bệnh gì, thân thể sắc Hồng, dung nghi đẹp. Với lại Ôn bảo: Thầy lên đây...!
        Thế rồi, thời khắc cũng xong cho cơm vừa chín, Ôn đã an nhiên thâu thần thị tịch trên chiếc giường mà hằng ngày Ôn ngự tọa.
        Sau khi in cơm cúng Ngọ xong, thì O Huê bảo các chú tiểu lên mời Ôn dạy để đi cúng Ngọ.
       Các chú tiểu vào Liêu phòng phương trượng, chấp tay bạch: Bạch Ôn chúng con thỉnh Ôn đi cúng ngọ, thế là Âm ba ấy đã lặng thinh như tờ in dấu Hồng hạc, nhạn  trắng Trắng trời trong.
        Các chú tiểu lay Ôn thì không thấy trả lời, vội vàng chạy xuống nói, O Huê Ơi, con lay Ôn mà Ôn không trả lời.
        Thế là vội chạy lên Liêu phòng, thì Ôn đã quy Tây, an nhiên như giấc ngủ, đi vào Niết bàn, nhẹ như hạc nắng Trời Tây cởi áo rủ bụi Hồng về cảnh Di Đà Tây Phương...”
        Cứ thế mà danh hiệu niệm Phật A Di Đà Âm vang lên mãi, thỉnh trống hùng thanh, Bát nhã cung rước, Ôn đi nhẹ quá để lại vô giá bài học Tử sinh mà Thế Tôn chỉ dạy trong hn thở.
Hay vận hành kinh quán niệm hơi thở vào ra.
Chúng con giờ này cung kính vọng bái từ xa, bên hiện chùa Phước Thăng- Thị Trấn Phước An- Đaklak.
        Để ghi lại bài thơ, bài ai điếu hài niệm lời Ôn cho chúng con lúc sinh tiền trong hạnh nguyện khiêm cung.
Cung kính cuối đầu khể thủ lễ, hướng về Quảng Trị Nơi lưu dấu nhục Thân Ôn.
                 Tk: Thích Minh Thế
                 Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
                 Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang
                 Ngày 16-12-2020.
                 Ngày Âm Lịch: 03-11-Canh Tý.

Dưới đây là một số hình ảnh Tang lễ Cố Thượng Tọa thượng Giác hạ Chơn.
Viện chủ Trú Trì Phật Học Quảng Trị.


Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-1Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-2Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-3Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-4Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-5Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-6Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-7Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-8Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-9
Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-10Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-11Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-12Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-13Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-14

***
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/05/2011(Xem: 11342)
Không biết trong đầu óc chúng ta có một trung tâm thần kinh của sự công bằng hay không, nhưng mọi người bình thường đều yêu thích, đam mê sự công bằng. Ai trong chúng ta cũng thấy lịch sử nhân loại là một vận động đi tìm và tiến đến sự công bằng. Những cuộc cải cách, những cuộc cách mạng, thậm chí những cuộc chiến tranh cho đến những thiết chế chính trị, kinh tế, xã hội đều để tiến bộ về phía công bằng. Pháp luật, kinh tế, xã hội, chính trị được xem là tiến bộ hơn khi chúng tạo được nhiều công bằng hơn.
29/05/2011(Xem: 14598)
Bất cứ trong một đoàn thể nào cũng không tránh khỏi chuyện thị phi; nếu trong môi trường thị phi mà vẫn giữ được bình tĩnh, hài hòa, đây mới thật sự là người trưởng thành.
28/05/2011(Xem: 13713)
Từ khi ra thăm bốn cửa thành, Thái tử Tất Đạt Đa đã cảm nhận những nỗi thiết tha thống khổ của nhân loại khiến Ngài quyết tâm đi tìm một chân lý để cứu giúp chúng sinh còn đang lặng hụp trong biển đời sinh tử trầm luân.
28/05/2011(Xem: 14863)
Chữ niệm nghĩa là nhớ. Chữ Hán viết phần trên là chữ kim, nghĩa là nay, phần dưới chữ tâm, nghĩa là lòng mình. Niệm là điều ta đang nhớ tới, đang nghĩ tới. Mà điều ta nhớ và nghĩ có thể là tà, có thể là chính, vì vậy nên có tà niệm và chánh niệm.
26/05/2011(Xem: 20807)
Nhận lời mời của quý vị, hôm nay có duyên cùng quý vị bàn về tam quy y trong Phật pháp tại Bờ biển Vàng (Golden coast) Queensland- Australia. Ðối với Phật pháp đây là đề tài rất quan trọng, là chỗ nhập môn tu học của chúng ta. Trước khi nói đến tam quy, đầu tiên phải có nhận thức chính xác về Phật pháp.
21/05/2011(Xem: 13475)
Ý tưởng về bồ đề tâm thật không thể nghĩ bàn! Nó khiến cho tất cả những công việc nào không liên quan đến việc làm lợi lạc cho chúng sanh trở nên buồn chán và bất toại nguyện. Ta thật sự sẽ không còn hứng thú hay thưởng thức được đời sống của mình, ngoại trừ công việc đầy ý nghĩa này. Tất cả mọi thứ khác sẽ trở nên vô nghĩa, trống rỗng và không có thực chất.
20/05/2011(Xem: 12713)
Ta cần có những thiện hạnh để chấm dứt những dục vọng vô độ và việc coi mình là quan trọng; cách hành xử tránh điều độc hại như thuốc độc...
19/05/2011(Xem: 24967)
Hầu như ai đến phố Bolsa cũng từng thấy một khất sĩ mà nhiều người gọi là “ông sư ở Phước Lộc Thọ.” Ông mặc bộ áo cà sa vàng, khoảng 40 tuổi, tay ôm bình bát, mắt nhắm nghiền như đang thiền định. Ông đứng từ sáng đến chiều, ngày này qua ngày nọ bất kể thời tiết nóng hay lạnh. Phố Bolsa sáng sáng thường có các nhà sư đi khất thực bên ngoài những cửa tiệm, đặc biệt trong khu chợ ABC ở góc Bolsa và Magnolia. Họ xuất hiện trong vài ngày hoặc vài tuần, xong biến mất như đã hoàn tất một giai đoạn trên con đường tu tập.
18/05/2011(Xem: 26779)
Con được biết - không chắc đúng không - hôm nay 28-4, là ngày Sinh Nhật Sư Phụ tròn 88 tuổi nên con viết vội đôi dòng kính chúc Sư Phụ luôn Phước Thọ tăng long, bách niên thọ thế để hàng đại chúng Bảo Vương của chúng con nói riêng và Giáo hội nói chung luôn có được bóng mát chỡ che tinh thần và trí tuệ của một trong số rất ít còn lại hàng đại lão hòa thượng của PGVN. Riêng con vẫn còn đó một đại tự điển sống về Phật học tinh hoa cũng như về lịch sữ Việt Nam thời cận đại.
15/05/2011(Xem: 12900)
Nhân quả đồng thời được nói một cách cô đọng trong kinh Pháp Hoa, kinh Hoa Nghiêm… và rải rác trong các kinh điển Đại thừa. Có lẽ người đầu tiên dùng thành ngữ “nhân quả đồng thời” là Đại sư Trí Khải (thế kỷ thứ 6) trong Pháp Hoa Huyền Nghĩavà trong các tác phẩm Thiên Thai tông của ngài, y cứ trên kinh Pháp Hoa. Thành ngữ này cũng là một giáo lý chính yếu của Hoa Nghiêm tông vào thế kỷ thứ 7. Nói một cách vắn tắt và đơn giản, nhân quả đồng thời là quả giác ngộ, quả Phật vốn đã nằm nơi nhân tu hành để đạt đến giác ngộ, để thành Phật. Nhân của thành Phật là “nhân địa pháp hạnh của Như Lai” được nói trong kinhViên Giác: