06 - Nghĩ về thân và thù

09/02/201920:13(Xem: 13521)
06 - Nghĩ về thân và thù

NGHĨ VỀ THÂN VÀ THÙ

BƯỚC NỀN TẢNG

 

 

 

 

Trong hiện tại con thấy rằng thật không thể chịu nổi vì người thân của con khổ đau, nhưng con vui thích khi kẻ thù con đau khổ, và con dửng dưng đến khổ đau của những người không liên hệ.

 

- Tông Khách Ba, Đại Luận Con Đường Tiệm Tiến - Lamrim [1]

 

 

 Từ nền tảng bản chất thật sự của tâm, chúng ta cần phát triển từ ái và bi mẫn thật mạnh mẽ rằng khổ đau của người khác trở nên không thể chịu nổi.  Vì từ ái và bi mẫn phải được cảm nhận một cách bình đẳng cho tất cả mọi loài chúng sinh, sức mạnh của những thái độ này sẽ tùy thuộc trên mức độ của sự gần gũi hay thân thiết mà chúng ta cảm nhận cho người khác.  Thí dụ, khi một người bạn thân ngã bệnh, cảm giác từ ái và bi mẫn, nguyện ước của chúng ta rằng con người này được tự do khỏi bệnh đau và được hồi phục sức khỏe, là mạnh mẽ hơn nó có thể là cho một người chỉ quen biết, hay cho ai đấy mà chúng ta không thích.  Loại từ ái và bi mẫn này bị lẫn lộn với khao khát theo đuổi một lợi ích nào đấy cho chính chúng ta.

 

Nếu một người trước đây tướng mạo hấp dẫn với cá tính vui vẻ dễ thương đánh mất bề ngoài hay tính tình ấy đi, thì thiện ý để cảm tình với người ấy có thể biến mất.  Nhưng nếu chúng ta có một cảm nhận từ bi cho một người xấu xí, thế thì bất kể dung mạo người ấy thay đổi như thế nào đi nữa, cảm nhận từ bi không bị rơi rớt.  Trong thí dụ lòng thương yêu bi mẫn thứ nhất lẫn lộn với tham dục: người ấy lôi cuốn chúng ta (hay nói đúng hơn đây là luyến ái).  Tâm chúng ta đã thổi phồng những đặc trưng dễ thương của người ấy vì thế tham dục phát sinh, và chúng ta cảm thấy một lòng ước ao khao khát, một hổn hợp của lòng mật thiết và mong ước làm nhỏ đi bất cứ nổi khổ đau nào mà người ấy đang chịu đựng.  Tuy nhiên, lòng bi mẫn thuần khiết không thành kiến hay cục bộ; nó hoàn toàn thấm nhuần với hành xả và hoàn thiện cả bạn và thù.

 

Không có nhận thức bình đẳng, từ ái và bi mẫn không định kiến thậm chí không thể khai triển được.  Một khi chúng ta đã phát sinh một thái độ bình đẳng đối với tất cả, sau đó nó mới có thể nhìn không chỉ những người bạn mà những người trung tính (chẳng ghét-thương) và ngay cả những kẻ thù với một sự mến yêu rộng rãi.  Điều này không dễ dàng.  Thật khó khăn để phát triển một cảm giác thân cận đến mọi người.  Thiền quán phản chiếu là cần thiết.

 

BÌNH ĐẲNG

 

Bắt đầu bằng việc chú ý rằng trong tâm, chúng ta có ba đặc trưng chính cho con người - bạn, người trung tính, và kẻ thù.  Chúng ta có thể có nhiều thái độ đối với họ, nhưng ba loại trên là sự quan tâm của chúng ta ở đây - tham dục, dửng dưng sinh khởi từ sự thờ ơ, và thù hận, tương ứng cho từng thứ.  Khi bất cứ một thứ nào trong ba thái độ này hiện diện, thì không thể phát sinh một cảm giác gần gũi với mọi người.  Tham dục, thù hận, và dửng dưng phải được làm cho trung hòa.

 

THIỀN QUÁN

 

Ở đây là việc chúng ta có thể trau dồi hành xả trong thiền quán như thế nào.

 

1- Quán tưởng một người bạn, một người thù, và một người trung tính một cách đồng thời.

 

2- Thẩm tra cảm giác của chúng ta để thấy ai đang được ôm giữ một cách thân thiết và ai được xem như là xa cách.  Chúng ta cảm thấy gần gũi tự nhiên với bạn chúng ta; việc quan tâm đến kẻ thù, chúng ta không chỉ cảm thấy xa cách mà đôi khi cũng là giận dữ hay phát cáu; chúng ta không cảm thấy gì cho người trung tính hay không quen biết.  Khảo sát tại sao.

 

3- Xem xét có phải người bạn xuất hiện thân cận bởi vì cô ta đã hổ trợ chúng ta và bè bạn chúng ta.

 

4- Xem xét có phải kẻ thù xuất hiện xa cách bởi vì người ấy đã làm tổn hại chúng ta và bè bạn chúng ta.

 

5- Xem xét có phải chúng ta cảm thấy dửng dưng đối với người trung tính bởi vì người ấy không giúp đở cũng không làm tổn hại chúng ta và bè bạn chúng ta.

 

6- Nhận ra rằng, giống như chính mình, tất cả những người này muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau, và trong cung cách quan trọng này, họ là bình đẳng.

 

7- Duy trì với nhận thức này cho đến khi nó chìm sâu vào trong tâm hành giả.

 

LÀM NỔI BẬT

 

Nếu chúng ta mở ra khả năng rằng sự tái sinh trong quá khứ và tương lai qua một sự tương tục của đời sống có thể xảy ra, chúng ta có thể làm nổi bật nhận thức bình đẳng bằng việc lưu tâm đến quan hệ mật thiết của tái sinh.  Một sự tương tục của các đời sống có nghĩa là những sự tái sinh không có sự bắt đầu.  Qua tiến triển của nhiều kiếp sống, mọi người có thể đã từng ở trong nhiều loại quan hệ với nhau.  Chúng ta không thể chắc rằng những ai bây giờ là bè bạn đã luôn luôn là bằng hữu trong quá khứ và những ai bây giờ là kẻ thù đã luôn luôn là những người thù địch của chúng ta.  Ngay cả trong một đời sống này, có những cá nhân, người trước đây là kẻ thù nhưng sau này biến thành thân hữu, và những người khác đã từng là bạn hữu nhưng sau này trở thành những kẻ thù.  Việc nhìn vào tương lai, không có lý do gì tại sao một kẻ thù phải mãi là một người thù địch và một người bạn sẽ phải mãi mãi là một bằng hữu.  Bè bạn, kẻ thù, và những người trung tính là bình đẳng bởi vì họ có thể đổi chỗ thay thế cho nhau từ vai trò này sang vai trò nọ.

 

Kết quả là, không có cách nào để quyết định sau cùng một cách hoàn toàn rằng một người nào đấy là kẻ thù vĩnh viễn của chúng ta và do thế, phải nên loại bỏ, hay là một người nào đó là bạn hữu vĩnh viễn và vì thế phải được yêu mến , hay rằng ai đấy sẽ luôn luôn là một người trung tính xa lạ và do thế phải được đối xử một cách dửng dưng.  Đúng hơn, tất cả đã hành động một cách đồng đẳng như những kẻ thù, bạn hữu, và trung tính.  Nếu ai đấy làm tổn hại chúng ta năm trước nhưng giúp đở chúng ta năm nay, và một người khác giúp đở chúng ta năm rồi nhưng lại làm tổn hại chúng ta hiện tại, họ là như nhau, có phải thế không?  Đây là tại sao thật vô lý trong việc nhất quyết  lưu tâm một người nào đấy chỉ là bạn hữu và một người khác chỉ là kẻ thù, hay chỉ là trung tính.  Cấu trúc căn bản của đời sống là không hoàn toàn ổn định:  đôi khi chúng ta thành công, thỉnh thoảng chúng ta thất bại.  Mọi thứ luôn luôn thay đổi, thay đổi và thay đổi.  Thế đấy, chúng ta trải nghiệm những cảm giác cứng nhắc và ổn cố đối với bạn bè, và kẻ thù như vậy là sai lầm một cách đơn giản.  Phản chiếu trên điều này sẽ dần dần đưa tâm chúng ta đến hành xả (buông bỏ những chấp trước).

 

THIỀN QUÁN

 

1- Suy xét rằng ngay cả trong khoảng thời gian của tuổi thọ kiếp sống này, không chắc chắn rằng những cá nhân đặc biệt nào đấy sẽ luôn luôn là bạn hữu, kẻ thù, hay trung lập.  Quán chiếu những thí dụ của điều này từ chính đời sống của mình - một người trung lập đã trở thành một người bạn; một người trung lập trở thành một người thù; một người bạn trở thành trung lập, hay một người thù; một người thù trở thành một người bạn.

 

2- Quán tưởng ai đấy hiện tại là một người trung lập và tưởng tượng rằng cô ta đem đến sự giúp đở và là tổn hại trong những kiếp sống quá khứ.

 

3- Tưởng tượng một người bạn đã giúp đở nhiều trong kiếp sống này đã đem đến tổn hại cho mình trong một kiếp sống trước và là trung lập vào những lúc khác.

 

4- Tưởng tượng rằng một người thù đã tổn hại mình trong kiếp sống này là trung lập trong một kiếp sống nào đây và đã đem đi đem lại nhiều lần những lợi ích trong những lúc khác.

 

5- Hãy thấy rằng trong nhận thức dài lâu của nhiều kiếp sống, bạn bè, kẻ thù, và người quán sát trung lập tất cả đều bình đẳng giúp đở và gây hại cho mình hay bạn bè mình, vì thế không thể kết luận rằng họ chỉ độc nhất là thứ này hay thứ kia.

 

6- Nhận ra rằng trong dạng thức trong sự giao hảo của tiến trình dài lâu của sự tái sinh không có khởi đầu, không ai trong chúng ta có thể quyết định rằng ai đấy người đã giúp đở hay tổn hại chúng ta trong kiếp sống này đã, đang và sẽ làm như thế trong mọi kiếp sống.

 

7- Quyết định rằng thật không đúng để chỉ ra một người cho sự thân thiết, một người khác cho trung lập dửng dưng, và một người nữa cho sự ghét bỏ.

 

 

Phản chiếu cách này, làm sâu sắc ý nghĩa cảm nhận bình đẳng đối với bè bạn, kẻ thù, và người trung lập.

 

Dường như có thể thiết yếu hơn để quan tâm những gì người khác đang làm cho mình hay đến mình trong hiện tại hơn là những kiếp sống trước đây, nhưng việc  này không như vậy.  Như chúng tôi đã chỉ, vị thế một cá nhân như bạn hay thù có thể thay đổi ngay trong một kiếp sống.  Sự giúp đở hay tổn hại từ một người khác là tạm thời, và chỉ thời gian mà thôi thì có thể không phải là cơ sở cho việc chọn lựa sự mật thiết hay ghét bỏ.  Hãy quyết định rằng thật không thực tế  để khao khát một cách mãnh liệt những ai hiện tại giúp đở mình và thù ghét dữ dội những người hiện tại đang làm tổn hại chúng ta.

 

KỶ NĂNG HỔ TRỢ

 

Khi chúng ta quán chiếu vấn đề này, sự thấu hiểu nồng nhiệt về những người như bạn bè và những người khác như kẻ thù, và sự phát sinh hợp lý của khát vọng và thù ghét, sẽ trở nên yếu ớt  hơn trong sức mạnh.  Tuy thế, để mang mối quan hệ mật thiết của những thiền quán này về tổ ấm, thật hữu ích để phản chiếu trong một khung cảnh  gây ấn tượng sâu sắc hơn.

 

1- Quán tưởng hai người.

 

2- Tưởng tượng rằng một người đang vung quả đấm vào hành giả.

 

3- Phản chiếu trên lý do cho việc trở nên khó chịu: hành giả dường như ở trong một hiểm họa sắp bị đánh.

 

4- Tưởng tượng một cách năng động rằng người thứ hai cùng lúc ấy đang làm điều gì đấy dễ chịu cho chúng ta - cầu nguyện cho chúng ta, tặng phẩm vật cho chúng ta, hay vuốt ve cánh tay chúng ta.

 

5- Thẩm tra tại sao chúng ta quá hài lòng với điều này.  Đó là qua một tinh cảnh tạm thời ngắn ngủi mà chúng ta quá thích ý.

 

6- Thấu hiểu điều này, lưu ý rằng những phản ứng của chúng ta với sự quan tâm đến bạn bè hay kẻ thù là không sâu sắc lắm.

 

THIỀN QUÁN KẾT  LUẬN

 

Không có gì chắc chắn rằng một người bạn, một người thù, và một người dưng sẽ mãi mãi lúc nào cũng giúp đở, gây hại, hay không gây hại cũng không giúp đở.  Khi những tư tưởng và động cơ tiêu cực chẳng  hạn như thù hận hay giận tức hiện diện, ngay cả một người bạn cũng được thấy như một người thù, nhưng khi những tư tưởng đối với một người thù biến mất, thì kẻ thù trở thành một người bạn.  Phản chiếu trên những điều sau đây:

 

1- Từ quan điểm của chính họ những người bạn, những kẻ thù và những người trung tính là đồng đẳng, muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau.

 

2- Từ quan điểm của chính chúng ta mỗi một người trong họ đã từng là bạn của chúng ta trong vô số kiếp sống từ vô thì luân hồi sinh tử và chắc chắn sẽ lại giúp đở chúng ta trong tương lai; mỗi loại người ấy là trung lập một cách bình đẳng.

 

3- Vì vậy, từ bất cứ phía nào được quan tâm, chính chúng ta hay những người khác, không có điểm nào trong những nhận thức thổi phồng về thân thiết và chán ghét.  Chúng ta không nên đánh giá người này như căn bản là tốt và người nọ là xấu, mặc dù những hành vi của người ấy có thể là tốt hay xấu, hữu ích hay tai hại.  Không có lý do gì để tử tế với người này và cáu kỉnh với người nọ.  Mặc dù đúng là những cá nhân tạm thời là bạn bè hay thù địch - giúp đở hay tổn hại - thật không đúng để phân biệt bất cứ người nào với thích thú hay thù ghét.

 

Thật quan trọng để diễn tập những thiền quán phản chiếu này với những người đặc thù trong tâm và không chỉ hướng đến tất cả chúng sinh, toàn bộ thì quá lờ mờ để ảnh hưởng một sự thay đổi thật sự của thái độ.  Bằng việc làm việc trên những cá nhân, chậm rãi mở rộng cảm giác này ra ngày càng nhiều người hơn, chúng ta sẽ phát triển một cảm nhận xả buông đối với toàn thể thế giới đời sống.

 

Qua thiền quán này, cuối cùng chúng ta đi đến tại một điểm, nơi mà sự phát sinh những cảm giác mạnh mẽ của khát vọng hay thù hận xuất hiện là vô nghĩa.  Thành kiến yếu đi, và chúng ta thẩm định rằng sự phân loại con người một cách cứng nhắc như bạn bè hay kẻ thù đã là một sai lầm.

 

Giống như làm láng một bức tường trước khi vẽ lên một bức tranh hay chuẩn bị một cánh đồng trước gieo trồng, việc trau dồi một cảm nhận chân thật về tính bình đẳng cung ứng một nền tảng cho bước tiếp theo trong con đường để  yêu thương từ ái:  công nhận tất cả chúng sinh như nhữn người bạn thân thiết.  Bây giờ trau dồi tính bình đẳng sẽ phục vụ như nền tảng cho từ ái.

 

 

 

 

 

Nguyên tác: Foundation Step: Viewing Friend and Foe trích từ quyển How to Expand Love

Ẩn Tâm Lộ ngày 22/10/2011


 



[1] Những Giai Tầng của Con Đường Giác Ngộ

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/05/2021(Xem: 12834)
Ni sư Thích Nữ Giới Hương có lẽ là vị trụ trì viết nhiều nhất ở hải ngoại. Đó là theo chỗ tôi biết, trong cương vị một nhà báo nhiều thập niên có liên hệ tới nhà chùa và công việc xuất bản. Viết là một nỗ lực gian nan, vì phải đọc nhiều, suy nghĩ nhiều, phân tích nhiều, cân nhắc kỹ rồi mới đưa chữ lên mặt giấy được. Đặc biệt, Ni sư Giới Hương cũng là vị trụ trì viết bằng tiếng Anh nhiều nhất. Tôi vẫn thường thắc mắc, làm thế nào Ni sư có đủ thời giờ để gánh vác Phật sự được đa dạng như thế. Nghĩ như thế, vì tự thấy bản thân mình, nghiệm ra, không có đủ sức đọc và viết nhiều như Ni sư.
18/05/2021(Xem: 14466)
Phật sử ghi lại rằng, vào canh Ba đêm thành đạo, đức Phật đã tìm ra câu giải đáp làm sao thoát khỏi cảnh “Sinh, Già, Bệnh, Chết”, tức thoát khỏi vòng “luân hồi sinh tử”. Câu trả lời là phải đoạn diệt tất cả “lậu hoặc”. Lậu hoặc chính là những dính mắc phiền não, xấu xa, ác độc, tham, sân, si… khiến tâm con người bị ô nhiễm từ đời này sang đời khác, và đời này con người ta vẫn tiếp tục huân tập lậu hoặc, tạo thành nghiệp. “Lậu hoặc” hay “nghiệp” là nguyên tố nhận chìm con người trong luân hồi sanh tử, là nguyên nhân của khổ đau. Muốn chấm dứt khổ đau, chấm dứt luân hồi sanh tử thì phải đoạn diệt tất cả các lậu hoặc, không có con đường nào khác!
18/05/2021(Xem: 11167)
Năm 1959 một sự đe dọa của Tàu Cộng chống lại Đức Đạt Lai Lạt Ma đưa đến sự phản kháng ở Lhasa. Hy vọng tránh được một cuộc tắm máu, ngài đã đi lưu vong và hơn 150,000 Tây Tạng đã đi theo ngài. Bất hạnh thay, hành động này đã không ngăn được sự tắm máu. Một số báo cáo nói rằng khoảng một triệu người Tây Tạng đã chết trong năm đó như một kết quả trực tiếp của việc Tàu Cộng xâm chiếm Tây Tạng.
16/05/2021(Xem: 20628)
Nhận xét rằng, Chúng ta đang đứng trước một khúc quanh gấp của lịch sử nhân loại. Đại dịch Covid-19 đã khép kín mỗi cá nhân trong một không gian chật hẹp, cách ly xã hội, cô lập cá nhân, cách ly cả những người thân yêu. Nó đã tạo ra những khủng hoảng tâm lý trầm trọng trong nhiều thành phần xã hội. Một số đông bị quẫn bức, không thể tự kềm chế, bỗng chốc trở thành con người bạo lực, gieo kinh hoàng cho xã hội. Một số khác, có lẽ là số ít, mà phần lớn trong đó là thanh thiếu niên, khởi đầu cũng chất đầy oán hận trong lòng, nhưng rồi trước ngưỡng sinh tử sự đại, tự mình phấn đấu tự kềm chế, cuối cùng đã khám phá chính mình, trong trình độ nào đó, với những giá trị nhân sinh chỉ có thể tìm thấy trong những cơn tư duy thầm lặng. Giá trị nhân sinh không thể tìm thấy bằng những cao trào kích động của tuổi trẻ. Thế hệ ấy sẽ làm thay đổi hướng đi của lịch sử Đông Tây qua hai nghìn năm kỷ nguyên văn minh Cơ-đốc, khi mà tín đồ có thể liên hệ trực tiếp với đấng Chí Tôn của mình qua mạng truyền
15/05/2021(Xem: 14554)
Phần này bàn về niên hiệu Long Thái và chúa Khánh ở Cao Bằng vào thời LM de Rhodes đến truyền đạo. Đây là lần đầu tiên các danh từ như vậy được dùng trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh (chữ quốc ngữ). Các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là cuốn "Chúa Thao cổ truyện" và bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false.
15/05/2021(Xem: 10302)
Không nói được tiếng Tây Tạng và chưa bao giờ dịch tác phẩm nào nhưng Evans-Wentz được biết đến như một dịch giả xuất sắc các văn bản tiếng Tây Tạng quan trọng, đặc biệt là cuốn Tử Thư Tây Tạng ấn bản năm 1927. Đây là cuốn sách đầu tiên về Phật giáo Tây Tạng mà người Tây Phương đặc biệt quan tâm. Ông Roger Corless, giáo sư Tôn Giáo Học tại đại học Duke cho biết: “Ông Evans-Wentz không tự cho mình là dịch giả của tác phẩm này nhưng ông đã vô tình tiết lộ đôi điều chính ông là dịch giả.”
15/05/2021(Xem: 17908)
Ngay sau tác phẩm Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, người đọc lại được đón đọc Vua Là Phật - Phật Là Vua của nhà văn Thích Như Điển. Đây là cuốn sách thứ hai về đề tài lịch sử ở thời (kỳ) đầu nhà Trần mà tôi đã được đọc. Có thể nói, đây là giai đoạn xây dựng đất nước, và chống giặc ngoại xâm oanh liệt nhất của lịch sử dân tộc. Cũng như Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, tác phẩm Vua Là Phật - Phật Là Vua, nhà văn Thích Như Điển vẫn cho đây là cuốn tiểu thuyết phóng tác lịch sử. Nhưng với tôi, không hẳn như vậy. Bởi, tuy có một số chi tiết, hình ảnh tưởng tượng, song dường như rất ít ngôn ngữ, tính đối thoại của tiểu thuyết, làm cho lời văn chậm. Do đó, tôi nghiêng về phần nghiên cứu, biên khảo, cùng sự liên tưởng một cách khoa học để soi rọi những vấn đề lịch sử bấy lâu còn chìm trong bóng tối của nhà văn thì đúng hơn. Ở đây ngoài thủ pháp trong nghệ thuật văn chương, rõ ràng ta còn thấy giá trị lịch sử và hiện thực thông qua sự nhận định, phân tích rất công phu của
15/05/2021(Xem: 9980)
Ấm ma là hiện tượng hóa ngôn ngữ. Trong kinh Lăng Nghiêm nói đến 50 ấm ma là nói đến biến tướng của nghiệp thức, của các kiết sử thông qua lục căn từng giao tiếp với lục trần trên nền tảng “ sắc-thọ-tưởng-hành-thức”.
15/05/2021(Xem: 13375)
Đọc xong tác phẩm nầy trong một tuần lễ với 362 trang khổ A5, do Ananda Viet Foundation xuất bản năm 2017, Bodhi Media tái xuất bản tại Hoa Kỳ trong năm 2020 và tôi bắt đầu viết về Tác phẩm và Tác giả để gửi đến quý độc giả khắp nơi, nếu ai chưa có duyên đọc đến. Nhận xét chung của tôi là quá hay, quá tuyệt vời ở nhiều phương diện. Phần giới thiệu của Đạo hữu Nguyên Giác gần như là điểm sách về nhiều bài và nhiều chương quan trọng trong sách rồi, nên tôi không lặp lại nữa. Phần lời bạt của Đạo hữu Trần Kiêm Đoàn cũng đã viết rất rõ về sự hình thành của Gia Đình Phật Tử Việt Nam ở trong nước, từ khi thành lập cho đến năm 1975 và Ông Đoàn cũng đã tán dương tuổi trẻ Việt Nam cũng như tinh thần học Phật, tu Phật và vận dụng Phậ
10/05/2021(Xem: 10343)
Chỉ có bốn chữ mà hàm chứa một triết lý thâm sâu ! Chỉ có bốn chữ mà sao chúng sanh vẫn không thực hành được để thoát khỏi sự khổ đau ? Nhưng cũng chỉ bốn chữ này có thể giúp chúng sinh phá được bức màn vô minh, đến được bến bờ giác ngộ, thoát vòng sinh tử !