Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Việc Phá hủy Học viện Phật giáo Lớn nhất Tây Tạng - Trung Cộng phải Trả lời

08/10/202007:29(Xem: 706)
Việc Phá hủy Học viện Phật giáo Lớn nhất Tây Tạng - Trung Cộng phải Trả lời


Việc Phá hủy Học viện Phật giáo

Lớn nhất Tây Tạng - Trung Cộng phải Trả lời

(Destruction of Buddhist Education Institutes in Tibet – China Must Answer)

 

Nơi khởi đầu với vài trăm sinh viên, sau đó đã trở thành Trung tâm Giáo dục Phật giáo Đại thừa lớn nhất Tây Tạng, vào năm 2015 với số lượng sinh viên lên đến 40.000 người. Sự hiện diện của một số lượng lớn các học giả như vậy đã làm lung lay gốc rễ của Chính quyền Cộng sản người Hán.

 Việc Phá hủy Học viện Phật giáo Lớn nhất Tây Tạng-1

Hình 1: Học viện Phật giáo Larung Gar (Thánh địa Phật giáo lớn nhất thế giới) tại Tây Tạng bị nhà cầm quyền Cộng sản Trung Quốc phá hủy. Ảnh: freetibet.org

 

Học viện Phật giáo Larung Gar được thành lập từ năm 1980 bởi Khenpo Jigme Phuntsok - một vị Lạt Ma có ảnh hưởng thuộc dòng Cổ Mật (hay dòng Mũ đỏ), với mục đích đem lại nguồn sức sống mới cho Phật giáo Tây Tạng cũng như gửi gắm những điều tốt đẹp tới toàn bộ nhân loại trên thế gian này.

 

Tôn giả Khenpo Jigme Phuntsok, đã viên tịch năm 2004, được xem là người có mong muốn gìn giữ giềng mối Phật giáo mạnh mẽ hơn cả chính trị, có mối quan hệ gần gũi với các giới chức Trung Quốc và Đức Đạt Lai Lạt Ma 14.

 

Học viện Phật giáo Larung Gar là nơi sinh sống và học tập của hơn 40.000 tăng ni Phật tử. Đồng thời, học viện cũng cung cấp các chương trình giáo dục trực tuyến dành cho hàng chục nghìn người trên toàn thế giới. Tôn giả Khenpo Jigme Phuntsok không bao giờ ngờ rằng, những hy vọng tốt đẹp này sẽ bị kẻ vô thần cực đoan, nhà cầm quyền Cộng sản Trung Quốc phá tan ngay sau khi Ngài viên tịch. Cũng nên đọc – Bốn quốc gia tham gia cùng Ấn Độ để chống lại sự xâm lược của bành trướng Bắc Kinh, tạo ra sân mới để ổn định ở Thái Bình Dương.

 

Cuộc đời của Tôn giả Khenpo Jigme Phuntsok đầy những điều kỳ diệu. Trong truyền thuyết cổ của người Tây Tạng, người ta truyền khẩu rằng khi vừa lọt lòng mẹ, Ngài đã ở trong tư thế thiền định và trì tụng Chân ngôn Thần chú Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (Manjushri mantra). Ngài từng mơ về một nơi mà mọi người từ khắp nơi trên thế giới có thể đến, và nghiên cứu Phật giáo Tây Tạng. Qua đó, Ngài đã chọn một nơi ở độ cao hơn 13.000 feet, đầy yên bình và tĩnh lặng và gọi nó là “Thành phố trên bầu trời”.

 

Nơi khởi đầu với vài trăm sinh viên, sau đó đã trở thành Trung tâm Giáo dục Phật giáo Đại thừa lớn nhất Tây Tạng, vào năm 2015 với số lượng sinh viên lên đến 40.000 người. Sự hiện diện của một số lượng lớn các học giả như vậy đã làm lung lay gốc rễ của Chính quyền Cộng sản người Hán.

 

Những người theo đuổi các hoạt động nghệ thuật và trí tuệ (Ascholar) có thể làm thay đổi thế giới, như chúng ta đã thấy ở Ấn Độ vào thế kỷ thứ 3 trước kỷ nguyên Tây lịch, khi một học giả bình thường từ trường Đại học Takshashila (Taxila) thuộc nơi ngày nay là Pakistan, đã làm rung chuyển toàn bộ tiểu lục địa Ấn Độ. Thế giới biết đến danh nhân “Giáo sư Chanakya”.

 

Chanakya là một vị Giáo sư Ấn Độ, Triết gia và Cố vấn Hoàng gia.

 

Là một giáo sư về kinh tế học và khoa học chính trị tại Đại học Takshashila cổ đại, Chanakya đã quản lý sự xuất hiện của hoàng đế Maurara Chandragupta lên quyền lực ở tuổi trẻ.

 

Chanakya được biết đến như là Kautilya hoặc Vishnu Gupta, người là tác giả của tạp chí chính trị Ấn Độ cổ đại gọi là Arthaśāstra. Như vậy, ông được coi là người tiên phong trong lĩnh vực kinh tế và khoa học chính trị ở Ấn Độ, và công trình của ông được coi là tiền đề quan trọng của kinh tế học cổ điển. Chanakya thường được gọi là "Machiavelli Ấn Độ", mặc dù các tác phẩm của ông trước Machiavelli khoảng 1.800 năm. Tác phẩm của ông đã bị mất gần cuối của triều đại Gupta và không được khám phá lại cho đến năm 1915.

 

Vì vậy, nỗi lo sợ của nhà cầm Đảng Cộng sản Trung Quốc không có gì lạ, họ phải tự cứu lấy mình, và lựa chọn duy nhất còn lại là đàn áp mạnh tay những vị học giả này. Tu viện Phật giáo Tây Tạng với những ngôi nhà sơn màu đỏ thẫm nằm rải rác trong một khu vực rộng lớn của dãy Hy Mã Lạp Sơn phủ đầy tuyết đã phải bị phá hủy bởi Cộng sản vô thần cực đoan.

 

Vào tháng 6 năm 2016, nhà cầm quyền Đảng Cộng sản Trung Quốc đã ban hành chỉ thị cắt giảm số lượng cư dân xuống còn 5.000 người từ hơn 40.000 người hiện có. Lý do chính thức được đưa ra là quá đông đúc, nhưng lý do thực sự đã được cả thế giới biết đến. Không có gì khác ngoài nỗi lo sợ bị nhổ khỏi Tây Tạng. Quá tải không phải là lý do vì khu vực này rất rộng lớn và có thể dễ dàng chứa đựng vài vạn dân cư.

 

Chẳng bao lâu sau, nơi thờ tự nhỏ, các cabin bằng gỗ, nhà ở, quán ăn và các công trình kiến trúc khác đã bị nhà cầm quyền ĐCSTQ hạ xuống bằng cách sử dụng máy cưa xích, Máy xúc đào bánh xích JCB, Máy ủi và thiết bị khác. Theo ước tính, hơn 5.000 ngôi nhà đã bị phá hủy chỉ trong vòng 3 tháng và hơn 10.000 cư dân Tăng ni, Phật tử bị buộc phải bỏ dở việc học để trở về nơi ở của họ.

 

Ngoài ra, hơn một nghìn vị tăng sĩ Phật giáo Tây Tạng và hơn 2.000 vị nữ tu Phật giáo Tây Tạng cũng bị buộc phải rời khỏi thành phố Phật giáo này.

 

Theo một báo cáo đăng trên freetiet.org, các vị tăng sĩ và nữ tu Phật giáo Tây Tạng rời khỏi Học viện Phật giáo Larung Gar, đã bị đưa đến các trung tâm cải tạo, nơi nhà cầm quyền Cộng sản Trung Quốc buộc các vị tăng ni phải trải qua cái gọi là “Cải tạo Yêu nước”. Điều tương tự cũng đang xảy ra với lãnh tụ Hồi giáo (Imams) người Duy Ngô Nhĩ ở tỉnh Tân Cương.

 

Trong vòng một năm, nhà cầm quyền Cộng sản Trung Quốc đã bổ nhiệm ba trong số các quan chức của Đảng Cộng sản có uy tín đứng đầu “Học viện Phật giáo Larung Gar”, một trung tâm giáo dục Phật giáo được cho là chỉ do các vị cao tăng giáo phẩm Phật giáo đứng đầu.

 

Không chỉ vậy, họ còn bổ nhiệm ba quan chức cấp cao khác của Đảng Cộng sản đứng đầu “Ủy ban Quản lý Cơ sở Tự viện thuộc Học viện Phật giáo Larung Gar”, một tổ chức bảo trợ chăm sóc người dân và các địa điểm tôn giáo.

 

Không dừng lại ở đó, nhà cầm quyền Cộng sản Trung Quốc còn định cư một số lượng lớn người Hán ở khu vực này với danh nghĩa du lịch. Động cơ thầm kín là thay đổi nhân khẩu học của người dân tộc Tây Tạng. Chính phủ lưu vong Tây Tạng đã Phản đối lên Liên Hợp Quốc nhưng không có tác dụng. Giọng điệu lọt vào tai của người điếc.

 

Một số học giả đã nương náu tại một Trung tâm Giáo dục Phật giáo Tây Tạng khác, cách Học viện  Phật giáo Yarchen Gar (dành cho nữ tu Phật giáo) cách khoảng 300 km, nhưng bóng đen của nhà cầm quyền Cộng sản vô thần người Hán cũng đã đến đây vào năm 2019, cách Học viện  Phật giáo Yarchen Gar đành chịu chung số phận như Học viện Phật giáo Larung Gar. Tất cả đều nhân danh tình trạng quá tải và quảng bá du lịch.

 

Một số câu hỏi lớn nằm phía trước. Cho dù đây là các trại Tập trung Tây Tạng, các Trung tâm Giáo dục Phật giáo được đánh giá cao như Học viện Phật giáo Larung Gar và Học viện Phật giáo Yarchen Gar, hay vì lợi ích đó mà hành động tàn bạo đối với người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương.

 

Ai sẽ đặt câu hỏi về Đảng Cộng sản Trung Quốc và hệ tư tưởng của họ? Liệu các tổ chức được gọi là nhân đạo bao gồm, Liên Hợp Quốc có bao giờ lên tiếng về ĐCSTQ? Ai sẽ chịu trách nhiệm cho cuộc thanh trừng sắc tộc thiểu số này tại Trung Quốc?

 

Nhân loại cần một câu trả lời. Thế giới cần một câu trả lời.

 

(Tác giả Amit Bansal là một Nhà Chiến lược Quốc phòng, quan tâm sâu sắc đến Quan hệ Quốc tế và An ninh Nội bộ. Ông cũng là một tác giả, blogger và nhà thơ.)

 

Tác giả: Amit Bansal

Thích Vân Phong biên tập

(Nguồn: india.com)

 

 Việc Phá hủy Học viện Phật giáo Lớn nhất Tây Tạng-2




***
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/09/201015:34(Xem: 2392)
Tronghệ thống giáo điển Phật đà, cả Nam truyền và Bắc truyền đều có những bài kinh, đoạn kinh nói về công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ rất là cảm động. Cũngnhư có những trang kinh đức Phật chỉ dạy phương pháp báo đáp ân đức sâudày đối với song thân một cách thiết thực nhất. Có nghĩa là đức Phật đãchỉ bày cách báo ân chơn chánh, hợp đạo lý, có lợi ích trong hiện đời và mai sau...
24/09/201009:17(Xem: 2567)
Nghèo khó và thịnh vượng là hai điều kiện khác nhau trong số những sự thực của cuộc sống. Bạn, tôi và những người còn lại trong thế giới này rơi vào một trong hai điều kiện ấy. Chúng ta có thể giàu hay nghèo về phương diện của cải vật chất hay phương diện tâm linh. Rõ ràng hai cụm từ này, “nghèo khó” và “thịnh vượng”, có những ngữ nghĩa khác nhau. Trước khi bàn đến những quan điểm của Phật giáo về sự nghèo khó và thịnh vượng, chúng ta cần biết chính xác về ý nghĩa của hai thuật ngữ này.
24/09/201003:57(Xem: 1641)
Người tham muốn ngủ nghỉ nhiều, thì quá nửa đời mình lẩn quẩn trên chiếc giường, bộ ván; ăn xong lại nghỉ chuyện đi nằm chẳng muốn làm gì hết, khi ngủ xong lại muốn ngủ nữa giống như các loài heo vậy đó, mất cả tự chủ và thể diện của mình. Con người vì không biết rõ thực tướng của vạn vật nên si mê chấp thân tâm làm ngã rồi dẫn đến chiếm hữu, lười biếng, ăn không ngồi rồi. Loài heo vì tham ăn ngon, ngủ kỹ nên mới bị đọa lạc như thế, tối ngày chỉ biết ăn rồi ngủ, ngủ dậy rồi ăn, chẳng biết làm gì.
23/09/201005:54(Xem: 5012)
Nghi lễ sẽ tạo thành không khí lễ nghĩa, làm cho con người có tập quán đạo đức hướng về điều tốt điều phải một cách tự nhiên. Ở chỗ có mồ mả thì có cái không khí bi ai...
22/09/201015:30(Xem: 5785)
Nói đến Phật giáo, người ta nghĩ ngay đến đạo Từ bi cứu khổ.Mà hình ảnh cứu khổ tiêu biểu tuyệt vời nhất thiết tưởng không ai khác hơn làđức Bồ tát Quan Thế Âm, hay Mẹ hiền Quan Âm. Vì vị Bồ tát này có đầy đủ phẩmchất của một người mẹ trong tất cả những người mẹ. Hình như trong mọi trái timcủa những người con Phật thuần thành nhất là giới Phật tử bình dân không ai làkhông không có hình ảnh đáng tôn kính của vị Bồ tát giàu lòng bi mẫn này...
22/09/201015:22(Xem: 3859)
Cuộchành trình miên viễn của kiếp sống trầm luân sáu nẻo luân hồi đã thôithúc rất nhiều người đi tìm những phương pháp để thoát ly khổ não. Hạnh phúc và khổ đau là hai thực trạng của cuộc sống mà con người luôn đề cập tới. Nhưng để biết được hạnh phúc là gì thì con người phải trực nhận ra được bản chất của khổ đau như thế nào rồi mới bàn tới phương pháp giải quyết khổ đau... Sau khi nhận lời thỉnh cầu của Phạm thiên, đức Phật dùng tri kiến thanh tịnh quan sát khắp cả thế giới. Bằng tuệ nhãn, Ngài thấy chúng sanh có nhiều căn tánh bất đồng...
22/09/201009:59(Xem: 4270)
Ngàynay,lễ Tự tứ không còn đơn thuần mang dấu ấn lớn dành cho chư Tăngtrong giới thiền môn sau ba tháng An cư kiết hạ hàng năm, mà nó đã thựcsự tác động mạnh vào đời sống đạo đức xã hội trong việc xây dựng nếpsống an lạc, hạnh phúc cho con người. Bởi vì, suy cho cùng thì giá trịcủa lễ Tự tứ là sự thể hiện việc quyết định nỗ lực hoàn thiện nhâncách, thăng chứng tâm linh và khai mở trí tuệ đối với mỗi cá nhân conngười trong cuộc sống vốn biến động không ngừng... Nguyên tắc của Tự tứ là phải thanh tịnh hòa hợp, do đó mọi hành giả trong buổi lễ này đều khởi lòng tự tín với chính mình và các vị đồng phạm hạnh khác.
22/09/201009:40(Xem: 2902)
Trongtấtcả mọi giá trị có mặt ở đời, thì giá trị giải thoát khổ đau làtối thượng nhất, mọi giá trị khác nếu có mặt thì cũng xoay xung quanhtrục giá trị thật này. Vu lan là ngày lễ khiến mỗi người, dù xuất giahay tại gia đều hướng tâm nguyện cầu, thực thi hạnh nguyện giải thoát.Từ điểm nhìn này, thông điệp giải thoát của lễ Vu lan đem lại có nhữngý nghĩa, giá trị cao quý mà ngày nay mọi người thường hay tâm niệm đến... Giá trị giải thoát đầu tiên cần đề cập đến là từ khi đạo Phật được thể nhập vào đời sống văn hóa nước ta thì lễ Vu lan của đạo Phật trở thành lễ hội truyền thống...
22/09/201004:11(Xem: 2527)
Bất cứ một việc làm gì, khi nhìn kết quả của sự việc, ta sẽ biết nguyên nhơn của việc ấy và ngược lại, nếu muốn biết kết quả của một việc xảy ra cho được tốt đẹp...
21/09/201013:19(Xem: 2965)
Gần đây, do có nhiều hình ảnh về Mạn Đà La chụp được trong các cuộc lễ cungnghinh Phật Ngọc cầu nguyện hòa bình thế giới tại các chùa ở hải ngoại và được đăng trên một số trang mạng điện tử toàn cầu, cũng như được phổ biến qua thư điện tử, có vị đã viết bài chỉ trích cho rằng đó là “hiện tượng mê tín không nên truyền bá,” đã làm một số Phật tử hoang mang không biết đâu là thật đâu là giả.