Người Có Con Mắt Thứ Ba

17/05/202015:22(Xem: 9989)
Người Có Con Mắt Thứ Ba

NGƯỜI CÓ CON MẮT THỨ BA

 Con Mat Thu 3 Cua Thay-2Con Mat Thu 3 Cua Thay-1

                                            

        Trong đời sống tâm linh, có hai bước ngoặt nổi bật và cực kỳ quan trọng đã làm thay đổi cả một cuộc đời của tôi, và tôi chắc sẽ còn ảnh hưởng sâu đậm đến tận những hơi thở cuối cùng của kiếp người mà tôi đã và đang khiêng mang vác gánh.

        Bước ngoặt thứ nhất, tôi cải đạo, rời xa giáo xứ, quy y Tam Bảo, trở thành đệ tử tục gia của Sư bà trú trì chùa Hang tọa lạc bên bờ hạ nguồn con sông Cái, học kinh trì chú, tập tành tu sửa và hành trì theo pháp Phật, với sự dìu dắt nhắc nhở hằng ngày của chồng tôi, một Phật tử thuần thành…

        Bước ngoặt thứ hai, tôi được gặp Thầy. Thầy đã hoan hỷ thâu nhận tôi vào hàng ngũ thiền sinh đang được Thầy hướng dẫn tu tập thiền định, hằng ngày hành trì ngũ giới, sám hối sáu căn, và điều tuyệt diệu nhất là được nghe những lời giáo huấn sâu sắc, những câu chuyện kỳ thú mầu nhiệm, những bài kệ câu kinh uyên huyền thâm thúy, hay những bài thơ áng văn mộc mạc từ bao lần trực tiếp giảng pháp của Thầy…

      Thầy, một giảng sư và giáo thọ của các lớp Phật Học dành cho tăng ni, cũng từng nhiều chuyến xuất ngoại đăng đàn thuyết pháp tại các thiền tự ở Úc và Hoa Kỳ. Thầy, một môn đồ xuất chúng của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, dòng thiền của dân tộc Việt Nam. Trên bước đường du hóa, khi đến Nha Trang, chọn một chốn ngoại thành vắng lặng yên tĩnh, Thầy tạo lập một thiền thất nho nhỏ để từ đây vừa tu hành vừa thực hiện đại nguyện hoằng pháp lợi sanh của một người xuất gia. Nhân duyên hội đủ, tôi được phước duyên gặp Thầy, để rồi hằng ngày vượt đoạn đường 8 cây số bất kể nắng mưa, bắt đầu bước chân vào chốn Thiền đầy những mới lạ kỳ thú và vi diệu thiêng liêng…

       Thầy, y chỉ sư của tôi, là một ngọn bảo đăng soi chiếu sáng rực tứ bề trên con đường tu học mà tôi đã chọn để đi cho đến tận cùng.

      Khi chưa gặp Thầy, tôi chỉ là một Phật tử đơn thuần chỉ biết đi chùa lễ Phật, tay bưng ngọn đèn đi trên nẻo Đạo mà lắm khi không biết phải đi về đâu, đi về hướng nào, rẽ trái hay rẽ phải, thẳng tiến tới ngõ trước mặt hay quay trở lại đường sau lưng… Được gặp Thầy rồi, tôi từng buổi từng ngày tự tin hẳn lên trong cuộc sống hằng ngày có biết bao điều để đương đầu ứng phó. Tôi đã dần dần biết và kiểm soát được từng bước chân của mình. Tôi biết rõ mình đang đi đâu, đi tìm gì, khi nào dừng lại, khi nào bước nhanh, khi nào bước chậm rãi khoan thai, khi nào dũng mãnh bước những bước hiên ngang, và khi nào dừng chân đứng bất động trong tĩnh lặng. Quay về với nội tâm, quay về với chính mình, đó là nẻo đường mà ngón tay của Thầy đã hướng chỉ.

      Khi chưa gặp Thầy, tôi ê a đọc kinh, lâm râm trì chú, hai tay cung kính khư khư ôm mang pháp Phật như vũ khí hộ thân đi trên đường trường, mà lắm khi không rõ bảo vật mình mang theo đó có giá trị như thế nào, quý giá cỡ bao nhiêu, công dụng hữu hiệu ra làm sao… Được gặp Thầy rồi, tôi mỗi ngày mỗi sáng mắt lên, khai thông đầu óc, hiểu rõ từng câu pháp cú, biết được từng đoạn kinh hay, thấy được “gia trung hữu bảo” (của báu có trong nhà) để thôi nhọc công lung tung tìm kiếm ở những nơi xa xăm trắc trở và huyễn hoặc mơ hồ, mà tự trở về nhà mình lục lọi mang ra để chiêm bái, để nâng niu săm soi, để  nghiền ngẫm suy tư, để thực hành ứng dụng…

      Khi chưa gặp Thầy, cái Tôi, cái Ngã của tôi lúc nào cũng dềnh dàng phốp pháp, lềnh khềnh phỗng phao, nên rất ít khi tôi chịu nhường ai nhịn ai, rất ít khi tôi bao dung tha thứ, rất ít khi tôi nhận lỗi về mình mà cứ trách cứ bắt bẻ lỗi ở người. Tôi hay tự ái, tôi hay bừng bừng nổi cơn nóng giận, lẫy hờn, như một con thú hoang cứ mãi trúng tên lãnh đạn bị thương tổn giữa cuộc sống đa đoan và quá nhiểu thử thách… Được gặp Thầy rồi, tôi thấy được rõ mình chỉ là một sinh linh bé bỏng nhỏ nhoi, nhận ra mình chỉ là một hạt bụi giọt nước chẳng có ý nghĩa gì, chẳng có chút trọng lượng hay thể tích nào giữa muôn trùng núi cao biển rộng và đất trời bát ngát mênh mang.

       Từ khi được gặp Thầy, cuộc đời tôi như mở những trang sách mới. Tôi được thêm niềm tin, thêm nghị lực để bước từng bước trên con đường tu sửa có thể chuyển được nghiệp cho mình. Càng học càng tu sửa, tôi càng đương đầu chống chọi với nhiều thử thách gian truân, càng gặp nhiều thấy nhiều những chướng duyên nghịch cảnh đến với mình. Đôi lúc chướng duyên như gió bão, nghịch cảnh như hỏa hoạn ập đến bất thường và hung bạo, tôi yếu đuối chao đảo, tôi giãi đãi ngã nghiêng, tôi sân si gào thét… Nhưng rồi đã có Thầy. Thầy hiển hiện. Thầy hiện ra sừng sững và sáng trưng, không phải bằng hình tướng mà bằng đạo hạnh, bằng từ ngôn hiền ngữ vốn đã thấm sâu vào tâm tưởng của tôi từ những ngày tôi theo học Đạo. Thầy đã dìu đỡ tôi đứng dậy sau khi tôi vấp ngã. Thầy đã hóa thân thành một trụ cột vững chãi chắc chắn cho tôi nương tựa khi tôi lảo đảo liêu xiêu, và  thành chiếc phao cứu sinh căng đầy hơi khí cho tôi bám víu khi tôi đang vũng vẫy chới với giữa sóng nước cuồn cuộn…

       Từ khi được gặp Thầy, tôi biết buông xả. Tôi tha thứ cho người khác một cách dễ dàng. Tôi tự làm tiêu tan cơn giận đang nổi lên trong mình một cách chớp nhoáng. Tôi bỏ ngoài tai một cách dửng dưng những lời đàm tiếu chê bai, những lời khích bác dè bĩu của người khác ném bắn vào mình, và tôi biết cả cách nghe bên tai này cho chạy qua tai kia đi mất hút cả những lời khen tụng ngợi ca mà mọi người dành cho mình. Tôi biết cách hòa hợp với đại chúng, hòa đồng với đạo tràng có lắm đạo hữu mà trước đó tôi đã rất kiêng dè sợ sệt. Tôi biết cách bình tâm đón nhận những chuyện buồn lo, những biến đổi trái ý, những phiền não từ bát phong trong cuộc sống đời thường, để sáng suốt xử lý và giải quyết một cách nhẹ nhàng và hiệu quả.

      Chặng đường bắt đầu theo Thầy học đạo, tu tâm sửa tánh của tôi không những không phải phẳng phiu thông thoáng, thuận lợi dịu êm, mà còn phải đương đầu với rất nhiều hố hầm đồi núi, vượt qua những lùm bụi gai góc nhớp nhơ. Tôi tu học cũng đâu phải xuất sắc giỏi dang gì, dù luôn quyết giữ tinh tấn, cố giữ oai nghi, nhưng bản lĩnh yếu kém, đạo lực chưa đủ lớn mạnh để chiến đấu với ma quân, tranh sức với tà kiến, cho nên đã đôi lần tôi buông tay lùi bước…

      Tôi đã có lần mang ý định rời bỏ Thầy, đã đôi lần có ý chạy trốn khỏi đạo tràng mà mình đang gắn bó sinh hoạt thiền tập; cũng đã đôi lần đi tìm một chốn già lam khác, một vị Thầy khác để tiếp tục cuộc hành trình cầu đạo tu tâm.Vậy mà, tôi không đi đâu nơi khác được, đã có đi rồi nhưng lại phải quay trở về với Thầy. Như một mối duyên tiền định, vô hình vô ảnh, tôi không thể tìm một vị Thầy nào khác hơn ở một thiền tự nào khác hơn. Đạo hạnh và oai nghi của Thầy, cùng với khung cảnh thân thương của thiền thất, sự quan tâm thân thiện của đạo hữu, và những buổi tối tụng kinh với nghi thức sám hối sáu căn, những buổi pháp thoại vang vang văng vẳng tiếng Thầy chân tình điểm đạo, khai mở trí tâm… đã níu đôi chân tôi lại, kéo thân tâm tôi quay về. Thầy đã xem như không có chuyện gì xảy ra, và đón nhận đứa con lêu lỗng trở về bằng cái Tâm của một người cha tinh thần đầy Bi - Trí - Dũng.

      Thầy như có con mắt thứ ba. Tuệ nhãn, con mắt của trí tuệ bất khả tư nghì. Chính những lúc tôi chao đảo thì Thầy xuất hiện nhắc nhở khuyên lơn. Những khi tôi nhụt chí chùn chân thì bóng Thầy loáng thoáng một bên, động viên an ủi. Những lần tôi trăn trở với những câu hỏi to tướng luẩn quẩn trong đầu, thì lời giảng của Thầy chiếu rọi vào làm cho tôi tỉnh ngộ thông suốt. Rất nhiều lần tôi thấy như mình đang có mặt trong bài thuyết pháp của Thầy dành cho đại chúng, có mặt với những khuyết nhược điểm cần được chỉnh sửa xóa bỏ. Lạ nhất là mỗi khi tôi cảm thấy chơ vơ, lạc lõng, đứng ngồi không yên, thì Thầy gọi điện thoại thăm hỏi đúng lúc, hoặc gọi tập trung đi theo Thầy cùng đạo tràng hộ niệm. Thầy như đọc được ý nghĩ, thấy được suy tư, và nắm được những nỗi băn khoăn khắc khoải đang được giấu kín trong thâm tâm tôi. Từ đó, ánh sáng của Trí Tuệ từ Thầy đã truyền vào và thấm đẫm trong tôi, lôi tôi ra khỏi vùng u mê tăm tối, kéo tôi ra khỏi cõi rối rắm nhiêu khê, để cho tôi ngày càng tăng trưởng niềm tin vào Phật pháp, tinh tấn bước chậm mà chắc trên đường tu học còn dài hun hút thênh thang…

       Đã có lắm lúc tôi chợt nghĩ, mai sau, ừ phải, mai sau gẫm theo lẽ vô thường, và gẫm theo lý nhân duyên, nếu pháp duyên giữa tôi và Thầy bỗng dưng đứt đoạn, đạo duyên đột ngột tắt nín tan bay, tôi sẽ không còn được theo Thầy để tu học nữa, không còn được hằng ngày bước chân vào chốn thiền môn của Thầy nữa, thì tôi vẫn tin rằng, tin chắc, mỗi bước đi của tôi trên một nhánh đường Đạo nào đó đã khác lạ, đều vẫn được “con mắt thứ ba” của Thầy dõi theo không rời, không rời…

       Rồi thiệt vậy, đến một ngày duyên tan nợ dứt, tôi rời khỏi đạo tràng tu thiền, rời khỏi thiền tự, rời khỏi Thầy để tự đi trên lối đi tự tìm chọn thích hợp hơn với căn cơ và hoàn cảnh gia đình của mình. Không sao hết! Tuy xa nhưng vẫn gần, rời mà vẫn ở lại nơi bóng của Thầy vẫn luôn tỏa trùm để chở che bảo bọc cho tâm linh của tôi…

      Từ đó đến nay, tôi vẫn luôn trăn trở với câu hỏi tự đặt ra và tự trả lời: Nếu không được gặp Thầy, không biết bây giờ tôi là một người ngợm gì? Đó là một câu hỏi lớn, mà chỉ có mỗi mình tôi giải đáp được cho cặn kẽ, rốt ráo. Nhưng, có thể còn một người thứ hai giải đáp được, đó là người có “con mắt thứ ba”: Thầy!

 

Tâm Không Vĩnh Hữu
(ghi lại & nhuận sắc tự sự của một Phật tử)

Con Mat Thu 3 Cua Thay-4Con Mat Thu 3 Cua Thay-3

                                            

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/10/2014(Xem: 15360)
Tục lệ, hay những lễ nghi đã trở thành thói quen, là văn hóa được ước định của một dân tộc. Sự hình thành tục lệ thường chịu ảnh hưởng của phong tục tập quán trong dân gian, hoặc do sự thực hành các tín ngưỡng tôn giáo lâu ngày của một cộng đồng. Sau khi truyền vào Trung Quốc, Phật giáo không chỉ đi sâu vào dân gian, hòa nhập với đời sống, từng bước hình thành nên một bộ quy phạm lễ nghi về “hôn táng hỷ khánh” (dựng vợ gả chồng, chôn cất người chết, thể hiện niềm vui, bày tỏ việc mừng); mà còn có tác dụng thay đổi phong tục đối với các thói quen dân gian mang đậm màu sắc mê tín trong các việc như: tổ chức hôn lễ rườm rà; đoán số mệnh dựa trên bát tự(1); miễn cưỡng tổ chức việc vui trong lúc gia đạo đang gặp rắc rối với mong muốn giải trừ vận xui, tà khí, chuyển nguy thành an, gọi là xung hỷ; thực hành tục minh hôn(2); duy trì lối khóc mộ; xem phong thủy…
23/10/2014(Xem: 13163)
Từ Thiện chỉ là Tu Phước, đó là cành lá hoa trái, nhưng Tu Huệ là gốc rễ , có chăm sóc cội gốc thì cây Bồ-Đề mới xanh tươi, đó là Phước Huệ song tu, là Tâm Hạnh của một vị Bồ-Tát, Một vị Phật tương lai, hiện tại phải Hành Bồ-Tát Đạo, Phục vụ chúng sinh là cúng dường Chư Phật, Bồ-Tát Giới thì cũng có Xuất gia và Tại Gia, Người con Phật phải luôn tưởng nhớ đến Tánh Phật vốn sẵn nơi chính Thân Tâm Ngũ Uẩn nầy, Người Tu Phật phải luôn nhìn lại chính mình, nếu hiểu được chính Thân Tâm mình, thì sẽ hiểu được người khác, (Tức Quán một Pháp thông, thì tất cả các Pháp đều thông) Người Giác Ngộ đối với Thân Tâm này, chỉ thấy là như hạt bụi, rời hơi thở rồi thì thiêu đốt thành tro, Muốn giải thoát Luân Hồi Sanh Tử, thì sống chấp nhận trả Nghiệp quá khứ, mà không tạo thêm Nghiệp tương lai, Bằng cách, nếu có người phiền não Ta, hay tức giận Ta, thì liền xin lỗi, đó là chấp nhận trả Nghiệp cũ, mà không tạo thêm nghiệp mới,
22/10/2014(Xem: 11492)
Tôi thường đeo một xâu chuỗi nhỏ ở tay, cũng nhiều năm rồi, như một sở thích, như một thói quen. Nhiều người thấy lạ thường hỏi, mang xâu chuỗi chi vậy? Tu hả? Cầu xin gì hả? Thường thì tôi chỉ cười thay câu trả lời vì cũng hơi rắc rối để giải thích.
21/10/2014(Xem: 12697)
Tôi may mắn có mặt trong buổi tối quý giá mà đông đảo Phật tử và thanh niên Hà Nội đã được học hỏi từ Sư bà Thích Nữ Giác Liên, một vị ni sư có 2 dòng máu Ấn – Việt, và là tác giả của cuốn “Đường về xứ Ấn”, tại nhà sách Thái Hà (119 C5 phố Tô Hiệu, phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội). Sư bà Thích Nữ Giác Liên sống ở Bồ Đề Đạo Tràng, Ấn Độ đã 7 năm, đã đi giảng Pháp tại nhiều nước trên thế giới. Sư bà cũng là tác giả của nhiều bản đạo ca nổi tiếng.
21/10/2014(Xem: 13214)
Đối với người đời, không có phước đức nào lớn cho bằng vợ đẹp, con khôn, của cải đầy kho, quyền thế, danh vọng, ăn ngon mặc đẹp… Thế nhưng bạn ơi, -Biết bao nhiêu ông thủ tướng, tổng bộ trưởng bị tù đày vì tham nhũng, gian trá, lạm quyền…thậm chí buôn lậu, dâm ô. Biết bao nhiêu ông tổng thống bị ám sát, lật đổ cũng chỉ vì tranh giành quyền lực. -Ông bố đốt tờ giấy bạc mà người nghèo có thể mua bao gạo để tìm một món đồ cho cô đào cải lương đánh rơi trong phòng trà…vài chục năm sau ông con lại sống như kẻ ăn mày. -Ông bố cặm cụi làm việc suốt đời tao dựng gia tài khổng lồ. Ông con trở thành “công tử” ăn chơi phung phí, bao gái, đua đòi, ném tiền qua của sổ…chẳng mấy chốc phá nát sự nghiệp của cha ông.
20/10/2014(Xem: 26862)
Đây là một trong những câu hỏi mà phóng viên tờ Mandala đã phỏng vấn bác sĩ Alan Molloy, một thành viên lâu năm của Viện Phật học Tara ở tiểu bang Melbourne, Úc, một người đã chứng kiến sự phát triển của đạo Phật tại quốc gia này từ cuối thập niên bảy mươi đến nay.
20/10/2014(Xem: 13756)
Là tín đồ Phật giáo từ năm mười bảy tuổi, đạo hữu luật sư Christmas Humphreys (1901-1983) không thuộc bất cứ một giáo phái nào của Phật giáo. Ông tin vào Phật giáo thế giới, và ông nghĩ rằng: “chỉ trong sự phối hợp của tất cả các tông phái người ta mới có thể thấy trọn vẹn sự vĩ đại của tư tưởng Phật giáo” (only in a combination of all schools can the full grandeur of Buddhist thought be found). Để làm cho quan điểm của mình được Phật tử trên thế giới chấp nhận, ông đã trình bày Mười hai nguyên tắc của Phật giáo (Twelve Principles of Buddhism) nổi tiếng của mình vào năm 1945, được dịch ra 14 thứ tiếng và được nhiều tông phái Phật giáo trên thế giới chấp nhận. Mười hai nguyên tắc ấy có điều giống với Mười Bốn Nguyên Tắc của Đại Tá Olcott giới thiệu trong tác phẩm Phật pháp vấn đáp (Buddhist Catechism) của ông, được xuất bản vào cuối thế kỷ thứ 19.
17/10/2014(Xem: 11996)
Bài viết “Phật trên hè phố Oakland” của nhà báo Trần Khải, tiếp tục được tải truyền rộng rãi trên các website. Bài viết ghi lại đại cương sự kiện phóng viên Chip Johnson kể lại trên báo SFGate.com về một pho tượng Phật đã đem lại sự bình an, sạch sẽ cho một khu phố nhiều tội ác và rác rưởi trước đây. Chi tiết đặc biệt đã thu hút người đọc, là pho tượng Phật Thích Ca bằng đá, chỉ cao khoảng 2 feet, được đặt ở góc đường 11 và đường 19, trong khu Eastlake, thành phố Oakland , là do một người vô thần, tình cờ nhìn thấy tại một tiệm bán vật liệu xây cất.
16/10/2014(Xem: 24803)
Niệm Phật là một pháp môn dễ hành nhưng khó tin, nhất là trong thời đại điện toán này, thời đại mà con người lo cho vật chất nhiều hơn là lo cho đời sống tâm linh. Tuy nhiên theo lời Phật dạy, Phật từ tâm, tâm sinh Phật, để đưa đến giải thoát giác ngộ. Do đó nếu đã là Phật tử rồi thì nhất định phải tin lời Phật dạy, hơn nữa Kinh Hoa Nghiêm còn nói: “niềm tin là mẹ của công đức”.
14/10/2014(Xem: 13339)
Bạn chưa từng ghé thăm mà không gọi trước. Vậy mà lần này, mở cửa, chưa nhìn thấy người đã thấy hoa và trái. Mấy bó cúc đại đóa vàng tươi che kín mặt, chưa đủ, tay kia còn chĩu nặng một giỏ, vừa hồng dòn, vừa soài xanh, mận chín. Tôi toan đỡ một thứ, bạn đã bước nhanh qua cửa, đi thẳng vào bếp, đặt quà xuống, và líu lo: - Hên ghê, mình vừa đến tiệm là xe chở hoa và trái cây phân phối các chợ cũng vừa tới. Xem này, thiệt là tươi. Mình mua ngay. Khách hàng đầu tiên đấy!