Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Thiền giả Yuval Noah Harari: “Mỗi cuộc Khủng hoảng cũng là một Cơ hội”

16/10/202017:22(Xem: 498)
Thiền giả Yuval Noah Harari: “Mỗi cuộc Khủng hoảng cũng là một Cơ hội”

Thiền giả Yuval Noah Harari: “Mỗi cuộc Khủng hoảng cũng là một Cơ hội”

(Yuval Noah Harari: “Every crisis is also an opportunity”)

 Thiền giả Yuval Noah Harari

Trong cuộc phỏng vấn với UNESCO Courier, Thiền giả Yuval Noah Harari (liên kết bên ngoài), một nhà sử học người Israel và là giáo sư Khoa Lịch sử tại Đại học Hebrew Jerusalem. Ông là tác giả của các cuốn sách bán chạy thế giới Sapiens: Lược sử loài người (2014), Homo Deus: Lược sử tương lai (2016) và 21 bài học cho thế kỷ 21 (2018). Bài viết của ông xoay quanh ý chí tự do, ý thức và trí thông minh và hạnh phúc, ông đã phân tích những hậu quả của cuộc khủng hoảng y tế do đại dịch Virus corona gây ra hiện nay có thể là gì, và nhấn mạnh sự cần thiết của việc hợp tác khoa học quốc tế và chi sẻ thông tin giữa các quốc gia.

 

Đại dịch y tế toàn cầu này khác với các cuộc khủng hoảng y tế trong quá khứ như thế nào, và nó cho chúng ta biết điều gì?

 

Tôi không chắc đó là mối đe dọa y tế toàn cầu tồi tệ nhất mà chúng ta phải đối mặt. Đại dịch cúm năm 1918-1919 còn tồi tệ hơn, đại dịch AIDS có lẽ còn tồi tệ hơn, và các đại dịch ở các thời đại trước chắc chắn còn tồi tệ hơn nhiều. Khi đại dịch xảy ra, thực sự đây là một dịch nhẹ. Vào đầu những thập niên 1980, nếu các bạn bị AIDS – bạn sẽ tử vong. Cái Chết Đen là tên gọi của 1 đại dịch xảy ra ở châu Á và châu Âu trong thế kỷ XIV, mà đỉnh điểm là ở châu Âu trong 1346-1351, với số lượng người chết ở châu Âu và châu Á từ 75-200 triệu người.

 

Bệnh dịch Cái Chết Đen được coi là một trong những đại dịch chết chóc nhất trong lịch sử nhân loại, ước tính nạn dịch này đã giết chết 30% - 60% dân số của châu Âu (tương đương 25 - 50 triệu người) và giảm dân số toàn cầu từ khoảng 450 triệu người xuống còn 350 - 375 triệu người vào năm 1400.

 

Đại dịch cúm 1918 (tháng 1 năm 1918 - tháng 12 năm 1920) là một đại dịch cúm chết người một cách bất thường, vụ dịch cúm đầu tiên của hai đại dịch liên quan đến vi rút cúm A H1N1. Nó gây nhiễm 500 triệu người trên khắp thế giới, bao gồm các đảo xa xôi Thái Bình Dương và Bắc Cực, và giết chết khoảng 17 tới 100 triệu trong số những người bị nhiễm bệnh - từ 3 đến 5 phần trăm dân số thế giới và đã cướp đi sinh mạng của hơn 10% dân số ở một số quốc gia - khiến nó trở thành một trong những thảm họa thiên nhiên khủng khiếp nhất trong lịch sử nhân loại. Ngược lại, COVID-19 giết chết hơn 5% những người bị nhiễm bệnh, và trừ khi một số đột biến nguy hiểm xảy ra, nó không có khả năng giết hơn 1% dân số của bất kỳ quốc gia nào.

 

Hơn nữa, trái ngược với các thời đại trước, hiện nay chúng ta có tất cả các kiến thức khoa học và công cụ công nghệ cần thiết để vượt qua dịch bệnh này. Khi Cái Chết Đen ập đến, con người hoàn toàn bất lực. Họ không bao giờ phát hiện ra điều gì đang giết chết họ, và có thể làm gì với nó. Năm 1348, Khoa y của Đại học Pari tin rằng, dịch bệnh là do một điều không may trong chiêm tinh – cụ thể là “sự kết hợp chính của ba hành tinh trong Bảo Bình (đã gây ra) (cung chiêm tinh thứ mười một trong Hoàng Đạo, bắt nguồn từ chòm sao Bảo Bình) sự biến chất chế người của không khí” (trích trong Rosemary Horrox ed. Cái chết đen, Nhà xuất bản Đại học Manchester, 1994, trang 159).

 

Ngược lại, khi COVID19 bùng phát, các nhà khoa học chỉ mất hai tuần để xác định chính xác loại virus gây ra dịch bệnh, giả trình tự toàn bộ gen của nó và phát triển các xét nghiệm đáng tin cậy cho căn bệnh hiểm ác này. Chúng ta biết phải làm gì để ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh này. Có khả năng là trong vòng một hoặc hai năm, chúng ta sẽ có vắc-xin.

 

Tuy nhiên, COVID-19 không chỉ là một khủng hoảng y tế. Nó dẫn đến một cuộc khủng hoảng kinh tế và chính trị lớn. Tôi ít sợ Virus hơn là những con quỷ bên trong của loài người: tham lam, thù hận và si mê (tam độc). Nếu người ta đổ lỗi dịch bệnh cho người nước ngoài và người thiểu số; nếu các doanh nghiệp tham lam chỉ quan tâm đến lợi nhuận của họ; và nếu chúng ta tin vào tất cả các loại thuyết âm mưu – sẽ khó khăn hơn nhiều để vượt qua nạn dịch này, và sau này chúng ta sẽ sống trong một thế giới bị đầu độc bởi tham lam, giận dữ và si mê này. Ngược lại, nếu chúng ta phản ứng với dịch bệnh bằng sự đoàn kết và bao dung toàn cầu, và nếu chúng ta tin tưởng vào khoa học hơn là vào các thuyết âm mưu, tôi chắc chắn rằng chúng ta không chỉ có thể vượt qua cuộc khủng hoảng này, mà chúng ta thực sự mạnh mẽ hơn nhiều để thoát khỏi đại dịch hiểm ác này.

 

Sự giãn cách xã hội có thể trở thành chuẩn mực ở mức độ nào? Điều này sẽ có ảnh hưởng gì đến xã hội?

 

Trong suốt thời gian của cuộc khủng hoảng, việc giãn cách xã hội là không thể tránh khỏi. Virus corona lây lan bằng cách khai thác bản năng con người tốt nhất của chúng ta. Chúng ta là động vật xã hội. Chúng ta thích tiếp xúc, đặc biệt là trong thời gian khó khăn. Và khi người thân, bạn bè hay hàng xóm ốm đau, từ bi tâm của chúng ta nảy sinh và chúng ta muốn đến giúp họ. Virus corona đang sử dụng điều này để chống lại chúng ta. Đây là cách nó lây lan. Vì vậy, chúng ta cần hành động từ khối óc hơn là trái tim, và bất chấp khó khăn, hãy giảm mức độ tiếp xúc của chúng ta. Trong khi Virus corona là một phần thông tin di truyền vô tri, con người chúng ta có tâm thức, chúng ta có thể phân tích tình hình một cách hợp lý, và chúng ta có thể thay đổi cách chúng ta hành xử. Tôi tin rằng một khi cuộc khủng hoảng kết thúc, chúng ta sẽ không thấy bất kỳ ảnh hưởng lâu dài nào đến bản năng cơ bản của con người chúng ta. Chúng ta vẫn sẽ là động vật xã hội. Chúng ta sẽ vẫn thích liên lạc. Chúng ta vẫn sẽ đến để giúp đỡ bạn bè và người thân.

 

Ví dụ, hãy xem, những gì đã xảy ra với cộng đồng LGBT (đồng tính luyến ái nữ, đồng tính luyến ái nam, song tính luyến ái, chuyển giới và có xu hướng tính dục và bản dạng giới khác biệt, hoặc không nhận định mình theo bất kỳ nhãn nào),... sau sự bùng phát của bệnh AIDS. Đó là một trận dịch khủng khiếp, và những người đồng tính thường bị nhà nước bỏ rơi hoàn toàn, tuy nhiên dịch bệnh vẫn chưa gây ra sự tan rã của cộng đồng đó. Mà ngược lại, Ở đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng, các tình nguyện viên LGBT đã thành lập nhiều tổ chức mới dể giúp đỡ những người bệnh tật, truyền bá thông tin đáng tin cậy và đấu tranh cho các quyền chính trị. Vào những năm 1990, sau những năm tồi tệ nhất của đại dịch AIDS, cộng đồng LGBT ở nhiều quốc gia đã mạnh hơn trước rất nhiều.

 

Anh thấy thế nào về tình trạng hợp tác khoa học, và thông tin của nhà nước sau khủng hoảng? UNESCO được thành lập sau Đệ nhị Thế chiến, để thúc đẩy hợp tác khoa học và trí tuệ thông qua luồng tư tưởng tự do. Liệu “luồng tư tưởng tự do” và sự hợp tác giữa các quốc gia có thể được tăng cường do hậu quả của cuộc khủng hoảng?

 

Lợi thế lớn nhất của chúng ta so với Virus corona là khả năng hợp tác hiệu quả của chúng ta. Một loại Virus ở Trung Quốc và một loại Virus ở Hoa Kỳ không thể trao đổi cho nhau những cái mẹo về cách lây nhiễm sang người. Nhưng Trung Quốc có thể dạy cho Mỹ nhiều bài học quý giá về Virus corona và cách đối phó với nó. Hơn thế nữa, thực sự Trung Quốc có thể cử các chuyên gia và thiết bị đến trực tiếp giúp đỡ Mỹ, và Mỹ cũng có thể giúp các quốc gia khác. Virus corona không thể làm bất cứ điều gì như vậy.

 

Và trong tất cả các hình thức hợp tác, việc chia sẻ thông tin có lẽ là quan trọng nhất, bởi các bạn không thể làm gì nếu không có thông tin chính xác. Các bạn không thể phát triển thuốc và vắc xin nếu không có thông tin đáng tin cậy. Thật vậy, ngay cả việc cách ly cũng phụ thuộc vào thông tin. Nếu các bạn không hiểu cách thức lây lan của một căn bệnh, làm thế nào các bạn có thể cách ly con người để chống lại Virs corona?

 

Ví dụ, cách ly chống lại bệnh AIDS rất khác với cách ly chống lại COVID-19. Để cách ly bản thân với AIDS, các bạn cần sử dụng bao cao su trong khi quan hệ tình dục, nhưng không có vấn đề gì khi trực tiếp nói chuyện với người HIV dương tính - hoặc bắt tay họ và thậm chí ôm hôn họ. COVID-19 là một câu chuyện hoàn toàn khác. Để biết cách thức cách ly bản thân khỏi một bệnh dịch cụ thể, trước tiên các bạn cần có thông tin đáng tin cậy về nguyên nhân gây ra dịch bệnh này. Nó là virus hay vi khuẩn? Nó có lây qua đường máu hay hơi thở không? Nó có nguy hiểm cho trẻ em hoặc người già không? Chỉ có một chủng Virus, hay một số chủng đột biến?

 

Trong những năm gần đây, các chính trị gia độc tài và dân túy không chỉ tìm cách chặn sự lưu thông tự do của thông tin, thậm chí còn làm suy yếu lòng tin của công chúng đối với khoa học. Một số chính trị gia đã miêu tả các nhà khoa học như một tầng lớp tinh nhuệ nham hiểm, không kết nối với “người dân”. Những chính trị gia này đã nói với những người ủng hộ của họ rằng, đừng tin những gì các nhà khoa học đang nói về biến đổi khí hậu, thậm chí về tiêm chủng. Bây giờ mọi người đều thấy rõ những thông điệp dân túy như vậy nguy hiểm như thế nào. Trong thời kỳ khủng hoảng, chúng ta cần thông tin được truyền tải một cách cởi mở, và chúng ta cần mọi người tin tưởng vào các chuyên gia khoa học hơn là các nhà chính trị mị dân.

 

May mắn thay, trong trường hợp khẩn cấp hiện nay hầu hết mọi người thực sự chuyển sang khoa học. Giáo hội Công giáo hướng dẫn các tín hữu tránh xa các nhà thờ. Israel đã đóng cửa các Giáo đường Do Thái của mình. Cộng hòa Hồi giáo Iran đang trừng phạt những người đến nhà thờ Hồi giáo. Các cơ sở tự viện của các giáo phái Phật giáo cũng đã công khai đình chỉ các buổi lễ. Và tất cả chỉ vì các nhà khoa học đã thực hiện một số tính toán, và khuyến nghị đóng cửa những thánh địa này.

 

Tôi hy vọng rằng mọi người sẽ ghi nhớ tầm quan trọng của thông tin khoa học đáng tin cậy, ngay cả khi cuộc khủng hoảng này đã kết thúc. Nếu chúng ta muốn tận hưởng thông tin khoa học đáng tin cậy trong thời điểm khẩn cấp, chúng ta phải đầu tư vào nó trong thời gian bình thường. Thông tin khoa học không từ trên trời rơi xuống, cũng không phải xuất phát từ tâm trí của từng cá nhân thiên tài. Nó phụ thuộc vào việc có các tổ chức độc lập mạnh mẽ như trường đại học, bệnh viện và báo chí. Các tổ chức không chỉ nghiên cứu sự thật, mà còn được tự do nói cho mọi người biết sự thật, mà không bị Chính phủ độc tài nào đó trừng phạt. Phải mất nhiều năm để xây dựng các thể chế như vậy. Nhưng đó là điều rất đáng để chúng ta làm. Một xã hội cung cấp cho công dân một nền giáo dục khoa học tốt, và được phục vụ bởi các thể chế độc lập mạnh mẽ, có thể đối phó với dịch bệnh tốt hơn nhiều so với một chế độ độc tài tàn bạo, luôn phải có cảnh sát giữ trật tự một nhóm dân trí thấp.

 

Ví dụ, làm thế nào để các bạn khiến hàng triệu người rửa tay bằng xà phòng mỗi ngày? Một cách để làm điều này là đưa đến một cảnh sát, hoặc có thể là lắp đặt camera an ninh, trong mỗi nhà vệ sinh và trừng phạt những người không rửa tay. Một cách khác là dạy mọi người trong trường học về virus và vi khuẩn, giải thích rằng dùng xà phòng có thể loại bỏ hoặc tiêu diệt những mầm bệnh này, và sau đó tin tưởng mọi người để họ tự quyết định. Các bạn nghĩ sao, phương pháp nào hiệu quả hơn?

 

Đâu là tầm quan trọng là các quốc gia hợp tác với nhau để phổ biến thông tin đáng tin cậy như thế nào?

 

Các quốc gia cần chia sẻ thông tin đáng tin cậy, không chỉ về các vấn đề cơ sở dịch vụ y tế hẹp, mà còn về hàng loạt các vấn đề rộng lớn khác – từ tác động kinh tế của cuộc khủng hoảng đến tình trạng tâm lý của công dân. Giả sử quốc gia X đang tranh luận về việc áp dụng loại chính sách phong tỏa nào. Họ phải xem xét  không chỉ sự lây lan của dịch bệnh, mà còn cả chi phí kinh tế và tâm lý của việc phong tỏa. Trước đây, các quốc gia khác đã phải đối mặt với tình thế tiến thoái lưỡng nan này, và đã thử các chính sách khác nhau. Thay vì hành động dựa trên những suy đoán thuần túy, và lặp lại những sai lầm trong quá khứ, quốc gia X có thể xem xét hậu quả thực sự của các chính sách khác nhau được áp dụng ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Thụy Điển, Ý và Vương quốc Anh. Do đó quốc gia X có thể đưa ra quyết định tốt hơn. Nhưng chỉ khi tất cả các quốc gia này, báo cáo một cách trung thực không chỉ về số người bệnh và tử vong, mà còn cả những gì xảy ra với nền kinh tế của họ và đối với sức khỏe tâm thần của nhân dân.

 

Sự phát triển AI (trí tuệ nhân tạo, Artificial Intelligence) và nhu cầu về các giải pháp kỹ thuật đã chứng kiến sự tham gia của các công ty tư nhân. Trong bối cảnh này, liệu có còn khả năng phát triển các nguyên tắc đạo đức toàn cầu, và khôi phụ hợp tác quốc tế?

 

Khi các công ty tư nhân tham gia, việc xây dựng các nguyên tắc đạo đức toàn cầu, và khôi phục hợp tác quốc tế càng trở nên quan trọng hơn. Một số công ty tư nhân có thể được thúc đẩy bởi lòng tham nhiều hơn là sự đoàn kết, vì vậy các công ty này phải được quản lý cẩn thận. Ngay cả những hành động hảo tâm cũng không chịu trách nhiệm trực tiếp trước công chúng, vì vậy sẽ rất nguy hiểm nếu để họ tích lũy quá nhiều quyền lực.

 

Điều này đặc biệt đúng khi nói về giám sát. Chúng ta đang chứng kiến sự ra đời của các hệ thống giám sát mới trên toàn thế giới, bởi cả chính phủ và các tập đoàn. Cuộc khủng hoảng hiện tại có thể đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử giám sát. Thứ nhất, bởi vì cuộc khủng hoảng có thể hợp pháp hóa bình thường hóa, việc triển khai các công cụ giám sát hoàng loạt ở các quốc gia từ trước đến nay đã từ khước từ các công cụ này. Thứ hai, và thậm chí quan trọng hơn, nó có ý nghĩa là một sự chuyển đổi mạnh mẽ từ giám sát “qua da” sang giám sát “dưới da”.

 

Trước đây, các chính phủ và tập đoàn chủ yếu theo dõi hành động của các bạn trên thế giới – các bạn đi đâu, gặp ai. Bây giờ họ đã trở nên quan tâm hơn đến những gì đang xảy ra bên trong cơ thể các bạn. Trong tình trạng y tế, nhiệt độ cơ thể, huyết áp của các bạn. Loại thông minh tin sinh trắc học đó có thể cho các chính phủ và tập đoàn biết về các bạn nhiều hơn bao giờ hết.

 

Bạn có thể đề xuất một số nguyên tắc đạo đức về cách thức điều chỉnh các hệ thống giám sát mới này không?

 

Tốt nhất là hệ thống giám sát nên được vận hành bởi một cơ quan y tế đặc biệt, chứ không phải bởi một công ty tư nhân hoặc bởi các dịch vụ an ninh. Cơ quan y tế nên tập trung chủ yếu vào việc ngăn ngừa dịch bệnh và không có có lợi ích thương mại hoặc chính trị nào khác. Tôi đặc biệt hoang mang khi nghe người ta so sánh cuộc khủng hoảng COVID-19 với chiến tranh và kêu gọi các dịch vụ an ninh tiếp quản. Đây không phải là một cuộc chiến. Đó là một cuộc khủng hoảng y tế. Không có kẻ thù là con người để giết. Mà tất cả về việc chăm sóc mọi người. Hình ảnh chủ đạo trong chiến tranh là một người lính với khẩu súng trường lao về phía trước. Bây giờ hình ảnh trong đầu chúng ta phải là một y tá đang thay ga trải giường trong bệnh viện. Những người lính và y tá có cách suy nghĩ rất khác nhau. Nếu bạn muốn giao cho ai đó phụ trách, đừng để một người lính phụ trách. Mà hãy giao cho một y tá.

Cơ quan y tế nên thu thập lượng dữ liệu tối thiểu cần thiết, cho nhiệm vụ hẹp là ngăn ngừa dịch bệnh và không nên chia sẻ dữ liệu này với bất kỳ cơ quan chính phủ nào khác – đặc biệt là không được chia sẻ với cảnh sát. Cũng không nên chia sẻ dữ liệu với các công ty tư nhân. Phải đảm bảo rằng dữ liệu thu thập được về các cá nhân, không bao giờ được sử dụng để gây hại hoặc thao túng những cá nhân này – ví dụ như dẫn đến việc mất việc làm hoặc mất bảo hiểm của họ.

 

Cơ quan chăm sóc y tế có thể cung cấp dữ liệu cho nghiên cứu khoa học, nhưng chỉ khi thành quả của nghiên cứu này được cung cấp miễn phí cho nhân loại, và nếu bất kỳ khoản lợi nhuận ngẫu nhiên nào được tái đầu tư, để cung cấp cho mọi người dịch vụ chăm sóc y tế tốt hơn.

 

Trái ngược với tất cả những hạn chế này về chia sẻ dữ liệu, bản thân các cá nhân cần được trao quyền kiểm soát nhiều nhất đối với dữ liệu thu thập được về họ. Họ sẽ được tự do kiểm tra dữ liệu cá nhân của mình và hưởng lợi từ nó.

 

Cuối cùng, mặc dù các hệ thống giám sát như vậy có thể mang tính chất quốc gia, nhưng để thực sự ngăn chặn dịch bệnh, các cơ quan chăm sóc y tế khác nhau sẽ phải hợp tác với nhau. Bởi tác nhân gây bệnh không tôn trọng biên giới quốc gia, trừ khi chúng ta kết hợp dữ liệu từ các quốc gia khác nhau, sẽ rất khó để phát hiện và ngăn chặn dịch bệnh. Nếu việc giám sát quốc gia được thực hiện bởi một cơ quan y tế độc lập, không có lợi ích chính trị và thương mại, thì các cơ quan quốc gia đó sẽ dễ dàng nhiều hơn để hợp tác trên toàn cầu.

 

Bạn đã nói gần đây về sự suy giảm niềm tin nhanh chóng trong hệ thống quốc tế. Anh nhìn nhận thế nào về những thay đổi sâu sắc bởi sự hợp tác đa phương trong thời gian tới?

 

Tôi không biết điều gì sẽ xảy ra trong tương lai. Trong hiện tại nó phụ thuộc vào sự lựa chọn của chúng ta. Các quốc gia có thể lựa chọn cạnh tranh để giành nguồn lực khan hiến và theo đuổi chính sách vị kỷ và biệt lập, hoặc họ có thể chọn giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần đoàn kết toàn cầu. Sự lựa chọn này sẽ định hình cả tiến trình của cuộc khủng hoảng hiện tại và tương lai của hệ thống quốc tế trong nhiều năm tới.

 

Tôi hy vọng các quốc gia sẽ lựa chọn đoàn kết và hợp tác. Chúng ta không thể ngăn chặn dịch bệnh này, nếu không có sự hợp tác chặt chẽ giữa các quốc gia trên thế giới. Ngay cả khi một quốc gia cụ thể thành công trong việc ngăn chặn dịch bệnh, trên lãnh thổ của mình trong một thời gian, miễn là dịch bệnh tiếp tục lây lan ở nơi khác, nó có thể quay trở lại khắp nơi. Tệ hơn nữa, Virus corona liên tục đột biến. Một đột biến trong Virus corona ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, có thể làm cho nó dễ lây lan hơn hoặc gây tử vong nhiều hơn, gây nguy hiểm cho tất cả nhân loại. Cách duy nhất chúng ta có thể thực sự bảo vệ chính mình, là giúp bảo vệ tất cả nhân loại.

 

Điều này cũng đúng với cuộc khủng hoảng kinh tế. Nếu mỗi quốc gia chỉ chăm lo cho lợi ích của mình, thì kết quả sẽ là một cuộc suy thoái nghiêm trọng toàn cầu, nghiêm trọng ập đến với tất cả mọi người. Các quốc gia giàu có như Mỹ, Đức và Nhật Bản sẽ xáo trộn theo cách này hay cách khác. Nhưng các nước nghèo hơn ở châu Phi, châu Á và châu Mỹ Latinh có thể hoàn toàn sụp đổ. Mỹ có thể chi trả gói giải cứu trị giá 2 nghìn tỷ USD cho nền kinh tế của mình. Ecuador, Nigeria và Pakistan không có các nguồn tài nguyên tương tự.  Chúng ta cần một kế hoạch giải cứu kinh tế toàn cầu.

 

Thật không may, cho đến nay chúng tôi không thấy bất cứ điều gì giống như sự lãnh đạo mạnh mẽ toàn cầu mà chúng ta cần. Mỹ, quốc gia đứng đầu thế giới trong thời kỳ đại dịch Ebola 2014, và cuộc khủng hoảng tài chính 2008, đã từ bỏ công việc này. Chính phủ Donald Trumq đã nói rõ rằng, họ chỉ quan tâm đến nước Mỹ và đã từ bỏ ngay cả các đồng minh thân cận nhất của mình ở Tây Âu. Ngay cả khi Mỹ hiện đưa ra một kế hoạch toàn cầu, ai sẽ tin tưởng, và ai sẽ đi theo hướng dẫn của kế hoạch đó? Các bạn có đi theo một nhà lãnh đạo có phương châm là “Tôi là trên hết” không?

 

Nhưng mọi cuộc khủng hoảng cũng là một cơ hội. Hy vọng rằng, đại dịch hiện nay sẽ giúp nhân loại nhận ra mối nguy hiểm cấp tính toàn cầu do mất đoàn kết gây ra. Nếu thực sự dịch bệnh này cuối cùng dẫn đến sự hợp tác toàn cầu chặt chẽ hơn, đó sẽ là một chiến thắng không chỉ chống lại Virus corona, mà còn chống lại tất cả các mối nguy hiểm khác đang đe dọa loài người – từ biến đổi khí hậu đến chiến tranh hạt nhân.

 

Bạn nói về những lựa chọn mà bây giờ chúng ta đưa ra, sẽ ảnh hưởng đến xã hội của chúng ta như thế nào về kinh tế, chính trị và văn hóa, trong nhiều năm tới. Những lựa chọn này là gì và ai sẽ chịu trách nhiệm thực hiện?

 

Chúng ta phải đối mặt với nhiều sự lựa chọn. Không chỉ là sự lựa chọn giữa chủ nghĩa biệt lập mang tính dân tộc, và sự đoàn kết toàn cầu. Một câu hỏi quan trọng khác là liệu mọi người sẽ ủng hộ sự trỗi dậy của các nhà độc tài, hay họ kiên quyết giải quyết tình trạng khẩn cấp theo cách dân chủ? Khi các chính phủ chi hàng tỷ USD để giúp đỡ các doanh nghiệp thất bại, liệu họ có cứu được các tập đoàn lớn hay các doanh nghiệp gia đình nhỏ? Khi mọi người chuyển sang làm việc tại tư gia và giao tiếp trực tuyến, điều này sẽ dẫn đến sự sụp đổ của lao động có tổ chức hay chúng ta sẽ thấy sự bảo vệ  tốt hơn cho quyền của người lao động?

 

Tất cả những điều này là lựa chọn chính trị. Chúng ta phải biết rằng, hiện nay chúng ta không chỉ đối mặt với cuộc khủng hoảng y tế, mà còn là cuộc khủng hoảng chính trị. Giới truyền thông và người dân không nên để mình bị phân tâm hoàn toàn bởi dịch bệnh. Tất nhiên điều quan trọng là phải theo dõi tin tức mới nhất về chính căn bệnh – hôm nay bao nhiêu người đã chết? Có bao nhiêu người bị lây nhiễm? Nhưng điều quan trọng không kém là phải quan tâm đến chính trị, và tạo áp lực để các chính trị gia làm điều đúng đắn. Công dân nên tạo áp lực cho các chính trị gia hành động trên tinh thần đoàn kết toàn cầu; hợp tác với các quốc gia khác hơn là đổ lỗi cho họ; phân phối một cách công bằng; nên duy trì các nguyên tắc giám sát và đối trọng các quyền lực dân chủ - ngay cả trong trường hợp khẩn cấp.

 

Bây giờ là lúc để làm tất cả. Bất cứ chính phủ nào được chúng ta bầu trong những năm tới, sẽ không thể đảo ngược các quyết định đã được đưa ra ngay bây giờ. Nếu các bạn trở thành Tổng thống vào năm 2021, nó giống như đến một bữa tiệc khi bữa tiệc đã kết thúc, và việc còn lại để làm là rửa bát đĩa bẩn. Nếu các bạn trở thành Tổng thống vào năm 2021, các bạn sẽ phát hiện ra rằng, chính phủ tiền nhiệm đã  phân phối hàng chục tỷ USD – và các bạn có một túi nợ phải trả. Chính phủ trước đây đã tái cấu trúc thị trường việc làm – và các bạn không thể bắt đầu lại từ đầu. Chính phủ trước đây đã đưa ra các hệ thống giám sát mới – và chúng không thể bị xóa bỏ trong một sớm một chiều. Vì vậy, đừng đợi đến năm 2021. Hãy theo dõi những gì các chính trị gia đang làm ngay bây giờ.

 

(Các ý kiến được trình bày trong cuộc phỏng vấn này là của tác giả, và không nhất thiết là của UNESCO và không cam kết với Tổ chức).

 

Thích Vân Phong biên dịch

(Nguồn: UNESCO)




***
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
29/12/202021:36(Xem: 313)
Tịch tĩnh bất động hay định lực có thể đè nén những cảm xúc chướng ngại ẩn tàng, nhưng nó không thể loại trừ hoàn toàn chúng. Tuệ giác nội quán là cần thiết bởi vì như được giải thích trước đây, nó có thể loại trừ hoàn toàn những cảm xúc phiền phức và những rối rắm hậu quả của chúng. Thiền ổn định (chỉ) và thiền phân tích (quán) bây giờ phải làm việc với nhau. Khi chúng thể hiện chức năng cách này, chúng có thể nhổ gốc những cảm xúc phiền phức và loại trừ những giới hạn của thông tuệ vì thế chúng ta có thể hoàn thành mục tiêu tối hậu của việc giúp đở những kẻ khác một cách hiệu quả hơn.
29/12/202021:03(Xem: 225)
Thơ thiền Nhật bản là cả một thế giới thi ca độc đáo, tiêu biểu cho tư tưởng và chủ trương tu tập của thiền học Zen, nhất là qua một thể thơ cực ngắn gọi là haiku. Điểm đáng lưu ý và cần nêu lên trước nhất là thơ thiền Nhật bản khác hẳn với thơ Đường của Trung quốc. Một số học giả, kể cả các học giả Tây phương, dường như đôi khi không nhận thấy được sự khác biệt này khi mang ra phân tích và tìm hiểu tinh thần Phật giáo chung cho cả hai thế giới thi ca trên đây.
28/12/202008:57(Xem: 283)
Moscow: Thuật ngữ “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” mô tả một dạng thiền cao cấp trong truyền thống Kim Cương thừa, thường được thực hành bởi các tu sĩ Phật giáo trong trạng thái quá độ sang sự chết, được gọi là trung hữu – bardo (chìa khóa để giải mã những Bí mật của Nghệ thuật sinh tử). Trạng thái nhập thiền định Phật giáo Mật tông hiếm có được gọi là “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” đã được các nhà khoa học phương Tây nghiên cứu Và Tìm hiểu trong nhiều năm, với sự lãnh đạo của Tiến sĩ ngành tâm lý và tâm thần học - Richard Davidson thuộc Đại học Wisconsin-Madison (Mỹ), người sáng lập và Chủ tịch Trung tâm Tâm Trí Lực (Center for Healthy Minds).
28/12/202008:20(Xem: 230)
Phật giáo đồ các quốc gia Đông Á, thường Kỷ niệm ngày Đức Phật Nhập Niết bàn vào tháng 2 Âm lịch. Nhưng tại địa phương tôi, Trung tâm Thiền miền Bắc Carolina (the North Carolina Zen Center) lại tổ chức Kỷ niệm ngày Đức Phật Thành đạo vào tháng 12 Âm lịch, với một buổi chia sẻ Pháp thoại với Thanh thiếu niên Phật tử, một buổi lễ thắp nến lung linh, tỏa sáng ánh đạo vàng từ bi, trí tuệ, và một bữa ăn tối sau lễ Kỷ niệm.
24/12/202011:16(Xem: 315)
Đức Đạt Lai Lạt Ma và nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu, thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg sẽ hội thảo cùng với các nhà khoa học hàng đầu vào ngày 9 tháng 1 tới, về mối quan tâm ngày càng tăng, đối với phản ứng các bên về “khủng hoảng khí hậu: những biến đổi do con người gây ra trong môi trường làm tăng tốc độ nóng lên toàn cầu”. Cuộc thảo luận sẽ được tổ chức bởi Viện Tâm trí và Đời sống (Mind and Life Institute), rút ra từ cuốn sách mới nhất của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chủ nghĩa hoạt động của nàng thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg, nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu và một loạt phim giáo dục mới về biến đổi khí hậu.
24/12/202010:43(Xem: 288)
Trung tâm Phật giáo Somapura (Somapura Mahavihara, সোমপুর মহাবিহার, Shompur Môhabihar) được kiến tạo vào thế kỷ thứ 8, tọa lạc tại Paharpur, Badalgachhi Upazila, Naogaon, Tây Bắc Bangladesh, một ngôi Già lam Cổ tự lớn thứ hai phía Nam dãy Hymalaya, một trong những trung tâm Phật giáo lớn nhất Nam Á, thành tựu nghệ thuật độc đáo, ảnh hưởng đến nhiều trung tâm Phật giáo lớn khác trên thế giới.
24/12/202010:37(Xem: 273)
Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp, triều đại của Ngài đã đánh dấu thời đại Phật giáo Mông Cổ Cực thịnh, Ngài là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn và là lãnh tụ của bộ tộc Tümed của Mông Cổ. Vào giữa thế kỷ 16, năm 1578 Ngài bệ kiến Sonam Gyatso, Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 3 và ban cho Ngài tước hiệu “Đại Dương”, “ám chỉ Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp Trí tuệ Siêu phàm như Biển” Tước hiệu Đạt Lai Lạt Ma cũng được ban cho hai vị Giáo chủ tiền nhiệm của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 3, và tước hiệu này trở thành thông dụng cho tất cả những người kế nhiệm Đức Đạt Lai Lạt Ma Sonam Gyatso về sau này.
21/12/202012:25(Xem: 529)
Thơ là chữ viết, nhưng thơ cũng là giữa những dòng chữ. Thơ là lời nói ra, nhưng thơ cũng là giữa những lời nói ra, hiển lộ cả trước và sau lời nói ra. Thơ là ngôn ngữ và thơ cũng là vô ngôn, là tịch lặng. Và là bên kia của chữ viết, bên kia của lời nói. Khi đọc xong một bài thơ hay, khi không còn chữ nào trên trang giấy để đọc nữa, chúng ta sẽ thấy thơ là một cái gì như sương khói, mơ hồ, lung linh, bay lơ lửng quanh trang giấy. Cũng như thế, Kinh Phật là thơ, là lời nói, là tịch lặng, là bên kia ngôn ngữ. Khi bài Tâm Kinh đọc xong, khắp thân tâm và toàn bộ ba cõi sáu đường đều mát rượi, ngấm được cái đẹp của tịch lặng ẩn hiện bên kia những chữ vừa đọc xong. Cội nguồn thơ, cũng là cội nguồn Kinh Phật, đó là nơi của vô cùng tịch lặng, một vẻ đẹp như sương khói phả lên những gì chúng ta nhìn, nghe, cảm xúc và hay biết.
20/12/202018:59(Xem: 391)
Trong một thời khắc lịch sử, cả nước đã chứng kiến sự hội tụ của quá khứ, hiện tại và tương lai khi ba thế hệ của triều đại Wangchuck, Vương quốc Phật giáo Buhtan đến viếng thăm khu đất của Pungthang Dewachhenpoi Phodrang vào ngày hôm 16 vừa qua. Lễ Kỷ niệm 113 năm Quốc khánh Vương quốc Bhutan, được tổ chức bên trong Punakha Dzong “Cung điện Hạnh Phúc”, từng là nơi ngự của Lama Zhabdrung Ngawang Namgyel đáng tôn kính hơn 400 năm trước, người đã có công thống nhất Bhutan và làm nền tảng để đất nước này phát triển an bình, thịnh vượng cho đến ngày nay.
20/12/202018:53(Xem: 319)
Matxcơva, ngày 15 tháng 12: Hội nghị Bàn tròn trực tuyến với chủ đề “Đối thoại các Tôn giáo trong Thế giới hiện đại, Dialogue of Religions in Modern World“ do Học viện Ngoại giao thuộc Bộ Ngoại giao Liên bang Nga, Viện Nghiên cứu Học thuật về Cơ đốc giáo phương Đông (INaSEC) đồng tổ chức tại Khoa Tôn giáo và Thần học (FRT) thuộc Đại học Vrije Amsterdam và Đại học Chính thống Cơ đốc giáo, Nga nhân danh Thánh John Divine.