Chương 02: Thiền Tập - Sự Khởi Đầu

08/01/201919:10(Xem: 7166)
Chương 02: Thiền Tập - Sự Khởi Đầu

CHƯƠNG 2: THIỀN TẬP -  SỰ KHỞI ĐẦU

 

 

Thursday, September 27, 2012

 

TRONG CHƯƠNG NÀY, chúng ta khám phá những kỷ năng cho việc thay đổi tâm thức từ những thói quen để những cung cách đạo đức hơn.  Có hai phương pháp của thiền tập được sử dụng trong sự thực tập của chúng ta.  Một là, thiền phân tích[1], là phương tiện mà qua đấy chúng ta tự làm quen với những ý tưởng và thái độ tinh thần mới.  Thứ kia là thiền ổn định[2], tập trung tâm thức trên một đối tượng chọn lựa.

 

Mặc dù tất cả chúng ta tự nhiên thiết tha mong mõi được hạnh phúc và ao ước vượt thắng khổ não, nhưng chúng ta tiếp tục trải nghiệm đau đớn và khổ sở.  Tại sao là như thế?  Phật Giáo dạy rằng chúng ta thật sự được kết hợp lại trong những nguyên nhân và điều kiện và chúng đã tạo nên những sự bất hạnh của chúng ta, và thường không sẳn lòng dấn thân trong những hành vi có thể đưa đến niềm hạnh phúc bền lâu.  Việc này là như thế nào?  Trong cung cách thông thường của đời sống, chúng ta tự để bị khống chế bởi những tư tưởng và cảm xúc mạnh mẽ, những thứ rồi thi cho phát sinh các tình trạng tiêu cực của tâm thức.  Chính là do vòng lẩn quẩn  này mà chúng ta  làm tồn tại mãi mãi không chỉ sự bất hạnh cho chúng ta mà cũng cho những người khác.  Chúng ta phải xây dựng một lập trường để cải đổi những khuynh hướng này và thay thế chúng với những thói quen mới.  Như một cành tươi non ghép trên một thân cây cằn cổi cuối cùng hòa nhập đời sống với cây ấy và tạo nên một cây mới, chúng ta phải nuôi dưỡng khuynh hướng ấy bằng việc trau dồi một cách cẩn trọng những sự thực tập đạo đức.  Đây là ý nghĩa và đối tượng chân thật của thiền tập.

 

Quán chiếu về bản chất khổ não của đời sống, xem xét những phương pháp nhờ đó nỗi khổ của chúng ta có thể được đưa đến chỗ chấm dứt, là một hình thức của thiền tập.  Quyển sách này là một hình thức của thiền tập.  Tiến trình mà qua đó chúng ta chuyển  hóa thái độ bản năng hơn của chúng ta đối với đời sống, thể trạng ấy của tâm thức chỉ hài lòng sự khao khát và lẫn tránh sự không thoải mái, là ý nghĩa của những gì khi chúng ta sử dụng từ ngữ thiền tập.  Chúng ta có khuynh hướng bị khống chế bởi tâm thức chúng ta, tuân theo nó cùng với lối mòn vị kỷ của nó.  Thiền tập là một tiến trình mà nhờ đó chúng ta đạt được kiểm soát đối tâm thức và hướng dẫn nó trong một phương hướng đạo đức hơn.  Thiền tập có thể được nghĩ như một kỷ năng mà nhờ đó chúng ta giảm bớt năng lực của thói quen tư tưởng cũ và phát triển những thói quen tốt đẹp mới.  Nhờ thế, chúng ta bảo vệ chính mình khỏi dấn thân trong những hành vi của tâm ý, lời nói, hay thân thể đưa đến khổ não cho chúng ta.  Thiền tập như vậy được sử dụng một cách rộng rãi trong sự thực tập tâm linh của chúng ta.

 

Kỷ năng này không ở trong và của chính Phật Giáo.  Giống  như người nhạc sĩ rèn luyện đôi tay của họ, những vận động viên với sự uyển chuyển và kỷ năng của họ, nhà ngôn ngữ học với đôi tai của họ, nhà bác học với nhận thức của họ, vì thế chúng ta hướng đến tâm thức và trái tim của chúng ta.

 

Làm quen chính mình với những khía cạnh khác nhau của việc thực hành tâm linh do thế là một hình thức của thiền tập.  Chỉ đơn giản đọc qua một lần không có lợi lạc gì nhiều.  Nếu các bạn thích thú, thật hữu ích để quán chiếu những đề tài được đề cập, như chúng tôi đã đề cập ở chương trước với hành vi không đức hạnh về nói với vô nghĩa, và rồi nghiên cứu chúng một cách bao quát hơn để mở rộng sự thấu hiểu của chúng ta.  Càng khám phá chủ đề và chinh phục nó đến sự nghiên cứu kỷ lưỡng tinh thần, chúng ta càng thấu hiểu nó một cách sâu sắc hơn.    Điều này có thể cho phép chúng ta phán xét nó một cách có cơ sở vững chắc.  Nếu qua sự phân tích chúng ta minh chứng điều gì đó là vô giá trị, thế thì chúng ta đặt nó qua một bên.  Tuy nhiên, nếu chúng ta kiến lập điều gì đó một cách độc lập là đúng đắn, thế thì niềm tin của chúng ta trong chân lý ấy là một sự kiên cố đầy năng lực.  Toàn bộ tiến trình nghiên cứu và sự quan sát kỷ lưỡng này phải được nghĩ như là một hình thức của việc hành thiền.

 

Chính Đức Phật đã nói rằng, "Này các môn đệ và những người thông tuệ, đừng chấp nhận lời nói của ta chỉ đơn giản vì sự tôn kính.  Các con phải đưa chúng ra phân tích phê bình và chấp nhận chúng trên căn bản sự thấu hiểu của các con."  Tuyên bố nổi tiếng này có nhiều ngụ ý.  Rõ ràng Đức Phật đang nói với chúng ta rằng khi chúng ta đọc một bản văn chúng ta không nên chỉ dựa vào danh tiếng của tác giả nhưng đúng hơn là căn cứ vào nội dung của tác phẩm.  Và khi nắm bắt nội dung, chúng ta nên dựa trên vấn đề chủ đề và ý nghĩa hơn thể loại văn chương.  Khi liên hệ đến chủ đề, chúng ta nên dựa trên sự thấu hiểu kinh nghiệm hơn là trên sự nắm bắt thông minh.  Nói cách khác, chúng ta phải phát triển một cách căn bản hơn là chỉ đơn thuần trên kiến thức trừu tượng không thực tế của Giáo Pháp.  Chúng ta phải hợp nhất chân lý giáo huấn của Đức Phật vào trong chiều sâu của chính con người chúng ta, vì thế chúng trở thành được phản chiếu trong đời sống chúng ta.  Bi mẫn chỉ có giá trị nhỏ bé nếu nó tiếp tục vẫn là một ý tưởng.  Nó phải trở thành thái độ của chúng ta đối với người khác, phản chiếu trong tất cả mọi tư tưởng và hành vi.  Và khái niệm khiêm tốn đơn thuần không giảm thiểu tính kiêu căng của chúng ta; nó phải trở thành thể trạng thật sự của con người cũng như sự biểu hiện.

 

 

QUEN THUỘC VỚI CHỦ ĐỀ CHỌN LỰA

 

Tạng ngữ cho thiền tập là gom, có nghĩa là "làm quen thuộc".  Khi chúng ta sử dụng thiền trên con đường tâm linh, đấy là để làm quen thuộc chính mình với một đối tượng chọn lựa.  Chủ đề này không nhất là một vật thể vật lý chẳng hạn một hình tượng của Đức Phật hay Giê-su trên thánh giá.  "Đối tượng chọn lựa" có thể là một phẩm chất chẳng hạn như kiên nhẫn, là điều chúng ta thực hiện việc trau dồi bên trong chính chúng ta bởi phương tiện thiền quán chiếu.  Nó cũng có thể là chuyển động nhịp nhàng của hơi thở, là điều chúng ta thực hiện để làm tĩnh lặng tâm tư bất ổn của chúng ta.  Và nó cũng có thể chỉ là một phẩm chất của trong sáng và hiểu biết - tâm thức của chúng ta - bản chất của việc chúng ta tìm kiếm để thấu hiểu.  Tất cả những kỷ năng này được diễn tả trong chiều sâu của trang sách kế tiếp.  Bằng những phương tiện này kiến thức chúng ta về đối tượng lựa chọn được lớn mạnh.

 

Thí dụ, khi chúng ta tìm kiếm một loại xe hơi để mua, đọc ưu và khuyết của những hảng xe khác nhau, chúng ta phát triển một cảm nhận về những phẩm chất của một sự chọn lựa đặc thù.  Bằng việc quán chiếu những phẩm chất này, sự đánh giá của chúng ta về chiếc xe này sâu sắc hơn, với mong muốn sở hữu nó.  Chúng ta có thể trau dồi những đức hạnh chẳng hạn như kiên nhẫn và bao dung trong cùng cách rất giống như thế.  Chúng ta cũng làm thế bằng việc quán chiếu những phẩm chất đã cấu thành sự kiên nhẫn, sự hòa bình của tâm thức phát sinh trong chúng ta, môi trường hòa hiệp được tạo nên như một kết quả của nó, sự tôn trọng nó đem lại trong những người khác.  Chúng ta cũng hành động để nhận ra những hạn chế của sự thiếu kiên nhẫn, sự giận dữ và thiếu bao dung chúng ta khổ sở trong ấy, sự sợ hãi và thù địch nó mang đến những người chung quanh chúng ta. Bằng việc thực hành một cách cần mẫn theo những dòng tư tưởng này, sự kiên nhẫn của chúng ta tiến bộ một cách tự động, tăng trưởng mạnh hơn và mạnh hơn, ngày qua ngày, tháng qua tháng, và năm này qua năm khác.  Tiến trình thuần hóa tâm thức là một tiến trình lâu dài.  Tuy nhiên, một khi chúng ta đã làm chủ sự kiên nhẫn, niềm hoan hỉ xuất phát từ đấy tồn tại lâu hơn bất cứ niềm vui nào có được từ chiếc xe hơi ta mua được.

 

Chúng ta thật sự dấn thân trong việc hành thiền như thế rất thường xảy ra trong đời sống hằng ngày của chúng ta.  Chúng ta đặc biệt làm lớn mạnh rất tốt một cách quen thuộc đối với những khuynh hướng bất thiện!  Khi không hài lòng với người nào đó, chúng ta có thể quán chiếu đến lỗi lầm của người đó và phát sinh một niềm tin chắc chắn về bản chất đáng nghi ngờ của người đó.  Tâm thức chúng ta tiếp tục duy trì sự tập trung trên 'đối tượng' trong việc hành thiền của chúng ta, và sự quán chiếu của chúng ta cho người đó do thế gia tăng mãnh liệt.  Chúng ta cũng quán chiếu và phát triển sự quen thuộc với những đối tượng chọn lựa  khi chúng ta tập trung trên sự việc nào đó hay người nào đó mà chúng ta yêu thích. Rất ít sự khích động cần đến để duy trì sự tập trung của chúng ta.  Thật khó khăn hơn để duy trì tập trung khi chúng ta trau dồi đạo đức.  Đây là một biểu hiện chắc chắn của vấn đề những cảm xúc của luyến ái và tham dục tràn ngập như thế nào!

 

Có nhiều loại thiền tập.  Có một số loại không đòi hỏi nghi thức hay một tư thế đặc thù nào.  Chúng ta có thể hành thiền trong khi lái xe hay đi bộ, trên xe buýt hay xe lửa, và ngay cả trong khi tắm rửa.  Nếu chúng ta nguyện ước dành một thời gian đặc thù nào đó cho việc thực thành tập trung tâm linh, thật lợi ích để áp dụng vào buổi sáng sớm cho một buổi hành thiền nghi thức, thời gian mà tâm thức tỉnh táo và trong sáng nhất.  Thật lợi ích để ngồi trong một môi trường tĩnh lặng với lưng thẳng, vì nó giúp chúng ta duy trì sự tập trung.  Tuy nhiên, thật quan trọng để nhớ rằng chúng chúng ta phải trau dồi những thói quen đạo đức tinh thần bất cứ khi nào và bất cứ nơi nào có thể.  Không thể giới hạn việc hành thiền trong những buổi thiền nghi thức.

 

 

THIỀN PHÂN TÍCH

 

Như tôi đã nói, có hai loại thiền tập được sử dụng trong quán chiếu và tiếp thu những chủ đề tôi thảo luận trong quyển sách này.  Thứ nhất, có thiền phân tích.  Trong hình thức thiền này, việc làm quen với một đối tượng chọn lựa - thí dụ như chiếc xe ta mong muốn hay lòng từ bi hay kiên nhẫn chúng ta mong cầu phát sinh - được trau dồi qua tiến trình phân tích dựa trên lý trí.  Ở đây, chúng ta không chỉ tập trung trên một chủ đề.  Đúng hơn, chúng ta đang trau dồi một cảm nhận gần gũi hay thấu cảm với chủ đề chọn lựa bằng việc áp dụng một cách cần mẫn khả năng quả quyết của chúng ta.  Đây là hình thức của thiền quán tôi sẽ nhấn mạnh khi chúng ta khám phá những chủ đề khác nhau và cần được trau dồi trong sự thực tập tâm linh.  Một số chủ đề này là đặc biệt đối với một sự thực tập của Phật tử, một số thì không.  Tuy nhiên, một khi chúng ta đã phát triển sự quen thuộc với một chủ đề bằng phương tiện của sự phân tích như vậy, thật quan trọng để sau đó duy trì tập trung trên nó bằng phương tiện thiền ổn định nhằm để giúp nó thâm nhập một cách sâu sắc hơn.

 

 

THIỀN ỔN ĐỊNH

 

Loại thứ hai là thiền ổn định.  Việc này xảy ra khi chúng ta an trụ tâm thức trên một đối tượng chọn  lựa mà không tiến hành phân tích hay suy tư.  Khi hành thiền trên bi mẫn, thí dụ thế, chúng ta ta phát triển sự thấu cảm cho người khác và hoạt động trong việc nhận ra nổi khổ não mà họ trải nghiệm.  Điều này chúng ta thực hiện bằng phương tiện của thiền phân tích.  Tuy nhiên, một khi chúng ta có một cảm nhận bi mẫn trong trái tim của chúng ta, một khi chúng ta thấy rằng thiền tập đã thay đổi một cách tích cực thái độ của chúng ta đối với người khác, chúng ta an trụ trên cảm nhận ấy, mà không đi vào suy tư.  Điều này giúp làm sâu sắc hơn sự bi mẫn của chúng ta.  Khi chúng ta cảm thấy rằng cảm nhận bi mẫn của chúng ta bị yếu đi, chúng ta có thể tiến hành lại trong thiền phân tích để đem lại sức sống cho sự thông cảm và quan tâm trước khi trở lại thiền ổn định. 

 

Khi chúng ta trở nên thuần thục hơn, chúng ta có thể khéo léo hoán chuyển giữa hai loại thiền tập nhằm để tẳng cường phẩm chất mong muốn.  Trong Chương 11, "Nhất Tâm Bất Loạn", chúng tôi sẽ thẩm tra kỷ năng của việc phát triển thiền ổn định đến điểm mà chúng ta có thể duy trì tập trung nhất niệm trên chủ đề thiền tập bao lâu tùy chúng ta muốn.  Như tôi đã nói, "chủ đề thiền tập" này không nhất thiết là điều gì đấy chúng ta có thể "thấy".  Trong một ý nghĩa, chúng ta hợp nhất tâm thức với chủ đề nhằm để trau dồi một sự quen thuộc với nó.  Thiền ổn định, giống như những hình thức khác của thiền tập, không phải vốn là đạo đức trong bản chất.  Đúng hơn, nó là đối tượng chúng ta tập trung và động cơ thúc đẩy điều mà chúng ta tiến hành trong sự thực tập quyết định phẩm chất tâm linh trong sự thiền tập của chúng ta.  Nếu tâm thức chúng ta tập trung vào lòng bi mẫn, việc hành thiền là đạo đức.  Nếu nó được đặt vào sự giận dữ, thì nó không phải đạo đức.

 

Chúng ta phải hành thiền trong luồng thái độ, việc trau dồi sự quen thuộc với một đối tượng được chọn lựa dần dần.  Việc học hỏi và lắng nghe với một vị thầy phẩm hạnh là một bộ phận quan của tiến trình này.  Sau đó chúng ta quán chiếu những gì chúng ta đã  đọc hay nghe, nghiên cứu cẩn thận nó để loại trừ bất cứ sự rối rắm, nhận thức sai lầm, hay nghi ngờ nào chúng ta có thể có.  Tiến trình này tự nó giúp tác động tâm thức.  Rồi thì, khi chúng ta tập trung trên đối tượng của chúng ta một cách nhất  niệm, tâm thức chúng ta trở nên hợp nhất với nó trong một thái độ mong muốn.

 

Thật quan trọng là trước khi chúng ta hành thiền trên những khía cạnh vi tế hơn của triết lý Phật Giáo, chúng ta có thể giữ tâm thức chúng ta tập trung trên những chủ đề đơn giản hơn.  Việc này giúp chúng ta phát triên khả năng phân tích và duy trì tập trung nhất niệm trên những chủ đề vi tế chẳng hạn như sự đối trị đối với tất cả những sự khổ não của chúng ta, đấy là tánh không của sự tồn tại cố  hữu (vô tự tánh).

 

Hành trình tâm linh của chúng ta là một hành trình dài.  Chúng ta phải lựa chọn con đường chúng ta một cách cẩn trọng, bảo đảm rằng nó bao hàm tất cả những phương pháp đưa chúng ta đến mục tiêu mong ước.  Có những lúc hành trình là gian khó.  Chúng ta phải biết điều chỉnh tốc độ chậm như sên trong việc quán chiếu sâu sắc trong khi cũng bảo đảm rằng chúng ta không quên những vấn nạn của hàng xóm chúng ta hay những con cá bơi lội trong những đại dương ô nhiễm hàng nghìn dặm xa nơi nào ấy.

 

Saturday, October 13, 2012 / 20:01:41


 




[1]Thiền phân tích: quán, thiền quán, tuệ minh sát, liễu biệt thiền.

[2]Thiền ổn định: chỉ, thiền định, thiền tập trung, tam muội thiền.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/12/2020(Xem: 11886)
Nữ nghệ sĩ Phật tử Jacques Marchais sinh năm 1887 tại Cincinnati, thành phố ở miền tây nam Ohio, Hoa Kỳ. Thân phụ của bà là cụ ông John Coblentz và mẫu thân là cụ bà Margaret Norman Coblentz. Vốn mồ côi cha từ thuở ấu thơ, mẹ phải vất vả đùm bộc trong cảnh gà mái nuôi con; Jacques Marchais đã đến các trại mồ côi và các mái ấm khác nhau trong suốt thời thơ ấu, và tuổi thanh xuân 16, bà đã trở thành diễn viên tham gia vào một bộ phim Boston Peggy From Paris, nơi bà gặp người chồng đầu tiên Brookings Montgomery. Bà sinh được ba người con, hai gái Edna May và Jayne, và con trai, Brookings.
08/12/2020(Xem: 23159)
29/ Nhị Tổ Huệ Khả Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng giảng từ 6.45am, Thứ Năm, 01/10/2020 (15/08/Canh Tý) 🌺🍀💐🌼🌹🥀🌷🌸🏵️🌻🌺🍀💐🌼🌹🥀🌷🌸🏵️🌻 Bổn lai duyên hữu địa, Nhơn địa chúng hoa sanh, Bổn lai vô hữu chủng, Hoa diệc bất tằng sanh. Xưa nay nhơn có đất, Bởi đất giống hoa sanh, Xưa nay không có giống, Hoa cũng chẳng từng sanh Nam Mô Đệ Nhị Tổ Huệ Khả Tôn Sư 💐🌹🥀🌷🌷🌸🏵️🌻🌼 Múi giờ : pháp thoại mỗi ngày của TT Trụ Trì Thích Nguyên Tạng (trong thời gian cách ly vì đại dịch Covid-19) về chư vị Tổ Sư Ấn Độ, Trung Hoa, Việt Nam…) - 06: 45am (giờ Melbourne, Australia) - 01:45pm (giờ Cali, USA) - 04:45pm (giờ Montreal, Canada) - 10:45pm (giờ Paris, France) - 03:45am (giờ Saigon, Vietnam) 💐🌹🥀🌷🌷🌸🏵️🌻🌼💮🍂🍁🌾🌱🌿🍃 https://www.facebook.com/quangducwebsite
07/12/2020(Xem: 10313)
Cư sĩ Giuseppe Tucci (dʒuˈzɛppe ˈtuttʃi; sinh ngày 5 tháng 6 năm 1894 – mất ngày 5 tháng 4 năm 1984), Học giả tiên phong người Ý, nhà Đông phương học, Ấn Độ học, Đông Á học, người đã xuất bản một số sách, mở đầu cho việc nghiên cứu tôn giáo, lịch sử và văn hóa của Tây Tạng. Ông là một trong những học giả Tây phương đầu tiên du hành một cách rộng rãi trên khắp vùng cao nguyên, Phật giáo Kim Cương thừa Tây Tạng và các vùng phụ cận, những sách xuất bản của ông thường nổi tiếng về cả nội dung lẫn sự phiêu lưu mạo hiểm của ông trong khi làm nghiên cứu.
06/12/2020(Xem: 9881)
Đạo phật ngày nay đang xuyễn dương lối sinh hoạt của người con Phật là sống an nhiên tự tại trong hiện tiền. Lối sống được mọi người noi theo là tĩnh thức và hiện tại. Làm sao đạt được điều ấy? Và tại sao sống tĩnh thức và hiện tiền là chấm dứt khổ đau? Trong khi theo Phật dạy Tứ diệu đế thì tu tập diệt tận cùng lậu hoặc diệt khổ đau. Sống tĩnh thức là theo 4 y của Phật dạy: y pháp bất y nhân. Y nghĩa bất y ngữ. Y trí bất y thức. Y kinh liễu nghĩa bất y kinh bất liễu nghĩa. Sống hiện tiền là sống trong thiền định.
02/12/2020(Xem: 11836)
Bà Thái Việt Phan, người vừa được bầu vào Hội đồng Thành phố Santa Ana, đã sửng sốt khi nhận được thư cảnh báo từ từ ngôi già lam tự viện Phật giáo mà bà từng lui tới. Chùa Hương Tích đã bị xịt sơn và cảnh sát Thành phố Santa Ana đã coi đây là một tội ác gây ra bởi sự thù địch. Đây là ngôi tự viện Phật giáo thứ sáu bị xịt sơn trong khu vực chỉ trong tháng vừa qua.
02/12/2020(Xem: 13105)
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật - Trong tâm tình: ''Lắng nghe để hiểu- Nhìn lại để thương'', chúng con, chúng tôi đã thực hiện một buổi phát quà cứu đói cho 294 hộ tại 2 ngôi làng nghèo có tên là Dugarpur & Amobha cách Bồ Đề Đạo Tràng chừng 8 cây số. Xin mời quí vị hảo tâm xem qua một vài hình ảnh tường trình.. Thành phần quà tặng cho mỗi hộ gồm có: 1 tấm Saree, 10 ký Gạo và bột Chapati, đường, muối dầu ăn và bánh ngọt cho trẻ em, kèm với 200Rupees tiền mặt để mua thêm gạo cho từng hộ GD.(Bên cạnh đó là những phần phụ phí như mướn xe chở hàng, tiền công đóng gói và công thợ khuân vác, tiền quà cho những người bảo vệ và sắp xếp trật tự tại nơi phát chẩn.)
01/12/2020(Xem: 11309)
Cư sĩ Keith Dowman sinh năm 1945, gốc người Anh, tinh hoa Phật giáo, một vị giáo thụ giảng dạy Thiền Đại Viên Mãn (Dzogchen; 大圓滿), theo truyền thống Ninh Mã, Phật giáo Kim Cương thừa, Mật tông Tây Tạng, dịch giả các kinh điển Phật giáo Tây Tạng. Cư sĩ Keith Dowman đang cư ngụ tại Kathmandu, Nepal, nơi ông đã sống trong 25 năm. Các bản dịch của ông từ tiếng Tây Tạng.
30/11/2020(Xem: 8340)
“Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy Ta có thêm ngày nữa để yêu thương” Cảm ơn vì sáng nay tôi còn nghe được tiếng nói, tiếng cười của người thân, bạn bè. Nhìn xuyên qua khe cửa, lá trên cây đã bắt đầu đổi màu, biến những hàng cây xanh ngày nào thành một bức tranh hỗn hợp nhiều sắc màu. Vài cơn gió lành lạnh lại bắt đầu thổi về mang theo bao hồi ức vui buồn lẫn lộn. Tôi lặng lẽ ngồi đây như ngồi giữa thiên đường của thời xa xưa ấy. Tôi luôn biết ơn sâu sắc đến quý Phật tử xa gần đã hỗ trợ và đồng hành cho NVNY trong suốt chặng đường 5 năm qua. Nhất là những thiên thần đáng yêu tại Las Vegas, sớm hôm luôn bay về nâng đỡ cho Ni Viện khi cần. Năm 5 về trước, lần thứ tư tôi đặt chân đến đất nước xinh đẹp vĩ đại này. Tôi tận hưởng vẻ đẹp của những cánh đồng bất tận, nơi an nghỉ của ánh sáng mặt trời, nơi các đóa hoa tỏa hương thơm vào không gian; và tôi khám phá các ngọn núi tuyết cao sừng sững hiên ngang giữa trời đất, ở đó tôi tìm thấy sự thức giấc tươi mát của mùa Xuân, lòng kh
29/11/2020(Xem: 16798)
Cư sĩ Rob Nairn, vị Luật sư, Thẩm phán Trẻ tuổi nhất tại Rhodesia, Giáo sư Phật học uyên thâm, tác giả, nhà nghiên cứu dân số. Ông sinh ra và lớn lên tại Rhodesia. Ông là môn đồ của Phật giáo Kim Cương Thừa Mật tông Tây Tạng, thuộc dòng truyền thừa Karma Kagyu. Cư sĩ Rob Nairn, người đại diện cho Hòa thượng Tiến sĩ Akong Rinpoche tại Châu Phi (Chöje Akong Tulku Rinpoche,1939-2013, người sáng lập Tu viện Samye Ling Scotland), với trách nhiệm giảng dạy 11 Trung tâm Phật học tại bốn quốc gia Châu Phi. Mục tiêu của ông là giảng dạy thiền và Phật giáo Tây Tạng cho tất cả những ai yêu mến đạo Phật, cũng như ở cấp độ đại học và hậu đại học ở các quốc gia như Vương quốc Anh, Ireland, Châu Phi và Hoa Kỳ thông qua các trường Đại học và các Trung tâm Phật học.
28/11/2020(Xem: 9310)
Chàng vẫn thường chê tôi, chỉ giỏi phân tích sự kiện chứ không có đầu óc tổng hợp. Được rồi! Hôm nay tôi sẽ tổng hợp tất cả các bài Pháp của các Vị nói về đề tài nóng bỏng đang thiêu đốt các dân cư mạng, chỉ một bài hát thôi mà số người lướt sóng lên đến hàng chục triệu lần. Chẳng là gì cả, chỉ câu truyện tình liên quan đến chốn Thiền Môn, chàng là ông Thầy Tu, nàng là cô Quận Chúa. Thuở bé nàng vẫn thường theo cha đến Chùa, Tể tướng thì đàm đạo với Đại Hòa Thượng, tiểu thư "nhí" chơi đùa với "tiểu" Hòa Thượng, hay mua kẹo Hồ Lô tặng chú tiểu, cũng một loại "Tình yêu đi qua bao tử". Thế rồi thời gian thấm thoát thoi đưa, sau mười năm cặp đôi này trở thành một đôi trai thanh gái tú. Nàng đòi ở luôn trong Chùa, nhất định không chịu về, Chàng Thầy tu phải đuổi về vì phạm giới luật của một Chùa Tăng. Thế là Nàng ra đi để rồi mất dấu chân chim, một thời gian sau nghe tin Nàng tự vẫn vì bị tên Thái Tử háo sắc làm nhục.