Giọt Nước Mắt Sa Di

13/06/201921:01(Xem: 10438)
Giọt Nước Mắt Sa Di


chusadi_painting
GIỌT NƯỚC MẮT SA DI

 

Quý bạn hiền,

 

Cái đề của bài viết “Giọt Nước Mắt Sa Di”, thoạt nghe, cứ tưởng như tiếng vọng ai hoài của một cuốn phim truyện đầy tình cảm éo le như Dạ Cổ Hoài Lang hay Hồi Chuông Thiên Mụ… vào một thuở xa xưa!

 

Nhưng không! Rằng thưa, kẻ viết những dòng này xin được kể một câu chuyện “rất thời thượng” mới xẩy ra hôm qua ngay trên thành phố Sacramento, thủ phủ tiểu bang California này. Dòng thời gian vẫn còn vương nước mắt mang dư vị “thiếu nữ vu quy nhật”, sưởi ấm niềm vui chưa tan và nụ cười chưa tắt của một tu sĩ Phật giáo hàng Sa di “thất thập cổ lai hy”!

 

Khi nói đến hình ảnh Sa Di, người theo đạo Phật đã quen với những hình ảnh sân chùa đều liên tưởng đến một chú tiểu hay chú điệu tóc trái đào chỏm trước chỏm sau, mặc áo nâu sòng, còn nhảy chân sáo; xách gàu tưới cây hay lượm hoa rơi, quét lá ở sân chùa. Nhắc lại một chút về danh từ nhà Phật dành cho các đối tượng xuất gia tùy theo tuổi tác: Từ 7 đến 70 tuổi, không bị dị tật đều được xuất gia. Có 32 dị tật gọi là Ác Già Nạn thì không được xuất gia (ví dụ như tay chân què quặt “tứ chi bất cụ, bất thành Sa Môn” – Chân tay không đủ không thành sa môn… chẳng hạn). Sa Di là cửa đầu tiên của người xuất gia. Từ 7 đến 12 tuổi là Khu ô Sa di hay Sa di Đuổi quạ. Từ 13 đến 19 tuổi là Ứng pháp Sa di. 20-70 tuổi gọi là Danh tự Sa di. Hiền hữu Trần Duy Phô xuất gia gần niên kỷ thất thập nên có thể gọi là Danh tự Sa di Thông Đạo mà không lo bị quở! 

 
sadithongdao_photo

Giọt nước mắt Sa di Thông Đạo

 

Trong rừng áo vàng, áo đỏ thắm, áo đỏ thậm, áo nâu sòng, áo màu lam… đâu đó dưới bóng Phật đài, có “lão Sa di Thông Đạo” là anh Trần Duy Phô - người đã qua một chặng đường dài với hành trình Phật giáo: Tuổi trẻ Phật tử, thanh niên sinh viên Phật tử, quân nhân Phật tử, người tha hương Phật tử và kẻ xuất gia làm nhà sư Phật giáo. Nhưng duyên (thiện duyên) và nghiệp (thuận nghiệp) trùng trùng của anh vẫn còn tương tác nên nếp sống tu hành thanh tịnh và sinh hoạt đời thường vẫn lai vãng theo anh.

 

Trên con đường tìm về dòng thánh chánh pháp là xuất gia đi tu, anh đã được toại nguyện khi quỹ thời gian cuối đời đã mỏng. Nhưng giữa nẻo trầm luân của biến hiện đời thường, sa di Thông Đạo cũng vẫn còn thấp thoáng với chuyện gia đình và xã hội. Người xuất gia có thể bỏ qua không dính mắc với chuyện thị phi thiên hạ; nhưng trường hợp đó là chuyện thiết thân của gia đình và dòng tộc thì ít nhiều cũng phải cưu mang thôi.

 

Sáng nay, mùa Tốt Nghiệp tại Mỹ, ngày đầu tháng 6 năm 2019, tôi đã chứng kiến “giọt nước mắt sa di”! Và tôi cảm thấy mắt mình cũng cay cay theo một dòng đồng cảm nào đó lặng lẽ dâng trào khi Sa di Thông Đạo phát biểu: “… chúng con xuất thân từ gia đình nghèo khổ trong khung cảnh đồng chua nước mặn quê mùa nhưng ngày hôm nay nhờ ân đức tổ tiên, hồng ân Tam Bảo và năng lượng lành địa linh nhân kiệt của hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ, gia đình con, bản thân con và các cháu mới có được ngày hôm nay…”

 

 sadithongdao_family

Niềm vui gia đình ngày Tốt nghiệp

 

Sáng nay chú Sa di Thông Đạo đã cảm động phát khóc khi thưa thỉnh với các vị tăng ni và quan khách trong buổi gia đình cúng dường trai tăng để mừng cháu con gái út Trần Thị Khánh Hiền, Pháp danh Quảng Diệu Thảo tốt nghiệp Y khoa Bác sĩ. Khánh Hiền cũng là đoàn sinh và huynh trưởng Gia Đình Phật Tử Kim Quang tại Sacramento. Cháu tốt nghiệp Tiến Sĩ Y Khoa (MD: Medical Doctor) tại đại học Wisconsin (University of Wisconsin School of Medicine and Public Health) và được học bổng toàn phần thụ huấn và thực tập chuyên môn ngành Sản Phụ Khoa (Obstetrics and Gynecology) thêm 4 năm nữa tại đại học SUNY Upstate Med University ở New York: Tổng cộng 24 năm đèn sách! (12 năm phổ thông, 8 năm đại học, 4 năm chuyên khoa). Ai đã từng ở trong hệ thống giáo dục của Mỹ mới hiểu hết một sinh viên Y Khoa đi vào Chuyên khoa (Specialist) phải xuất sắc và khó đến mức nào! Ngày xưa phải mất 10 năm đèn sách (Thập niên đăng hỏa) để chuẩn bị cho trường văn, trận bút của một giấc mơ thành khóa sinh, sĩ tử thi thố tài năng chữ nghĩa với đời để được công hầu khanh tướng. Ngày nay, thời gian gần gấp ba để thành nhân chuẩn bị vào đời.

 sadithongdao_daughter

Trần Thị Khánh Hiền trong ngày Tốt nghiệp MD

  

Cả một chặng đường dài thử thách “trường đồ tri mã lực” cho Sa di Thông Đạo. Thiếu thời, cũng vươn lên từ quê nghèo để được làm học trò, sinh viên. Trưởng thành, vào lính (sĩ quan Thủ Đức khóa 3/72), vào tù Cải tạo sau 1975, định cư Hoa Kỳ theo diện HO. Tình thần hiếu đạo và hiếu học là điểm sáng cho cả gia đình anh – mà bây giờ tôi phải gọi bằng “chú” – vươn tới.

 

Qua nhiều năm dài trên đất Mỹ, anh đã theo học ngành Xã Hội và tốt nghiệp Cử nhân Xã Hội (BSW), Thạc sĩ Xã Hội (MSW: Master of Social Works). Tôi cũng có được niềm vui đã từng là ông giáo Field Instructor cho sinh viên bạn mình Trần Duy Phô trong cả hai chương trình Cử nhân và Thạc sĩ tại đại học California State University. Tinh thần hiếu học của gia đình thề hiện với chị Hạnh, bà xã anh Phô là một giáo sư trung học đệ nhị cấp trước 1975; cháu Quang, con trai anh Phô đang theo học chương trình thạc sĩ.

 

Với dòng đời thăng trầm như vận nước nổi trôi, nhưng sự nhất quán đối với Đạo Phật là một dòng đời trôi chảy miên mật đối với Anh. Khi còn ở quê nhà, anh Duy Phô là thành viên năng nỗ trong chương trình từ thiện của Bác Siêu - Một hoạt động từ thiện khiêm tốn của các Phật tử trong khung cảnh nhà nghèo của Huế nhưng có lịch sử trong sáng và lâu dài nổi tiếng được mọi người tán thán và kính nể. Qua Mỹ, sau những tháng ngày dài đi học, đi làm và năng nỗ tham gia công tác từ thiện (sáng lập viên và trưởng Hội Từ Bi Quán Thế Âm) cho đến tuổi về hưu, Anh Phô mới thế phát xuất gia thành Sa di Thông Đạo. Và, từ giờ phút nầy trở đi tôi sẽ gọi Anh bằng Chú nhé.

 

Trước đây, tôi đã có viết một bài về trường hợp xuất gia của anh Trần Duy Phô. Mời bạn đọc:

 

http://www.trankiemdoan.net/butluan/tongiao-phatgiao/tamsuvoibanhiensapxuatgiaditu.html

 

Mùa Tốt Nghiệp tại Mỹ năm 2019, với nỗi cảm xúc của bậc làm cha mẹ, người nuôi duỡng, bảo trợ, thân nhân không phân biệt tuổi tác, địa vị xã hội hay hoàn cảnh xuất thân đã góp phần đào tạo cho một con em học hành thành tài đến ngày tốt nghiệp. Trong nguồn cảm xúc chung, tôi đã mời bạn trở về cảm nhận nỗi niềm xúc động và hân hoan của một người bán thế xuất gia Phật giáo có con tốt nghiệp như trường hợp chú Thông Đạo.

 

Cứ mỗi lần nghe “điệu nhạc tốt nghiệp” quá quen thân và đầy cảm xúc trong hầu hết lễ tốt nghiệp tại các trường phương Tây mà nhất là Mỹ và Anh, tôi lại có cả một dòng hoài niệm và cảm xúc mênh mông cho chính bản thân mình, con cháu trong gia đình và bằng hữu.

 

Gần nửa thế kỷ, bài hát mình được nghe đầu tiên mà tần số rung động vẫn còn nguyên vẹn như thuở ban đầu, không có gì thay đổi trong lòng mình: Đó là giai điệu “ĐẤT HY VỌNG VÀ VINH QUANG” (LAND OF HOPE AND GLORY) mà hầu hết các trường học ở Mỹ và gần khắp thế giới dùng mở đầu các buổi lễ TỐT NGHIỆP từ cấp Tiểu học đến Đại Học.

 

"Land of Hope and Glory" là một bài ca yêu nước của Anh do A.C. Benson viết lời và Edward Elgar phổ nhạc vào năm 1902.

 

Nguyên tác lời của Benson:

 

LAND OF HOPE AND GLORY

 

Land of hope and glory, mother of the free,

How shall we extol thee, who are born of thee?

Wider still and wider shall thy bounds be set;

God, who made thee mighty, make thee mightier yet…

 

(tạm phóng dịch) 

 

ĐẤT HY VỌNG VÀ VINH QUANG

 

Mẹ của tự do, đất hy vọng và vinh quang,

Sao nói hết lời vinh danh nguồn cội ?

Vang vọng mãi mênh mông trời đại hải;

Thiêng Liêng ơi Người mãi mãi huy hoàng…

 

Và giai điệu của Edward Elgar. Mời nghe 3 cách trình tấu và diễn nhạc như sau:

 

https://youtu.be/HY-7l0YObPw

 

https://youtu.be/yGQgdE50QA4

 

https://youtu.be/OqPflP_hXyY

 

Ở quê nhà có phượng hồng báo tin mùa Tốt Nghiệp. Nơi quê người có nỗi xúc động dâng trào biểu hiện dưới muôn vàn hình tướng. Bao nhiêu giọt nước mắt mừng vui như giọt nước mắt Sa di. Chúc mừng và chia vui với Sa di Thông Đạo cùng gia đình. Rất khen ngợi cháu Thái Hiền và chung vui với GĐPT Kim Quang.

 

 

Sacramento, mùa Tốt nghiệp 2019

                                                                                                                                         Trần Kiêm Đoàn 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
31/10/2014(Xem: 12147)
Hồi Thầy mới vào chùa năm 16 tuổi, trên phương diện danh từ thì mình đã được gọi Bụt Sakyamuni là Bổn Sư (Nam Mô Đức Bổn Sư Bụt Sakyamuni). Bổn Sư (tiếng Bắc là Bản Sư) có nghĩa là Thầy tôi. Nhưng kỳ thực đức Bụt mà mình được gặp khi mới vô chùa không phải là một vị Thầy đích thực mà là một nhân vật rất huyền thoại, đầy phép lạ, đầy thần thông, rất xa cách với con người. Mình không được gặp Bụt của đạo Bụt nguyên thủy mà cũng không được gặp Bụt của đạo Bụt tiểu thừa. Hình ảnh Bụt nguyên thủy là một vị Thầy ăn mặc rất đơn sơ, trải bồ đoàn tọa cụ ngồi trên đất, ngồi pháp đàm, nói pháp thoại và ăn cơm với các Thầy. Mình không gặp được hình ảnh đó, vì vậy trên phương diện danh từ mình được gọi là Thầy tôi nhưng kỳ thực giữa mình với đức Sakyamuni có một khoảng cách rất lớn. Đó là một nhân vật hoàn toàn thần thoại, đầy phép lạ.
31/10/2014(Xem: 12159)
Pháp môn mà mình nói tới đó là pháp môn xây dựng tăng thân, được gọi tắt làdựng tăng. Đó cũng là công trình của Bụt, đó là sự nghiệp của Bụt. Ngay sau khi thành đạo, Bụt đã biết rất rõ rằng nếu không xây dựng được một tăng thân thì mình không thể nào thực hiện được sự nghiệp của một vị Bụt. Vì vậy Ngài đã để ra rất nhiều thì giờ và công sức để xây dựng một tăng thân. Ngay trong năm đầu sau khi thành đạo, Bụt đã xây dựng một tăng thân xuất gia gồm có 1250 vị, và tăng thân này đầu tiên xuất hiện tại một rừng kè ở ngoại ô thành phố Rajagraha. Năm Ngài 80 tuổi, Vua Prasenajit (Ba Tư Nặc) có nói một câu rất hay để ca ngợi Bụt về công trình xây dựng tăng thân ấy. Vua nói: Bạch đức Thế Tôn, mỗi lần con thấy tăng thân của đức Thế Tôn là con lại có niềm tin nhiều hơn ở nơi chính đức Thế Tôn.
31/10/2014(Xem: 11193)
Mùa Xuân ta lên núi Hăm hở làm sơn ̣̣đồng Bỏ con đường khói bụi Cho sách vở vời trông... Rời mái trường Vạn Hạnh, còn đang lang thang dạy giờ ở các trường Bồ-đề, ngong ngóng một xuất học bỗng du học, tôi bất ngờ bị Sư Bà áp giải lên núi, sau lời phán quyết chắc nịch: “Con phải học một khóa tu Thiền ba năm với Thượng Tọa, xong rồi muốn đi đâu cũng ̣̣được... Còn bây giờ, dứt khoát là…Không!”.
28/10/2014(Xem: 10699)
Có những gì cần phải sửa trong Kinh Phật hay không? Có những gì cần phải cắt bớt khỏi Kinh Phật, hay cần phải bổ túc thêm cho Kinh Phật hay không? Câu trả lời tất nhiên không dễ. Vì người xưa đã nói, nếu chấp vào nghĩa từng chữ một, có thể sẽ hiểu nhầm ý của Phật; nhưng nếu rời kinh một chữ, lại hệt như lời ma nói. Nguyên văn: Y kinh giải nghĩa, tam thế Phật oan; ly kinh nhất tự, tức đồng ma thuyết.
26/10/2014(Xem: 13550)
Gió mùa thu năm nay, trở nên khô khốc, ảnh hưởng bởi nạn hạn hán trầm trọng nhất trong nhiều thập kỷ qua ở xứ này. Nhưng đâu đó trên hành tinh, mưa thu lất phất bay, và gió thu se sắt gợi buồn; cũng có nơi mưa ngập cả các con lộ chính của thành phố lớn để người và xe cộ phải lội bì bõm trong giòng nước ngầu đục. Và chỗ nọ, chỗ kia, làn gió dân chủ, hòa bình, khơi niềm hứng cảm cho sự vươn dậy của ý thức tự do, khai phóng.
24/10/2014(Xem: 22546)
Một kỷ nguyên mới canh tân kỹ thuật đang lan tràn khắp thế giới và đang tiến đến trưởng thành, đó là mạng lưới thông tin toàn cầu internet (world wide web), một hệ thống truyền thông và môi trường học có sức mạnh. Không nên xem Internet chỉ là một phương tiện mới để truyền bá Giáo Pháp với một hình thức mới, mà Internet còn có tiềm năng là một căn cứ cho một cộng đồng Phật Giáo trên mạng (online) cống hiến những giá trị xã hội và tâm linh cho mọi người.
24/10/2014(Xem: 11388)
Chuyện kinh Phật kể rằng, tự ngàn xửa ngàn xưa, hằng hà sa kiếp trước, có con thỏ ngọc nọ thấy bầy đàn đang lúc giá rét cuối đông, chẳng kiếm được chút rau cỏ gì cho nguôi cơn đói bụng ; thỏ nọ liền “hưng khởi đại bi tâm” nhảy vào đám lửa đang cháy rực hồng, tự biến thân mình thành thịt nướng cho bầy đàn ăn đỡ đói. Khi bầy đàn thỏ no nê thì cũng là khi thân thỏ nọ chỉ còn sót lại mấy miểng xương đen. Phật biết đại bi tâm của thỏ từ đầu, bèn nhặt xương thỏ đem về cung quảng, phục sinh và đặt tên cho thỏ là NGỌC THỐ - có nghĩa là Thỏ Ngọc, một sinh thể có đại bi tâm quý như ngọc; thứ ngọc Phật từng nói đến trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Bấy giờ, cuộc đời thỏ ngọc ngày đêm yên ả nơi cung trăng, tự thân sớm hôm trau dồi công dung ngôn hạnh khiến biết bao người chung quanh nâng niu, thương yêu chiều chuộng.
23/10/2014(Xem: 20213)
“Phật pháp trong đời sống” của cư sĩ Tâm Diệu là tuyển tập về mười hai chuyên đề Phật học gắn liền với đời sống của người tại gia. Tuyển tập các bài viết này gồm ba mục đích chính: (i) Xóa bỏ mê tín dị đoan và các tập tục hủ lậu, (ii) Giới thiệu Phật pháp căn bản, giúp người đọc hiểu rõ các giá trị thiết thực của đạo Phật, (iii) Đính chính các ngộ nhận về các khái niệm thầy tu, giải thoát, giá trị trị liệu của thiền và bản chất hạnh phúc trong hiện tại. Dầu được viết trong nhiều thời điểm khác nhau cho nhiều đối tượng độc giả, tác giả chú trọng đến việc giới thiệu về hình thái đạo Phật nguyên chất, xây dựng niềm tin bằng lý trí, giới thiệu đạo Phật từ góc độ ứng dụng trong đời sống, so sánh những điểm dị biệt và sự vượt trội của đạo Phật đối với các truyền thống và tín ngưỡng khác.
23/10/2014(Xem: 11572)
Bằng cách này hay cách khác, Đức Phật luôn gợi nhắc cho chúng ta rằng mỗi người chúng ta đều sở hữu các khả năng và phẩm chất tốt đẹp, cần phải biết vận dụng và phát huy để làm cho cuộc sống trở nên giàu sang hiền thiện, tránh mọi khổ đau và để thực nghiệm hạnh phúc an lạc. Trong bài kinh Nghèo khổ thuộc Tăng Chi Bộ, Ngài đơn cử câu chuyện một người nghèo túng về của cải vật chất nhưng không biết cách nỗ lực khắc phục tình trạng nghèo khó của mình nên phải liên tiếp rơi vào các cảnh ngộ khó khăn để nhắc nhở chúng ta về các tai họa khổ đau mà chúng ta sẽ phải đối diện, nếu không biết nỗ lực nuôi dưỡng và phát huy các phẩm chất đạo đức và trí tuệ của mình.
23/10/2014(Xem: 15194)
Tục lệ, hay những lễ nghi đã trở thành thói quen, là văn hóa được ước định của một dân tộc. Sự hình thành tục lệ thường chịu ảnh hưởng của phong tục tập quán trong dân gian, hoặc do sự thực hành các tín ngưỡng tôn giáo lâu ngày của một cộng đồng. Sau khi truyền vào Trung Quốc, Phật giáo không chỉ đi sâu vào dân gian, hòa nhập với đời sống, từng bước hình thành nên một bộ quy phạm lễ nghi về “hôn táng hỷ khánh” (dựng vợ gả chồng, chôn cất người chết, thể hiện niềm vui, bày tỏ việc mừng); mà còn có tác dụng thay đổi phong tục đối với các thói quen dân gian mang đậm màu sắc mê tín trong các việc như: tổ chức hôn lễ rườm rà; đoán số mệnh dựa trên bát tự(1); miễn cưỡng tổ chức việc vui trong lúc gia đạo đang gặp rắc rối với mong muốn giải trừ vận xui, tà khí, chuyển nguy thành an, gọi là xung hỷ; thực hành tục minh hôn(2); duy trì lối khóc mộ; xem phong thủy…