Giá Trị Của Khổ Đau

06/08/201819:48(Xem: 9776)
Giá Trị Của Khổ Đau
GIÁ TRỊ CỦA KHỔ ĐAU
 kho-dau
Quang Minh

Khổ đau là điều ai cũng muốn tránh trong cuộc sống, không ai mà muốn bất hạnh xảy ra đối với mình. Nhưng cuộc đời là những bước thăng trầm của tâm hồn, là con đường chông chênh nhiều lúc nhiều hầm hố. Chỉ những người khi ngã mà không nản chí quyết tâm bước dậy đi tiếp mới là đáng trân quý biết bao. Và mỗi lần vấp ngã trong cái của khổ đau lại cho ta nhiều bài học về kinh nghiệm sâu sắc mà không ở đâu có được.

Có bao giờ bạn tuyệt vọng rơi vào trạng thái ưu tư khổ não về một vấn đề nào đó trong cuộc sống bất như ý đến với bạn? Câu trả lời là trong cuộc đời không thể tránh khỏi những phút giây phiền não do những bất như ý đem lại. Vì vô thường nên không gì có thể lường trước đước, vì vô thường nên không thể biết được, ngờ được, tránh được. Khi những bất như ý đến với ta thì theo tâm lý ta đón nhận nó có thể trong ba cách sau:
- Thứ nhất, khổ đau phiền muộn vì nó và buông xuôi mọi thứ, không chịu tìm cách khắc phục cố gắng vượt qua, không chịu bước dậy đi tiếp, và đó là con đường đưa tới sự bất hạnh và khổ đau, sự chán chường và phiền não, sự tối tăm trong tâm hồn cô quạnh, sự bất hạnh của cuộc đời đeo mang.
- Thứ hai, tuy khổ đau ưu sầu, nhưng vẫn tìm cách khắc phục, tìm cách giải quyết, coi đó là bài học là kinh nghiệm trong cuộc đời. Đó là gía trị tâm hồn của con người đầy nghị lực và nhiệt huyết, đầy dũng cảm và lý trí. Tuy chưa làm chủ được cảm xúc khổ não, nhưng không để cảm xúc khổ não kéo đi trong số mệnh vô thường của cuộc sống.
- Thứ ba, chấp nhận nó như một phần tất yếu của cuộc sống, buông xả đi mọi ưu tư phiền muộn, dũng cảm đối mặt với nỗi khổ đau, nhìn nhận nó trong nhiều mặt của vấn đề. Và nhận ra cái gì cũng có hai mặt tốt và xấu. tích cực và tiêu cực cả. 
Giá trị của khổ đau chính là nằm ở chỗ chỉ có khổ đau mới biết được hạnh phúc là gì. Nhiều lúc mình đang sống trong cảnh sung sướng nhưng quá quen quá nhàn với nó nên mình không trân trong nó, không quý nó. Chỉ đến khi mất đi mình mới thấy nó thật có giá trị, thật là hạnh phúc, thật là vui vẻ. Ví như không khí, ta hít thở hằng ngày nên coi đó là bình thường, chỉ khi nào tới nơi không khí ô nhiễm hay nơi không có không khí thì ta mới biết trân quý không khí mà thôi. Hay như bạn bè thân thiết, quen biết quan hệ tốt với nhau thời gian nhưng nhiều lúc chỉ một vấn đề nhỏ nào đó không vừa lòng liền thôi không còn tình bạn gì nữa. Đến khi đó có lúc ta chợt nhận ra, lỗi có khi do ta hay cũng có khi do bạn nhưng lỗi đó có đáng để ta mất đi một người bạn hay không? Để từ đó ta mới biết được sự nặng nhẹ mà cân nhắc làm cho đúng. Và trân quý phút giây bên nhau, vì có khi như sương sớm buổi ban mai, vô thường vẫy gọi người đi đâu rồi, mất mát chết chóc bất ngờ, có khi đâu tránh được những thời phân ly. Ai đâu thể biết chữ Ngờ, nên đâu thể tránh đâu thể lường được đâu... 
Giá trị của khổ đau là nằm ở chỗ đó là nhờ khổ đau vấp ngã mới thu nhận những kinh nghiệm sâu sắc của cuộc đời, như đứa bé muốn đi thì phải qua bao lần vấp ngã mới đi lại được, chính giá trị của vấp ngã cho đứa bé biết nên làm gì, biết làm gì để giữ cân bằng lúc đi lại. Và làm bất cứ việc gì cũng vậy, chỉ có vấp ngã mới cho ta bài học kinh nghiệm để tiếp tục con đường và hành trình ta đang đi thêm trọn vẹn. 
Giá trị của khổ đau làm cho con tâm hồn ta ngày thêm vững chãi, ổn định tâm ta giữa sóng gió cuộc đời, nên người càng trưởng thành thì càng điềm tĩnh, và trưởng thành có được thông qua kinh nghiệm và kinh nghiệm là những gì đúc kết của bao lần vấp ngã rút ra. 
Nói đến khổ đau, chúng ta thường có ác cảm với nó, nhưng giá trị đức độ của người biết sống, biết tu nằm ở chỗ là trong khổ đau mà không bị khổ đau ràng buộc, níu kéo, chìm đắm, trôi lăn trong vô định tâm thức phiền não. Biết lấy khổ đau làm phương tiện tu hành, hành trì để biết tâm mình tới đâu, lòng mình thế nào, chí mình ra sao. Chỉ có khổ đau và vượt qua khổ đau mới nâng tâm hồn con người trí tuệ, đạo đức lên nấc thang cao thượng mà thôi. Vì trong cái ổn định nào biết ta tu thế nào, tu ra sao, sống tốt hay không. Ví như tâm ta muốn biết sân thế nào, có nhiều có lớn hay không thì ta phải thể nghiệm nó thông qua khổ đau của cuộc đời này mà khi khổ đau không khởi tâm sân hận, khi bị chửi mắng mà tâm không theo đó mà động loạn sân si thì đó là ta biết ta đang tu có tiến bộ, là tốt...Nếu tâm chưa an chưa tĩnh mà còn sân si thì ta biết ta tu tập chưa tốt chưa tiến bộ. Vậy hãy lấy khổ làm thầy mà thể nghiệm tu hành trong tâm. Chỉ có tâm thanh tịnh giữa biến động vô thường của khổ đau phiền não thì đó là sự giải thoát thật sự của tâm hồn thanh cao. Và đánh giá một con người thì hãy nhìn cách mà người đó khi gặp chuyện, gặp phiền não mà hành xử ra sao thì khi đó mới biết được bản chất người đó như thế nào, cũng như nhìn nhận bản thân ta, tu tập thế nào cũng chỉ có khổ đau là thước đo tốt nhất. Hãy nhìn khổ đau như phần tất yếu cuộc sống, biết nó và hãy vượt qua nó và làm chủ được nó, khi đó mới là người biết sống, người tu chân chính. 

 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/02/2021(Xem: 11398)
Hình ảnh con trâu tượng trưng cho tâm ý của chúng sinh. Mỗi người ai cũng đều có một con “trâu tâm" của riêng mình. Và cứ như thế pháp chăn trâu được nhiều người sử dụng, vừa tự mình chăn vừa dạy kẻ khác chăn. Vào cuối thế kỷ mười ba, thời nhà Trần, trong THIỀN MÔN VIÊT NAM xuất hiện một nhân vật kiệt xuất. Đó là Tuệ Trung Thượng Sĩ tên thật là Trần Tung, ông là một thiền sư đắc đạo. Ông là người hướng dẫn vua Trần Nhân Tông vào cửa Thiền và có nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng của vị vua sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử này.
08/02/2021(Xem: 10106)
Sau khi đạt được Giác ngộ, Đức Phật nêu lên Bốn Sự Thật và sự thật thứ nhất là "Khổ đau". Khổ đau ẩn chứa trong thân xác, bàng bạc trong tâm thức của mỗi cá thể con người và bùng ra cùng khắp trong thế giới: bịnh tật, hận thù, ích kỷ, lường gạt, đại dịch, bom đạn, chiến tranh... Sự thật đó, khổ đau mang tính cách hiện sinh đó, thuộc bản chất của sự sống, gắn liền với sự vận hành của thế giới. Sự thật về khổ đau không phải là một "phán lệnh" hay một cái "đế", cũng không mang tính cách "kỳ diệu" gì cả, mà chỉ là một sự thật trần trụi, phản ảnh một khía cạnh vận hành của hiện thực.
07/02/2021(Xem: 11556)
Nhà thiền có danh từ Tọa Xuân Phong để diễn tả hạnh phúc khi thầy trò, đồng môn, được ngồi yên với nhau, không cần làm gì, nói gì mà như đang cho nhau rất đầy, rất đẹp. Danh từ đó, tạm dịch là “Ngồi Giữa Gió Xuân” Mùa Xuân chẳng phải là mùa tiêu biểu cho những gì hạnh phúc nhất trong bốn mùa ư? Hạ vàng nắng cháy, vui chơi hối hả như đàn ve sầu ca hát suốt mùa để cuối mùa kiệt lực! Thu êm ả hơn, nhưng nhìn mây xám giăng ngang, lá vàng lả tả, tâm- động nào mà không bùi ngùi tưởng tới kiếp nhân sinh?
07/02/2021(Xem: 9865)
Chú mục đồng chậm rãi bước xuống sông. Bên cạnh chú, con trâu lớn nhất đàn ngoan ngoãn xuống theo. Đôi mắt hiền lành của nó nhìn chú như mỉm cười, tin tưởng và thuần phục. Những con trâu bé hơn lại nhìn bước đi vững chãi, an lạc của con trâu đầu đàn mà nối nhau, cùng thong thả qua sông. Đây là khúc sông cạn mà chú đã dọ dẫm kỹ lắm. Đáy sông lại không có những đá nhọn lởm chởm có thể làm chân trâu bị thương. Bên kia sông, qua khu rừng có những cội bồ đề râm mát là tới đồng cỏ rộng. Mùa này, sau những cơn mưa, cỏ non vươn lên xanh mướt, đàn trâu gồm bẩy con mà chú có bổn phận chăm sóc tha hồ ăn uống no nê sau những giờ cực nhọc cầy bừa ngoài đồng lúa.
07/02/2021(Xem: 14349)
Khi những cơn bảo và áp thấp nhiệt đới hung hãn nhất vừa tạm qua đi, khí trời phương Nam cũng trở buồn se lạnh. Nhiều người cho đó là hoàn lưu của những cơn bão miền Trung mà tất cả con dân “bầu bí chung dàn” vẫn còn đang hướng về chia sẻ, nhưng ít người nhận ra rằng đó chính là cái se lạnh của mùa đông phương Nam, báo hiệu mùa xuân sắp đến nơi ngưỡng cửa của bộn bề lo toan hằng năm.
06/02/2021(Xem: 15427)
Mười bức “Tranh Chăn Trâu” trong phần này là của họa sư Nhật Bản Gyokusei Jikihara Sensei, vẽ vào năm 1982 nhân một cuộc thăm viếng thiền viện Zen Mountain Monastery ở Mount Tremper, New York, (Hoa Kỳ). Họa sư vẽ để tặng thiền viện. Các bài thơ tụng thời nguyên gốc của thiền sư Quách Am viết vào thế kỷ thứ 12. Thơ tụng được chuyển dịch ở đây bởi Kazuaki Tanahashi và John Daido Loori, sau đó được nhuận sắc bởi Daido Loori để mong tạo lập ra những hình ảnh và ẩn dụ cho thêm giống với phong cảnh núi sông ở quanh thiền viện Zen Mountain Monastery. Thiền sư Daido Loori là người lãnh đạo tinh thần và là tu viện trưởng của thiền viện này.
04/02/2021(Xem: 14244)
Hôm qua mình có giới thiệu cuốn sách Buddhism in America (Phật Giáo Mỹ) của Richard Hughes Seager. Có bạn hỏi thêm muốn tìm hiểu Phật Giáo Mỹ nên nhờ mình giới thiệu vài cuốn. Nghĩ rằng đây là câu hỏi hay nên mình xin viết giới thiệu 7 cuốn sách để nhiều người lợi lạc. 1. Cuốn The Faces of Buddhism in America (Diện Mạo của Phật Giáo ở Mỹ) do Charles Prebish 2. Buddhist Faith in America (Đức Tin Phật Giáo ở Mỹ) tác giả Michael Burgan 3. Buddhism in America của Richard Huges Seager (1999, tái bản 2012) 4. Buddhism in America của Scott Mitchell 5. Altered Traits: Science Reveals How Meditation Changes Your Mind, Brain, and Body, 2017 6. A Mindful Nation: How a Simple Practice Can Help Us Reduce Stress, Improve Performance, and Recapture the American Spirit, 2012, 7: American Dharma: Buddhism Beyond Modernity
01/02/2021(Xem: 11301)
Tại các nước nông nghiệp hình ảnh con trâu với đứa trẻ chăn trâu ngồi trên lưng trâu thổi sáo là một hình ảnh quen thuộc thường gắn liền với đời sống của người dân. Tại Việt Nam, từ lâu hình ảnh này đã đi vào tâm thức mọi người và không chỉ có giá trị trong đời sống lao động thực tiễn mà còn nghiễm nhiên đi vào lãnh vực văn học nghệ thuật nữa. Trong văn học Phật giáo nói chung và văn học Thiền tông nói riêng thời hình ảnh con trâu với trẻ mục đồng đã trở thành thi liệu, biểu tượng, thủ pháp nghệ thuật. Những hình ảnh này hiển hiện trong truyền thống kinh điển cũng như được đề cập đến nhiều lần trong những thời pháp của đức Phật khi Ngài còn tại thế.
01/02/2021(Xem: 20633)
Vào thời thái cổ, theo truyền thuyết Đế Minh là cháu bốn đời của vua Thần Nông đi tuần thú phương Nam đến núi Ngủ Lĩnh ( nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung quốc ). Vua Đế Minh đã dừng chân tại nơi nầy, ngài cưới Vu Tiên nữ con vua Động Đình Hồ làm vợ. Đế Minh sinh được một trai tư chất thông minh ngài đặt tên Lộc Tục. Vào năm 2879 trước tây lịch ( khoảng thế kỷ thứ 7 TCN ) Đế Minh phong cho con làm vua ở phương Nam. Lộc Tục lên ngôi xưng đế hiệu Kinh Dương Vương đặt tên nước là Xích Quỷ ngài đóng đô tại Phong châu.
01/02/2021(Xem: 11131)
Kinh Phật đầu tiên là kinh Hoa Nghiêm, kinh Phật cuối cùng là kinh Đại Bát Niết Bàn. Chúng ta học hai kinh nầy để nắm trọn lịch trình của đạo Phật. Kinh Đại Bát Niết Bàn thường gọi là Niết Bàn là kinh vừa kể lại lịch sử đức Phật trước khi nhập diệt vừa là kinh nói về lời giáo huấn cuối cùng của ngài. Vừa tâm lý tình cảm vừa là lời nhắn nhủ sau cùng của Phật cho đạo tràng như người cha trăn trối cho con tiếp tục theo đường đi của ngài. Đời thế gian của Đức Phật khi sinh ra vì bào thai to lớn quá phải giải phẩu bụng của mẹ ngài nên mất máu mà mất sớm, ngài sống qua sự nuôi dưỡng của người dì em của mẹ.