Hoằng Truyền Chánh Pháp

26/01/202006:10(Xem: 9674)
Hoằng Truyền Chánh Pháp

phat thuyet phap
HOẰNG TRUYỀN CHÁNH PHÁP


Hoằng pháp là một trong 13 ban ngành thuộc hệ thống GHPGVN hiện nay. Trong phần báo cáo tổng kết cuối năm 2019, cho thấy Ban Hoằng pháp đạt nhiều thành quả hơn so với những nhiệm kỳ trước.

“Hoằng pháp vi gia vụ,lợi sinh vi bổn hoài” đó là phương châm của Ban Hoằng pháp Trung ương; nhờ thế phía Bắc đã vận dụng được bốn Tỉnh có trên 317 đạo tràng sinh hoạt được 1.000 buổi giảng. Phía Nam có 29 Tỉnh thành gồm 6182 đạo tràng với số lượng buổi giảng được thực hiện là 70.693.

Đặc biệt, Ban Hoằng pháp Trung ương kết hợp với Phân ban Thông tin truyền thông  chuyển tải cập nhật những thông tin sinh hoạt Phật sự. Phân ban TTTT với biệt danh “phật sự online –PSO” là một phân ban, tuy thành lập muộn vào giữa năm 2019, nhưng hoạt đông rất hiệu quả,( sẽ có bài chuyên đề vê PSO đã đóng góp xử lý những khủng hoảng thông tin về Phật giáo)

                                                        ***

Hoăng pháp  nói cho đủ là hoằng truyền chánh pháp; thuở sinh tiền, đức Phật sáng đi trì bình  gieo duyên,hình bóng trang nghiêm đĩnh đạc, tạo sự kính ngưỡng cho quần chúng,thuộc thân giáo; chiều thuyết phápkhai thị tùy đối cơ mà  giảng dạy, thuộc khẩu giáo; về khuya giảng pháp giải nghi cho chư Thiên bằng ý giáo.

Sinh hoạt xã hội bấy giờ còn đơn thuần, việc hoằng pháp không đòi hỏi những phương tiện, những kế hoạch như thời đại công nghiệp gấp rút bon chen ngày nay. Do vậy, các bậc chuyên tu, đạo lực sâu dày đủ cảm hóa căn cơ đơn thuần thuở ấy. Trình độ dân trí ngày nay, kiến thức đa dạng, nhu cầu sống cũng phức tạp, đòi hỏi việc hoằng pháp ngoài nội lực tu tập, còn cần kiến thức thế học ( không nhất thiết phải cần bằng cấp), cần phân biệt căn cơ đối tượng để áp dụng tâm lý truyền đạtKinh Pháp hoa phẫm Dược thảo dụ: “ Giáo pháp của Ngài như trận mưa lớn, tất cả các loại cỏ cây đều được thấm nhuần”. Một hoằng pháp viên cũng thế, áp dụng giáo lý thế nào để mọi căn cơ thính chúng có thể thẩm thấu.

Trong kinh Tăng Chi, tập II, chương 5, phẩm Diệu pháp, đức Phật nói về năm đức của vị Pháp sư: “Này Ananda, thật không dễ gì thuyết pháp cho người khác. Để thuyết pháp cho người khác này Ananda, sau khi nội tâm an trú được năm pháp, mới nên thuyết pháp cho người khác. Thế nào là năm? Ta sẽ thuyết pháp tuần tự; ta sẽ thuyets pháp với mắt nhìn vào pháp môn; ta thuyết pháp với lòng từ mẫn; ta sẽ thuyết pháp không phải vì tài vật; ta sẽ thuyết pháp không làm tổn thương cho mình cho người. Này Ananda, khi thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy”. 

Đó là năm đức tính cao đẹp của một giảng sư. Sở dĩ đức Phật không đề cập đến nội lực, vì chư Tăng đương thời đa phần là Thánh Tăng. Nếu Ban Hoằng pháp hàng năm tổ chức những khóa tu bồi dưỡng đạo lực song song bồi dưỡng nghiệp vụ thì việc truyền giảng sẽ có nhiều kết quả hơn. Thân giáo, khẩu giáo và ý giáo toát hiện một nội tâm thanh tịnh qua phong cách diễn đạt, cho dù không cần phải hài hước cũng làm cho thính chúng hoan hỷ tươi vui, thấm nhuần đạo vị.

Một sáng kiến đáng trân trọng khi Ban Hoằng pháp liên kết với phân ban TTTT PSO nâng “Sứ mạng Hoằng pháp thời công nghệ số và trọng trách xây dựng niềm tin vững chắc cho cư sĩ Phật tử”, đây là một chủ đề lớn, thiết nghĩ trong ba ngày từ 01 đến 04 tháng 12/2019 chưa đủ để Hoằng pháp viên nắm bắt nhuần nhuyễn tay nghề.Đồng thời, một điểm sáng mà trước đây chưa hề được đề cập: “Đổi mới, sáng tạo trong sự nghiệp Hoằng dương chánh pháp, trong phương thức hướng dẫn phật tử. Định hướng pháp môn tu tập phù hợp với xã hội hiện đại, với mọi tầng lớp xã hội và xiển dương đạo đức học Phật giáo góp phần xây dựng và làm đẹp nền đạo đức xã hội.” Bồi dưỡng nghiệp vụ Hoàng pháp viên cần lớp trẻ năng động như đoàn sinh Gia Đình Phật tử hoặc những tổ chức tương tự trong BHD phật tử.

Theo báo cáo của BHP T.Ư: “Công tác đào tạo giảng sư của BHP được tổ chức liên tục, Tăng ni giảng sinh sau khi tốt nghiệp đã được về lại địa phương, tham gia vào công tác hoằng pháp tại địa phương”,tuy nhiên, về phần khuyết điểm,BHP T.Ư xác nhận:”một số tỉnh vùng cao, do điều kiện đặc thù, nên thiếu hẳn lực lượng Tăng ni giảng sư” hoặc “BHP T.Ư chưa phân bố rộng rãi giảng sư đến vùng sâu, vùng xa”. Đây là một thực tại đã có hàng chục năm qua.Số giảng sư khác tỉnh, tình nguyện và tự nguyện thâm nhập vào vùng cao, vùng xa đã gặp lắm chướng duyên, không những từ phía địa phương mà ngay cả BTS bản địa cũng gây khó khăn với lý do: “PG địa phương chúng tôi không thiếu giảng sư…”; sự việc xảy ra không riêng tỉnh Bình Phước mà còn nhiều nơi khác vào thập niên 2000 về trước.Trong khi đó, các Mục sư và tín đồ Tôn giáo bạn lặn lội đến từng thôn sóc chăm lo đời sống cho dân bản địa.Ngay cả những nơi mà chư Tăng không đến, quần chúng tín đồ tự nguyện thành lập ban hộ niệm sách tấn nhau tu tập cũng bị BTS gây khó dễ, mượn tay chính quyền địa phương giải tán.

Thập niên 1965 trường Thanh niên phụng sự xã hội, một phân khoa Xã hội của Đại học Vạn Hạnh, do Thiền sư T. Nhất Hạnh khởi xướng đã có 300 sinh viên tình nguyện tham gia, lặn lội vào các vùng chiến tranh để xây nhà, giúp dân, đó cũng là một hình thức hoằng pháp, nhưng đây lại là tâm điểm của những ngờ vực đố kỵ, bị hy sinh nhiều sinh mạng, đưa đến thất bại.Tinh thần hoằng pháp của Phật giáo dưới mọi hình thức, chỉ cần biết hy sinh lăn xả với tinh thần nhiệt huyết của tuổi trẻ và thích hợp với thời cơ.

Dĩ nhiên từ khi BHP T.Ư tỏ ra năng động trong những năm gần đây, tình trạng cửa quyền Tôn giáo như thế cũng giảm hẳn.BHP T.Ư cần sinh hoạt với từng BTS PG địa phương dành thuận lợi cho việc hoằng pháp nếu thành phần hoằng pháp địa phương chưa đủ năng lực, cần có sự hỗ trợ của Tăng ni các nơi khác tình nguyện về góp tay.

“BHP T.Ư chưa thành lập được Học viện Hoằng pháp Trung ương và Trung tâm Hoằng pháp” đây là một ý tưởng lớn nhưng chưa thích hợp khi lượng số và khả năng Giảng sư chưa đủ mạnh.

                                              ***

5 nội dung chỉ đạo của HT chủ tịch: “Thân tâm hoằng pháp, phương tiện hoằng pháp,đối tượng hoằng pháp, môi trường hoằng pháp, thời đại hoằng pháp”, đây là cốt lõi lý tưởng của việc hoằng pháp. Cơ cấu tổ chức Hoằng pháp hiện nay kết hợp với phân ban TTTT-PSO là một hình thức nổi, kể cả những cuộc hội thảo nhiều tốn kém,tuy cần thiết, nhưng liệu thực chất chúng ta đạt được bao nhiêu phần trăm cho chuyên ngành? Vấn đề chúng ta cần đi sâu vào nội lực, hạn chế hình thức.Vì thế BHP TƯ đã chủ trương “đổi mới, sáng tạo trong sự nghiệp Hoằng dương chánh pháp…”

Cái khác nhau giữa việc hoằng pháp từ thời đức Phật và thời đại công nghệ hiện nay: - đích thân chư Tăng đến với quần chúng, Phật dạy:“Hỡi các Tỷ kheo! Các ông hãy đi, nhưng đừng đi hai người cùng một hướng, hãy di mỗi người mỗi ngả, hãy truyền bá Chánh pháp. Này các Tỷ kheo, Chánh pháp toàn thiện ở phần đầu, phần giữa cũng như phần cuối, cả trong ý tứ và lời văn. Hãy tuyên bố về cuộc sống toàn thiện và thanh tịnh…Chính Như Lai cũng đi, Như Lai cũng sẽ đi về hướng Uruvela (Ưu Lâu Tần Loa) ở Sanànigàna để hoằng dương Chánh pháp. Hãy phất lên ngọn cờ của bậc thiện trí, hãy truyền dạy giáo pháp cao siêu, hãy mang lại sự tốt đẹp cho người khác; được vậy, là các ông đã hoàn tất nhiệm vụ” (Mahavaga-Đại phẩm 19,20).

Việc giảng sư hiện nay tuyên thuyết tại một địa điểm được tổ chức sẵn, quần chúng vân tập sẵn mà không phải tự thân đi đến với quần chúng như thời đức Phật, tức là không chủ động mà được mời thỉnh. Có người sẽ nói – mỗi thời đại xã hội mỗi khác, cách hoằng pháp cũng phải khác, thế các Mục sư thì sao?. Hy vọng BHP TƯ sẽ xét đến vấn đề này,cần có một đội ngũ tình nguyện dấn thân vào các vùng vắng bóng chư Tăng, sẽ hiệu quả hơn trên bục giảng để rồi sau khi ra về, thính chúng chẳng còn đọng lại gì trong đức tin và am tường giáo lý. Dĩ nhiên không phủ nhận  tuyên thuyết giáo lý theo kiểu nghị trường, nhưng linh động hơn đi trực tiếp vào người dân. Thế thì chúng ta có hai bộ phận làm công tác hoằng pháp – mặt nổi và mặt chìm, chắc chắn bước đầu hơi khó, nhưng tin rằng, Tăng ni, phật tử  không thiếu người tình nguyện.Đó là nói về nghiệp vụ chuyên ngành, còn lại,chư Tăng và các am tự viện vẫn là một hoằng pháp viên gián tiếp qua thân giáo.

Tổ Qui sơn đã dạy: “Phù xuất gia giả, phát túc siêu phương, tâm hình dị tục, thiệu long thánh chủng, chấn nhiếp ma quân, dụng báo tứ ân, bạt tế tam hữu”.

Ngài Địa tạng nguyện “địa ngục vị không thệ bất thành Phật, chúng sanh độ tận phương chứng Bồ đề”. Ngài A nan cũng từng tuyên thệ với đức Phật:

“Ngũ trược ác thế thệ tiên nhập
Như nhất chúng sanh vị thành Phật
Chung bất ư thử thủ Nê hoàn…”

Đó là tinh thần “thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh” của một bậc Ứng cúng, bố ma, phá ác gọi là Tỳ kheo.

Thời đại hoằng pháp trong xã hội ngày nay không đến  độ như ngài Phú Lâu Na xưa thời đức Phật. Tôn giả với tâm thiện chí, nhẫn nại và nhiệt tâm du hành đến đất nước Du Lô Na. Một đất nước nhiều sắc tộc, phân biệt chủng tộc, cang cường nan phục. Thế mà Tôn giả phát nguyện dấn thân hoằng pháp đầy đủ thân giáo, khẩu giáo và ý giáo.

Hiện nay đã có các khóa tu cho thanh thiếu niên, các lớp giáo lý cơ bản, cần nhân rộng để tất cả học viên sẽ là hoằng pháp viên tự nguyện trong cuộc sống cần nhiều giao tiếp; làm thế nào những người như vậy, ngoài số kiến thức phật học còn thể hiện tâm lực để mỗi cuộc giao tiếp trong cuộc sống không trôi giạt vào chuyện vô bổ thường nhật, có như thế, lực lương Hoằng pháp viên chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp sẽ giúp xã hội mang tinh thần Tư bi-đạo đức của nhà Phật, họ sớm nhận ra mọi sự không bền chặt vĩnh cửu thì khi đối diện mọi bất toàn sẽ giảm bớt khổ đau.

Đức Phật còn tuyên bố rằng: “Này các Tỷ kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ” (Kinh Trung bộ I).

 

MINH MẪN

25/01/2020





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/05/2021(Xem: 13306)
Phật sử ghi lại rằng, vào canh Ba đêm thành đạo, đức Phật đã tìm ra câu giải đáp làm sao thoát khỏi cảnh “Sinh, Già, Bệnh, Chết”, tức thoát khỏi vòng “luân hồi sinh tử”. Câu trả lời là phải đoạn diệt tất cả “lậu hoặc”. Lậu hoặc chính là những dính mắc phiền não, xấu xa, ác độc, tham, sân, si… khiến tâm con người bị ô nhiễm từ đời này sang đời khác, và đời này con người ta vẫn tiếp tục huân tập lậu hoặc, tạo thành nghiệp. “Lậu hoặc” hay “nghiệp” là nguyên tố nhận chìm con người trong luân hồi sanh tử, là nguyên nhân của khổ đau. Muốn chấm dứt khổ đau, chấm dứt luân hồi sanh tử thì phải đoạn diệt tất cả các lậu hoặc, không có con đường nào khác!
18/05/2021(Xem: 9783)
Năm 1959 một sự đe dọa của Tàu Cộng chống lại Đức Đạt Lai Lạt Ma đưa đến sự phản kháng ở Lhasa. Hy vọng tránh được một cuộc tắm máu, ngài đã đi lưu vong và hơn 150,000 Tây Tạng đã đi theo ngài. Bất hạnh thay, hành động này đã không ngăn được sự tắm máu. Một số báo cáo nói rằng khoảng một triệu người Tây Tạng đã chết trong năm đó như một kết quả trực tiếp của việc Tàu Cộng xâm chiếm Tây Tạng.
16/05/2021(Xem: 18271)
Nhận xét rằng, Chúng ta đang đứng trước một khúc quanh gấp của lịch sử nhân loại. Đại dịch Covid-19 đã khép kín mỗi cá nhân trong một không gian chật hẹp, cách ly xã hội, cô lập cá nhân, cách ly cả những người thân yêu. Nó đã tạo ra những khủng hoảng tâm lý trầm trọng trong nhiều thành phần xã hội. Một số đông bị quẫn bức, không thể tự kềm chế, bỗng chốc trở thành con người bạo lực, gieo kinh hoàng cho xã hội. Một số khác, có lẽ là số ít, mà phần lớn trong đó là thanh thiếu niên, khởi đầu cũng chất đầy oán hận trong lòng, nhưng rồi trước ngưỡng sinh tử sự đại, tự mình phấn đấu tự kềm chế, cuối cùng đã khám phá chính mình, trong trình độ nào đó, với những giá trị nhân sinh chỉ có thể tìm thấy trong những cơn tư duy thầm lặng. Giá trị nhân sinh không thể tìm thấy bằng những cao trào kích động của tuổi trẻ. Thế hệ ấy sẽ làm thay đổi hướng đi của lịch sử Đông Tây qua hai nghìn năm kỷ nguyên văn minh Cơ-đốc, khi mà tín đồ có thể liên hệ trực tiếp với đấng Chí Tôn của mình qua mạng truyền
15/05/2021(Xem: 13239)
Phần này bàn về niên hiệu Long Thái và chúa Khánh ở Cao Bằng vào thời LM de Rhodes đến truyền đạo. Đây là lần đầu tiên các danh từ như vậy được dùng trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh (chữ quốc ngữ). Các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là cuốn "Chúa Thao cổ truyện" và bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false.
15/05/2021(Xem: 9081)
Không nói được tiếng Tây Tạng và chưa bao giờ dịch tác phẩm nào nhưng Evans-Wentz được biết đến như một dịch giả xuất sắc các văn bản tiếng Tây Tạng quan trọng, đặc biệt là cuốn Tử Thư Tây Tạng ấn bản năm 1927. Đây là cuốn sách đầu tiên về Phật giáo Tây Tạng mà người Tây Phương đặc biệt quan tâm. Ông Roger Corless, giáo sư Tôn Giáo Học tại đại học Duke cho biết: “Ông Evans-Wentz không tự cho mình là dịch giả của tác phẩm này nhưng ông đã vô tình tiết lộ đôi điều chính ông là dịch giả.”
15/05/2021(Xem: 16212)
Ngay sau tác phẩm Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, người đọc lại được đón đọc Vua Là Phật - Phật Là Vua của nhà văn Thích Như Điển. Đây là cuốn sách thứ hai về đề tài lịch sử ở thời (kỳ) đầu nhà Trần mà tôi đã được đọc. Có thể nói, đây là giai đoạn xây dựng đất nước, và chống giặc ngoại xâm oanh liệt nhất của lịch sử dân tộc. Cũng như Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, tác phẩm Vua Là Phật - Phật Là Vua, nhà văn Thích Như Điển vẫn cho đây là cuốn tiểu thuyết phóng tác lịch sử. Nhưng với tôi, không hẳn như vậy. Bởi, tuy có một số chi tiết, hình ảnh tưởng tượng, song dường như rất ít ngôn ngữ, tính đối thoại của tiểu thuyết, làm cho lời văn chậm. Do đó, tôi nghiêng về phần nghiên cứu, biên khảo, cùng sự liên tưởng một cách khoa học để soi rọi những vấn đề lịch sử bấy lâu còn chìm trong bóng tối của nhà văn thì đúng hơn. Ở đây ngoài thủ pháp trong nghệ thuật văn chương, rõ ràng ta còn thấy giá trị lịch sử và hiện thực thông qua sự nhận định, phân tích rất công phu của
15/05/2021(Xem: 7931)
Ấm ma là hiện tượng hóa ngôn ngữ. Trong kinh Lăng Nghiêm nói đến 50 ấm ma là nói đến biến tướng của nghiệp thức, của các kiết sử thông qua lục căn từng giao tiếp với lục trần trên nền tảng “ sắc-thọ-tưởng-hành-thức”.
15/05/2021(Xem: 12047)
Đọc xong tác phẩm nầy trong một tuần lễ với 362 trang khổ A5, do Ananda Viet Foundation xuất bản năm 2017, Bodhi Media tái xuất bản tại Hoa Kỳ trong năm 2020 và tôi bắt đầu viết về Tác phẩm và Tác giả để gửi đến quý độc giả khắp nơi, nếu ai chưa có duyên đọc đến. Nhận xét chung của tôi là quá hay, quá tuyệt vời ở nhiều phương diện. Phần giới thiệu của Đạo hữu Nguyên Giác gần như là điểm sách về nhiều bài và nhiều chương quan trọng trong sách rồi, nên tôi không lặp lại nữa. Phần lời bạt của Đạo hữu Trần Kiêm Đoàn cũng đã viết rất rõ về sự hình thành của Gia Đình Phật Tử Việt Nam ở trong nước, từ khi thành lập cho đến năm 1975 và Ông Đoàn cũng đã tán dương tuổi trẻ Việt Nam cũng như tinh thần học Phật, tu Phật và vận dụng Phậ
10/05/2021(Xem: 8246)
Chỉ có bốn chữ mà hàm chứa một triết lý thâm sâu ! Chỉ có bốn chữ mà sao chúng sanh vẫn không thực hành được để thoát khỏi sự khổ đau ? Nhưng cũng chỉ bốn chữ này có thể giúp chúng sinh phá được bức màn vô minh, đến được bến bờ giác ngộ, thoát vòng sinh tử !
08/05/2021(Xem: 12069)
Chủ đề bài này là nói về tỉnh thức với tâm không biết. Như thế, nghĩa là những gì rất mực mênh mông, vì cái biết luôn luôn là có hạn, và cái không biết luôn luôn là cái gì của vô cùng tận. Cũng là một cách chúng ta tới với thế giới này như một hài nhi, rất mực ngây thơ với mọi thứ trên đời. Và vì, bài này được viết trong một tỉnh thức với tâm không biết, tác giả không đại diện cho bất kỳ một thẩm quyền nào. Độc giả được mời gọi tự nhìn về thế giới trong và ngoài với một tâm không biết, nơi dứt bặt tất cả những tư lường của vô lượng những ngày hôm qua, nơi vắng lặng tất cả những mưu tính cho vô lượng những ngày mai, và là nơi chảy xiết không gì để nắm giữ của vô lượng khoảnh khắc hôm nay. Khi tỉnh thức với tâm không biết, cả ba thời quá, hiện, vị lai sẽ được hiển lộ ra rỗng rang tịch lặng như thế. Đó cũng là chỗ bà già bán bánh dẫn Kinh Kim Cang ra hỏi ngài Đức Sơn về tâm của ba thời.