Chương 08: Thiền Tập Về Bi Mẫn

08/01/201920:32(Xem: 7151)
Chương 08: Thiền Tập Về Bi Mẫn
 

CHƯƠNG 8: THIỀN TẬP VỀ BI MẪN

 

 

 

Wednesday, October 17, 2012

 

 

BI MẪN VÀ TÁNH KHÔNG

 

Bi mẫn mà chúng ta phải sở hữu một cách căn bản xuất phát từ tuệ giác nội quán vào trong tánh không, bản chất cứu kính của thực tại.  Chính là tại điểm này mà sự bao la gặp gở với thâm sâu.  Bản chất cứu kính này, như được giải thích trong Chương 6, "Sự Bao La và Thâm Sâu", là việc vắng bóng  sự tồn tại cố hữu trong tất cả mọi khía cạnh của thực tại, sự vắng bóng đặc tính thực chất nội tại trong tất cả mọi hiện tượng.  Chúng ta quy cho phẩm chất tồn tại cố hữu (có tự tánh) đối với tâm thức và thân thể chúng ta, và rồi thì nhận thức vị thế mục tiêu này - tự ngã, hay cái "tôi".  Cảm nhận mạnh mẽ về tự ngã sau đó chấp trước vào một loại hiện tượng cố hữu bản chất, chẳng hạn như phẩm chất của xe trong một chiếc xe mới mà chúng ta thích hay tưởng tượng.  Và như một kết quả cụ thể hóa như vậy và sự chấp trước sau đó, chúng ta cũng có thể trải nghiệm những cảm xúc chẳng hạn như giận dữ hay khó chịu trong sự kiện chúng ta bị phản đối với những gì chúng ta mong muốn: chiếc xe, máy điện toán mới, hay bất cứ thứ gì có thể.  Sự cụ thể hóa đơn thuần có nghĩa là chúng ta cho đối tượng ấy một thực tại mà chúng không có.

 

Khi bi mẫn phối hợp với sự thấu hiểu này về vấn đề tất cả những khổ não của chúng ta xuất phát từ sự nhận thức sai lầm về bản chất của thực tại như thế nào, thì chúng ta đã đạt đến bước tiếp theo trên hành trình tâm linh của chúng ta.  Khi chúng ta nhận thức rằng căn bản của khốn khó là nhận thức sai lầm này, sự chấp trước sai lầm này tại tự ngã không tồn tại, thì chúng ta thấy rằng khổ não có thể được loại trừ.  Một khi chúng ta đã loại trừ nhận thức sai lầm, chúng ta sẽ không còn bị rắc rối bởi khổ đau.

 

Việc biết rằng khổ não con người có thể tránh được, rằng có thể vượt qua nó được, sự thông cảm của chúng ta cho sự bất lực không thể tự giải thoát của họ đưa đến một lòng bi mẫn năng động hơn.  Bằng trái lại, mặc dù lòng bi mẫn của chúng ta có thể là mạnh mẽ, thì lại thường có một phẩm chất của thất vọng, ngay cả tuyệt vọng.

 

 

THIỀN QUÁN VỀ BI MẪN VÀ TỪ ÁI NHƯ THẾ NÀO.

 

 Nếu chúng ta thật sự có ý định phát triển lòng bi mẫn, chúng ta phải dành nhiều thời gian cho việc ấy hơn là những buổi thiền tập nghi thức cho chúng ta.  Đấy là mục tiêu chúng ta phải tự hành động với tất cả trái tim chúng ta.  Nếu chúng ta thật có thời gian mỗi ngày khi chúng ta muốn ngồi xuống và quán chiếu, điều ấy rất tốt.  Như tôi đã đề nghị, buổi sáng sớm là thời gian tốt cho sự quán chiếu như vậy, vì tâm trí chúng ta đặc biệt trong sáng vào những lúc như vậy.  Tuy nhiên, chúng ta dâng hiến nhiều thời gian hơn là chỉ với thời điểm này trong việc trau dồi lòng bi mẫn.  Thí dụ, trong những buổi tu tập nghi thức hơn, chúng ta làm việc với sự phát triển lòng trắc ẩn và gần gũi với người khác.  Chúng ta quán chiếu trên tình trạng khốn khó của họ.  Và một khi chúng ta đã phát sinh một cảm nhận bi mẫn chân thật trong chính chúng ta, chúng ta nên kiên nhẫn với nó, chỉ đơn giản trải nghiệm nó, sử dựng thiền ổn định  mà tôi đã diễn tả để duy trì sự tập trung, mà không áp dụng suy tư hay lý trí.  Điều này có thể cho phép nó thẩm thấu vào.    khi cảm nhận bắt đầu yếu kém, chúng ta lại áp dụng lý trí để lại thôi thúc lòng bi mẫn của chúng ta.  Chúng ta thực hành giữa hai loại thiền tập này, nhiều như người thợ gốm làm việc với đất sét của họ, làm đẩm ướt nó và rồi nhào nặn nó khi họ thấy cần thiết.

 

Tốt nhất, thông thường, khi khởi đầu chúng ta không nên dành quá nhiều thời gian trong thiền tập nghi thức.  Chúng ta sẽ không phát sinh lòng bi mẫn cho tất cả chúng sanh qua một đêm.  Chúng ta sẽ không thành công trong một tháng hay một năm.  Nếu chúng ta có thể giảm thiểu những bản năng vị kỷ và phát triển thêm một ít sự quan tâm cho người khác trước khi chúng ta chết, như thế chúng ta đã làm cho kiếp sống này của chúng ta hữu ích.  Nếu, thay vì thế, chúng ta tự thúc ép mình đạt đến Quả Phật trong một thời gian ngắn, chúng ta sẽ sớm bị mệt mõi trong sự thực tập của mình.  Chỉ nhìn thấy chỗ ngồi nơi chúng ta thực hành buổi thiền tập chính thức buổi sáng sẽ kích thích sự đề kháng.

 

 

ĐẠI BI

 

Như được nói rằng thể trạng cứu kính của Quả Phật có thể đạt đến trong một kiếp sống con người.  Đây là cho những hành giả phi thường, những người đã dâng hiến trong nhiều kiếp sống để chuẩn bị chính họ cho cơ hội này.  Chúng ta chỉ có thể cảm thấy ngưỡng mộ cho những chúng sanh như vậy và sử dụng gương mẫu của họ để phát triển lòng kiên trì bền chí thay vì thúc ép mình đến bất cứ cực đoan nào.  Tốt nhất là theo đuổi con đường trung đạo giữa thờ ơ và cuồng tín.

 

Chúng ta phải bảo đảm rằng bất cứ điều gì chúng ta làm, chúng ta cũng duy trì hiệu quả hay ảnh hưởng từ việc thiền tập của chúng ta vì thế nó sẽ định hướng những hành động khi chúng ta sống trong đời sống hàng ngày.  Bằng việc làm như thế, mỗi việc chúng ta làm bên ngoài những buổi thiền tập nghi thức sẽ trở thành một bộ phận của việc rèn luyện lòng bi mẫn.  Thật không khó để chúng ta phát triển lòng thông cảm cho một đứa bé trong bệnh viện hay nổi buồn về cái chết của người phối ngẫu của một đồng nghiệp.  Chúng ta phải bắt đầu quan tâm đến vấn đề làm thế nào để giữ trái tim chúng ta cởi mở đối với những ai chúng ta thường ganh tỵ, những ai thụ hưởng các lối sống cao quý hay giàu sang.  Với một nhận thức sâu sắc hơn bao giờ hết về khổ não là gì đạt được từ trong những buổi thiền tập, chúng ta trở nên có thể liên hệ đến những người như vậy với lòng bi mẫn.  Cuối cùng chúng ta phải có thể liên hệ đến tất cả chúng sanh trong cách này, thấy rằng hoàn cảnh của họ luôn luôn lệ thuộc trên những điều kiện của vòng sanh tử quẩn quanh.  Trong cách này tất cả những hành động tương tác với người khác trở thành những chất xúc tác cho việc làm sâu sắc thêm lòng bi mẫn của chúng ta.  Đây là việc chúng ta giữ trái tim của chúng ta cởi mở trong đời sống hàng ngày của chúng ta như thế nào, bên ngoài những thời điểm hành thiền chánh thức.

 

Lòng bi mẫn chân thật có sự mãnh liệt và tự động của một bà mẹ thân thương quan tâm đến đứa con đau khổ của bà.  Suốt ngày, lòng quan tâm của bà mẹ cho đứa con tác động đến tất cả mọi suy tư và hành động của bà.  Đây là thái độ mà chúng ta đang làm việc để trau dồi đối với mỗi một chúng sanh.  Khi chúng ta trải nghiệm điều này, chúng ta đã phát sinh lòng "đại bi".

 

Một khi chúng ta đã trở nên bị kích động một cách sâu sắc bởi lòng đại bi và đại từ, và trái tim chúng ta đã bị lay động bởi các tư tưởng vị tha, chúng ta phải phát nguyện dâng  hiến chính mình để giải thoát tất cả chúng sanh khỏi khổ não mà họ phải chịu đựng trong sanh tử luân hồi, vòng quẩn quanh của sanh ra, chết đi và tái sanh mà tất cả chúng ta là những tù nhân.  Nỗi khổ não của chúng ta không chỉ giới hạn trong hoàn cảnh hiện tại.  Theo quan điểm của Đạo Phật, hoàn cảnh hiện tại của chúng ta như những con người là tương đối thoải mái.  Tuy nhiên, chúng ta sẽ phải trải nghiệm nhiều khó khăn hơn trong tương lai nếu chúng ta không sử dụng đúng cơ hội hiện tại này.   Bi mẫn cho phép chúng ta kềm chế khỏi suy nghĩ trong một cung cách ích kỷ.  Chúng ta trải nghiệm những niềm vui to lớn và không bao giờ đơn thuần rơi vào cực đoan của việc chỉ tìm kiếm niềm hạnh phúc và giải thoát cho riêng mình.  Chúng ta cố gắng tiếp tục phát triển và hoàn thiện đức hạnh và tuệ trí của chúng ta.  Với lòng bi mẫn như vậy, chúng ta cuối cùng sẽ sở hữu tất cả những điều kiện cần thiết cho việc đạt đến giác ngộ.  Chúng ta do thế, phải trau dồi lòng bi mẫn ngay lúc mới bắt đầu việc thực tập tâm linh của chúng ta.

 

Đến đây, chúng ta đã đối diện với những sự thực hành cho phép chúng ta kềm chế khỏi thái độ không lành mạnh.  Chúng ta đã thảo luận vấn đề tâm thức hoạt động như thế nào và vấn đề chúng ta phải hành động như thế nào đối với tâm thức cũng như chúng ta sẽ làm việc trên một đối tượng vật lý, bằng việc áp dụng những hành vi nào đó nhằm để mang đến những kết quả mong đợi.  Chúng ta nhận thức rằng tiến trình của việc khai mở trái tim chúng ta không khác biệt.  Không có phương pháp bí mật mà qua đó lòng bi mẫn và từ ái có thể xảy đến.  Chúng ta phải nhào nặn tâm thức chúng ta một cách thiện nghệ, và với sự kiên trì và nhẫn nại chúng ta sẽ thấy rằng mối quan tâm của chúng ta cho sự cát tường của người khác sẽ tăng trưởng.

 

Thursday, October 18, 2012 / 14:26:28


 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/02/2021(Xem: 19369)
Vào thời thái cổ, theo truyền thuyết Đế Minh là cháu bốn đời của vua Thần Nông đi tuần thú phương Nam đến núi Ngủ Lĩnh ( nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung quốc ). Vua Đế Minh đã dừng chân tại nơi nầy, ngài cưới Vu Tiên nữ con vua Động Đình Hồ làm vợ. Đế Minh sinh được một trai tư chất thông minh ngài đặt tên Lộc Tục. Vào năm 2879 trước tây lịch ( khoảng thế kỷ thứ 7 TCN ) Đế Minh phong cho con làm vua ở phương Nam. Lộc Tục lên ngôi xưng đế hiệu Kinh Dương Vương đặt tên nước là Xích Quỷ ngài đóng đô tại Phong châu.
01/02/2021(Xem: 10246)
Kinh Phật đầu tiên là kinh Hoa Nghiêm, kinh Phật cuối cùng là kinh Đại Bát Niết Bàn. Chúng ta học hai kinh nầy để nắm trọn lịch trình của đạo Phật. Kinh Đại Bát Niết Bàn thường gọi là Niết Bàn là kinh vừa kể lại lịch sử đức Phật trước khi nhập diệt vừa là kinh nói về lời giáo huấn cuối cùng của ngài. Vừa tâm lý tình cảm vừa là lời nhắn nhủ sau cùng của Phật cho đạo tràng như người cha trăn trối cho con tiếp tục theo đường đi của ngài. Đời thế gian của Đức Phật khi sinh ra vì bào thai to lớn quá phải giải phẩu bụng của mẹ ngài nên mất máu mà mất sớm, ngài sống qua sự nuôi dưỡng của người dì em của mẹ.
01/02/2021(Xem: 16843)
Phần này bàn về các danh từ gọi dụng cụ gắp cơm và đưa vào miệng (ăn cơm) như đũa hay trợ, khoái, giáp cùng các dạng âm cổ của chúng. Các chữ viết tắt khác là Nguyễn Cung Thông (NCT), Hán Việt (HV), Việt Nam (VN), TQ (Trung Quốc), ĐNA (Đông Nam Á), HT (hài thanh), TVGT (Thuyết Văn Giải Tự/khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập Vận/1037/1067), TNAV (Trung Nguyên Âm Vận/1324), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), TViB (Tự Vị Bổ/1666), TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), KH (Khang Hi/1716), VBL (tự điển Việt Bồ La/1651) ĐNQATV (Đại Nam Quấc Âm Tự Vị/1895).
29/01/2021(Xem: 10504)
Ở đời không phải ai cũng chấp nhận sự chân thành của bạn. Những người quanh ta luôn công nhận việc tốt mà ta đã và đang làm, trở thành đương nhiên như thế… và đến một ngày kia bạn quá mệt mỏi liệu có ai bên cạnh bạn và cảm thông với bạn không? Vì trong suy nghĩ của họ bạn là người tự nguyện cho đi..., trong hoàn cảnh như thế liệu bạn có tiếp tục cho đi nữa hay không? Tất nhiên là có, chúng ta hãy tiếp tục sống tốt nhưng phải là người tốt thông minh. Hãy tin rằng không có nỗ lực nào là uổng phí, hãy có quan điểm và lý tưởng của chính mình, luật nhân quả luôn đền bù cho bạn xứng đáng. Nhà Phật dạy có Luân Hồi-Ngiệp Báo. Không ai phủ nhận rằng quan tâm chăm sóc người khác là tốt, nhường nhịn người khác đều là tốt, tuy nhiên quan tâm quá, họ sẽ làm khó ta vạn lần, nhiệt tình quá họ sẽ đâm ra nghi ngờ, thậm chí khiến bạn bị tổn thương …
28/01/2021(Xem: 10504)
Chúng ta đã quen với thể loại thơ Thiền sáng tác nhiều thế kỷ trước từ các ngài Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sỹ, Hương Hải… Hay gần đây như với thơ của các ngài Nhất Hạnh, Mãn Giác, Tuệ Sỹ, Minh Đức Triều Tâm Ảnh, Ni Trưởng Trí Hải… Đó là nói cho chặt chẽ. Nếu nói cho nới rộng hơn, thơ Thiền cũng là Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Trịnh Công Sơn… Mỗi thời đại đều có những nét riêng, mỗi tác giả cũng là một thế giới độc đáo. Mặt khác, thơ Thiền mỗi quốc độ cũng khác. Trong khi phần lớn thơ Thiền Nhật Bản cô đọng với thể haiku, thơ Thiền Trung Hoa có nhiều bài hùng mạnh như tiếng sư tử hống, như với Chứng Đạo Ca của ngài Huyền Giác, hay Tín Tâm Minh của ngài Tăng Xán. Không ngộ được tự tâm, sẽ không có văn phong đầy sức mạnh như thế. Nơi đây, chúng ta nêu câu hỏi: Làn gió Thiền Tông đã ảnh hưởng vào thơ Hoa Kỳ ra sao? Và sẽ giới thiệu về bốn nhà thơ.
28/01/2021(Xem: 12966)
Mọi người đều biết câu chuyện Xá Lợi Phất thăm Cấp Cô Độc khi bị bịnh nặng và giảng cho Cấp Cô Độc bài pháp về quán chiếu, khi thiền trong Tứ Niệm Xứ mà chữa bịnh cho Cấp Cô Độc. Quán về Phật pháp tăng, 18 giới gồm 6 căn 6 trần 6 thức, rồi quán về 7 đại: đất nước gió lửa không kiến thức, quán về thời gian không gian và cuối cùng là quán về 5 uẩn. Cấp Cô Độc nghe xong hết bịnh. Cũng câu chuyện như vậy, nhưng nó khác đi chi tiết là lúc về già sắp mất: Xá Lợi Phất khai thị Cấp Cô Độc chú trọng về 5 uẩn, hãy trả 5 uẩn về lại cho 5 uẩn khi duyên hội tụ đã hết. Hãy trả Pháp về lại cho Pháp. Và Cấp Cô Độc chết thành A la hán vì đã ngộ được đạo về cõi trời.
28/01/2021(Xem: 12925)
Chùa Thiếu Lâm Tự mở ra khóa ngồi thiền cho 18 vị tu thành A la Hán. Khoá tu này trong 30 ngày ngồi trong tịnh thất suốt ngày đêm. Vị chủ trì là Hòa thượng trụ trì của Thiếu Lâm Tự. Thời bấy giờ là mùa xuân, cảnh đẹp hoa nở và thời tiết ấm áp. Mọi thiền sinh miệt mài tập trung thiền định đạt được 30 ngày miên mật thì bỗng xảy ra tiếng nói vọng vào từ ngoài cửa. Giọng nói đầy êm dịu thanh thoát và trong trẻo của một cô gái. Mỗi tiếng phát âm đi sâu vào tim người nghe một cảm giác êm dịu nhẹ nhàng như vuốt ve trái tim của con người.
27/01/2021(Xem: 7956)
Kính thưa quý đọc giả, tôi đột nhiên thấy được quyển sách với nhan đề “Khéo Dùng Cái Tâm” do Hội Phật Học Bát Nhã biên soạn, liền mượn về ngay để nghiên cứu. Tôi sở dĩ nghiên cứu tác phẩm này là do chủ đề “Khéo Dùng Cái Tâm” lôi cuốn tư tưởng của tôi. Chủ đề rất hấp dẫn khiến tôi tò mò không biết nội dung trong đó nói gì đành phải bỏ hết thời gian để đọc cho xong. Toàn bộ quyển sách chỉ nói về Ma Nhập, nhưng quý đọc giả cần phải đọc qua để biết Ma Nhập quan hệ như thế nào đối với con người chúng ta, đồng thời cần phải tỏ tường để tránh né và đối trị.
27/01/2021(Xem: 7797)
Đức Phật ngồi thiền 49 ngày dưới cội Bồ Đề mới ngộ được đạo tìm được đường giải thoát cho chúng sinh khỏi sinh tử luân hồi. Từ đó đến nay trên 2000 năm biết bao nhiêu cách tọa thiền, đi thiền, nằm thiền, trà thiền, tất cả quá nhiều phương pháp đường lối. Từ Nguyên thủy đến Đại thừa, có rất nhiều đường lối thiền.
27/01/2021(Xem: 9640)
Khi Đức Phật cố gắng ra được bìa rừng với thân đói rét gầy xương do tu khổ hạnh lâu ngày. Ngài kiệt sức và được cô bé chăn bò Cát Tường cho uống bát sữa, Người mới bảo cùng 5 anh em Kiều Trần Như rằng tu khổ hạnh diệt thân này là sai lầm không thể đạt được giác ngộ. 5 anh em Kiều Trần Như có người chế nhạo Đức Phật là con vua hoàng tử sống sung sướng nên không chịu nổi tu khổ hạnh. Riêng người anh cả bảo không phải vậy. Đức Phật chia tay với 5 anh em Kiều Trần Như và hẹn khi nào đạt được giác ngộ sẽ giảng ưu tiên cho 5 anh em.