Chương 06: Sự Bao La Và Thậm Thâm: Hai Khía Cạnh Của Con Đường

08/01/201919:27(Xem: 7538)
Chương 06: Sự Bao La Và Thậm Thâm: Hai Khía Cạnh Của Con Đường
 

CHƯƠNG 6:  SỰ BAO LA VÀ THẬM THÂM: HAI KHÍA CẠNH CỦA CON ĐƯỜNG

 

Tuesday, October 16, 2012

 

Dọc theo hành trình tâm linh trong Đạo Phật, có hai khía cạnh của con đường phản chiếu hai loại thực hành riêng biệt mà chúng ta phải dấn thân.  Mặc dù Đức Phật nói cả hai, nhưng chúng đã trải qua hàng thế kỷ từ thầy đến trò trong hai hệ thống truyền thừa riêng biệt.  Tuy nhiên, giống như hai cánh của con chim, cả hai đều cần thiết khi chúng ta dấn mình vào hành trình đến giác ngộ, đấy là thể trạng mà chúng ta giải thoát khỏi khổ não cho riêng mình mà thôi hay thể trạng giác ngộ cứu kính của Quả Phật mà chúng ta tầm cầu nhằm để làm lợi ích cho tất cả chúng sanh.

 

Cho đến bây giờ, tôi đã tập trung diễn tả một cách rộng rãi "sự bao la".  Sự thực tập này thường được liên hệ như khía cạnh "phương pháp" và liên hệ một cách đặc biệt đến việc khai mở trái tim của chúng ta, của lòng bi mẫn và từ ái, cũng như những phẩm chất như rộng lượng và nhẫn nhục mở rộng từ một trái tim từ ái.

 

Ở đây, việc rèn luyện của chúng ta liên hệ đến việc làm nổi bật những phẩm chất đức hạnh trong khi làm giảm thiểu những khuynh hướng bất thiện.

 

Khai mở trái tim có nghĩa là gì?  Trước tiên nhất, chúng ta thấu hiểu rằng ý tưởng về trái tim là một ẩn dụ.  Trái tim được nhận thức trong hầu hết mọi nền văn hóa là dòng suối của bi mẫn, từ ái, thông cảm, chánh trực, và trực giác hơn chỉ đơn thuần là một trách nhiệm cơ năng cho việc bơm máu tuần hoàn trong cơ thể.  Tuy nhiên, trong thế giới quan của Đạo Phật, cả hai khía cạnh của con đường được thấu hiểu là xảy ra trong tâm thức.   Lạ thay, quan điểm của Đạo Phật, tâm thức tọa lạc ở giữa ngực .  Một trái tim khai mở là một tâm thức khai mở.  Một sự thay đổi của trái tim là một sự thay đổi của tâm thức.  Tuy thế, khái niệm về trái tim của chúng ta cung cấp một khí cụ lợi ích, nếu tạm thời, khi cố gắng để thấu hiểu sự phân biệt giữa khía cạnh "bao la" và "thâm sâu" của con đường.

 

Khía cạnh kia của sự thực tập là "tuệ trí", cũng được biết như sự "thâm sâu".  Ở đây trong thế giới của đầu óc, nơi sự thấu hiểu, phân tích, và nhận thức quyết định là những khái niệm chủ đạo.  Trong khía cạnh tuệ trí của con đường, chúng ta làm việc để làm sâu sắc sự thấu hiểu của chúng ta về vô thường, bản chất khổ não của sự tồn tại sinh tử, và thể trạng thật sự của vô ngã. Bất cứ  người nào thì những tuệ giác này có thể cần đến nhiều kiếp sống để tìm  hiểu một cách trọn vẹn.  Tuy nhiên, chỉ cần nhận ra bản chất vô thường của mọi vật thì chúng ta có thể vượt thắng sự chấp trước của chúng ta đối với chúng và đối với bất cứ khái niệm nào về thường còn.  Khi chúng ta thiếu sự thấu hiểu về bản chất khổ não của sự tồn tại sinh tử, sự dính mắc của chúng ta với đời sống gia tăng.  Nếu chúng ta trau dồi tuệ giác nội quán của chúng ta vào trong bản chất khốn khó của đời sống, chúng ta sẽ vượt thắng sự dính mắc.

 

Một cách căn bản, tất cả những khó khăn sinh khởi từ vọng tưởng cơ bản của chúng ta.  Chúng ta tin tưởng trong sự tồn tại cố hữu (có tự tánh) của chính chúng ta và tất cả những hiện tượng khác.  Chúng ta vọng tưởng rồi bắm chặc vào, ý tưởng về bản chất bên trong của mọi vật, một bản chất mà mọi hiện tượng không thật sự sở hữu.  Chúng ta hãy lấy một cái ghế đơn giản để làm thí dụ.  Chúng ta tin tưởng mà không nhận ra một cách trọn vẹn niềm tin này, rằng có một thứ như vậy như bản chất của chiếc ghế, một phẩm chất của chiếc ghế dường như hiện hữu trong những bộ phận của nó:  những cái chân, chỗ ngồi, và chỗ dựa.  Trong cùng cách như vậy, mỗi chúng ta tin rằng có một cái "tôi" bản chất và tương tục bao hàm những bộ phận thân thể và tinh thần  làm nên mỗi chúng ta.  Phẩm chất cơ bản này chỉ đơn thuần do chúng ta quy cho; nó không thật sự tồn tại.

 

Sự chấp trước của chúng ta vào sự tồn tại cố hữu (tự tánh) là một nhận thức sai lầm nền tảng mà chúng ta phải tiêu trừ qua sự hành thiền về con đường tuệ trí.  Tại sao?  Bởi vì nó là nguyên nhân gốc rể của tất cả những khốn khó của chúng ta.  Nó nằm trong cốt lõi của tất cả mọi cảm xúc phiền não.

 

Chúng ta có thể từ bỏ vọng tưởng của phẩm chất căn bản này chỉ bằng việc trau dồi sự đối trị trực tiếp của nó, đấy là tuệ trí nhận ra sự không tồn tại của phẩm chất này.  Xét cho cùng, chúng ta trau dồi tuệ trí thâm sâu này, như chúng ta trau dồi sự khiêm hạ nhằm để nhổ gốc kiêu căng của chúng ta.  Trước nhất chúng ta phải trở nên quen thuộc với một cung cách thích đáng mà chúng ta nhận thức về chính mình và những hiện tượng khác; rồi thì chúng ta mới có thể trau dồi một nhận thức đúng đắn về các hiện tượng.  Khởi đầu, nhận thức này sẽ là thông tuệ, như trong những loại thấu hiểu mà chúng ta đạt được qua học hỏi và lắng nghe giáo huấn. 

Để làm sâu sắc hơn nhận thức này đòi hỏi những thực tập thiền quán cụ thể hơn được diễn tả trong Chương 11, "Nhất Tâm Bất Loạn", Chương 12, "Chín

Giai Tầng của Thiền Nhất Tâm Bất Loạn", và Chương 13 "Tuệ Trí".  Chỉ như thế thì nhận thức mới có thể tác động chân thật quan điểm của chúng ta về chính mình và những sự vật khác.  Bằng việc thực chứng một cách trực tiếp sự thiếu vắng bản chất cố hữu (vô tự tánh), chúng ta mới có thể nhổ gốc chính căn bản của sự chấp trước nằm cốt lõi tất cả mọi khổ đau của chúng ta.

 

Phát triển tuệ trí là một tiến trình đưa tâm thức chúng ta phù hợp với cung cách mọi vật thật sự là.  Qua tiến trình này chúng ta dần dần loại trừ những nhận thức sai lầm về thực tại mà chúng ta đã từng có từ thời vô thỉ.  Việc này không dễ dàng.  Chỉ đơn thuần thấu hiểu ý nghĩa sự tồn tại cố hữu hay thực chất bên trong hay tự tánh của sự vật là gì đòi hỏi phải học tập và quán chiếu rất nhiều.  Việc nhận thức rằng mọi vật không có sự tồn tại cố hữu hay vô tự tánh là một tuệ giác thâm sâu, nó đòi hỏi hàng năm học hỏi và hành thiền.  Chúng ta phải bắt đầu bằng việc làm quen chính chúng ta với những khái niệm này, những điều chúng ta sẽ khám phá xa hơn sau này trong quyển sách này.  Tuy nhiên, ngay lúc này, chúng ta hãy trở lại khía cạnh phương pháp nhằm để khám phá ý niệm bi mẫn.

 

Tuesday, October 16, 2012  / 15:57:16

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25/04/2015(Xem: 14850)
Trong đời sống thường nhật, chúng ta gặp quá nhiều những tình huống, ảnh hưởng nhiều mặt, nào là sức khỏe, nhà cửa, con cái, vợ chồng, bạn bè, giao hảo v.v… khiến mình càng thêm âu lo, hoảng sợ. Điển hình là sức khỏe, khi mình còn khỏe thì ‘lo lắng’ tập ăn kiêng cữ, thể dục thể thao để giữ cho mình không bị tật bệnh.
24/04/2015(Xem: 18127)
Câu chuyện hai viên sỏi
24/04/2015(Xem: 12873)
Người có ý chí mạnh mẽ, luôn tìm được niềm hạnh phúc trong khó khăn. Đó chính là những người được gọi là “khốn nhi tri”, họ là những người luôn xem những khó khăn trở ngại trên đường đời, như những “món quà” quý giá của cuộc đời trao cho.
21/04/2015(Xem: 12411)
Tôi có quen với một gia đình, có thể nói là thuộc thành phần trí thức, bởi cha mẹ người bạn đều là nhà giáo, bản thân anh là kỹ sư và vợ là dược sĩ. Tuy vậy, không biết suy nghĩ thế nào, anh luôn tin vào các sách bày bán nhan nhản ngoài phố được cải biên, “làm đi, làm lại” mỗi năm như Lịch vạn niên, Xem ngày giờ, việc lành dữ trong năm và thường lên internet truy cập các trang chuyên hướng dẫn về ngày lành tháng tốt, cúng kiếng, xem tuổi kiết hung?
20/04/2015(Xem: 13440)
Ni Sư Thubten Chodron (thế danh Cherry Green), sinh năm 1950, lớn lên gần vùng Los Angeles. Ni sư hoàn thành Cử Nhân Lịch Sử tại Đại Học UCLA năm 1971. Sau khi du lịch qua Châu Âu, Bắc Phi và Châu Á trong khoảng một năm rưỡi, Ni sư trở về Mỹ, lấy chứng chỉ sư phạm, theo học chương trình sau đại học tại USC về Giáo Dục và dạy học ở Hệ Thống Các Trường tại thành phố Los Angeles. Năm 1975, Ni sư tham dự một khóa tu thiền của Ngài Lama Yeshe và ngài Zopa Rinpoche. Sau đó Ni sư qua Nepal tiếp tục tu học và hành thiền tại Tu Viện Kopan. Năm 1977, Ni sư được Ngài Kyabje Ling Rinpoche cho xuất gia tại Dharamsala, Ấn Độ, và năm 1986 Ni sư thọ đại giới tại Đài Loan…
19/04/2015(Xem: 9376)
Con người ta sống trên đời thường tự chuốc lấy khổ đau, phiền não nhiều hơn gấp bội phần cái khổ không đáng phải khổ của một thân chúng sanh, ấy là vì vọng tâm chấp ngã, chấp pháp.
18/04/2015(Xem: 24435)
Như một áng tinh vân bay qua bầu trời tăm tối Như một giọt nước trong lành giữa sa mạc cằn khô Như một đốm sáng lung linh trong đêm tối mộng hồ Người hiện giữa trần gian Như thực như chơn một Như Lai sứ giả Đã sương tuyết cao sơn Vẫn không mỏi mệt Đông Tây bươn bả Không cau mày giữa rừng cố chấp mê si Vũ khí của người chỉ có trí tuệ và từ bi Thắp ấm trái tim Mở rộng tấm lòng bao dung nhân thế Chỉ chừng ấy thôi Là tôi đã rưng rưng giọt lệ Kính thương người tuổi hạc đã cao Ân đức của người Sánh tựa trăng sao Tịch nhiên chiếu Vô nhân chiếu
18/04/2015(Xem: 16229)
Trong khi cả thế giới lựa chọn chỉ số GDP (Gross Domestic Products – Tổng sản phẩm quốc nội) làm thước đo thịnh vượng và phát triển, thì riêng tại đất nước này, chỉ số đó bị loại bỏ thay vào đó là GNH (Gross National Happiness- Tổng hạnh phúc quốc dân).
17/04/2015(Xem: 12546)
Mười lần như chục, hôm nào gặp bữa ăn trưa trong căng-tin có món xúc-xích là mấy người đồng nghiệp Đức của tôi hay nói đùa bằng một câu triết lý cà rởn rằng: trên đời này cái gì cũng có đầu có đuôi, có thủy có chung, duy chỉ cây xúc-xích là có hai đầu. Có ông nhạc sĩ người Đức Stephan Remmler còn viết ra một bài tình ca nổi tiếng theo tựa đề ấy là: Alles hat ein Ende nur die Wurst hat zwei. Câu nói vui, nói ra để cười với nhau. Xúc-xích là món ăn rất phổ biến của người Đức, to nhỏ đủ cỡ, có mặt mọi nơi, từ tiệm ăn tay cầm cho đến các món ăn nấu trong nhà hàng với nhiều gia vị khác nhau, với rau xanh, cải đỏ hay kèm bột cà ri, mù tạt v.v..
16/04/2015(Xem: 12926)
Nhân duyên đưa tôi đến với đạo Phật là từ ngày mẹ chồng lâm bệnh, sau khi bệnh viện trả về, mẹ được các thầy tụng kinh cầu nguyện nên ra đi rất nhẹ nhàng. Tang lễ và các tuần thất về sau cả nhà tôi đều tụng kinh niệm Phật cầu siêu cho mẹ, vào các ngày 14 và 30 thì lên chùa sám hối, nghe thầy trụ trì thuyết giảng. Từ đó tôi đã hiểu được Phật pháp và những điều hay lẽ phải cần thực hành trong đời sống hàng ngày. Sau này, mỗi tối tôi đều cố gắng thu xếp công việc để lên chùa tụng kinh, tôi thấy thân tâm mình an lạc vô cùng.