Chùa Nhỏ Miền Quê

28/07/201818:34(Xem: 9490)
Chùa Nhỏ Miền Quê

CHÙA NHỎ MIỀN QUÊ

 Chua-nho-mien-que-01

 

Tôi đứng lặng im trước bức thư pháp đề thơ lộng khung kính treo trên vách của ngôi điện im ắng. Thư pháp của chính Thầy trú trì. 
Thi phẩm bất hủ của Trương Kế, đã được truyền tụng nhiều đời, đưa tiếng chuông của một ngôi chùa ngân vọng giữa thinh không, rung động xuyên suốt cả không gian và thời gian, khiến cho nhân tâm đang lăng xăng phóng túng phải quay về với thinh thinh lắng đọng.
Chua-nho-mien-que-16

PHONG KIỀU DẠ BẠC
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Bản dịch của Tản Đà:
Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

Tôi đang có mặt ở chùa Tịnh Quang rồi. Một ngôi chùa có dáng vóc khiêm cung ở vùng thôn quê mộc mạc, thuộc xã Suối Hiệp, huyện Diên Khánh. Chùa có xuất xứ từ một căn nhà cấp bốn nuôi dưỡng trẻ mồ côi của một vị tăng đạo hạnh. Đến khi gặp được nhiều phước duyên thuận lợi, mái ấm tình thương dành cho trẻ mồ côi được di dời vào địa phận thôn Thủy Triều, xã Hải Đông, huyện Cam Ranh, trở thành một danh lamThanh Sơn bốn phương đều nghe biết, thì căn nhà cấp bốn này gần như bị rơi vào lãng quên để hoang phế lạnh tàn theo tháng ngày...
Chua-nho-mien-que-04Chua-nho-mien-que-03Chua-nho-mien-que-02
Và, một vị tỳ kheo đã về đến. Một thân lặng lẽ, một bóng lặng thầm, với một tâm nguyện kiên cố, Thầy đã từng ngày bắt tay vào việc "cải gia vị tự" (biến nhà ở thành chùa), lập nên một nơi thờ phụng Tam Bảo, từ đó sẽ truyền soi ánh sáng của chánh pháp nhà Phật đến cư dân của vùng miền còn nghèo khó, lạc hậu.
Chỉ một năm sau khi Thầy có mặt, mái ấm nuôi trẻ mồ côi đã trở thành ngôi chùa nhỏ. Thoạt đầu, Thầy chỉ có ý định lập nên một tịnh thất để tu hành, truyền bá Phật pháp, nhưng rồi phước duyên hội đủ, nơi tu niệm khiêm tốn đã dần dần hình thành với đầy đủ trang nghiêm và đẹp đẽ khang trang, được chư tôn hòa thượng trong Tỉnh Giáo Hội Khánh Hòa tán dương khích lệ, gia ân hộ trì, công nhận là một ngôi chùa.
Chua-nho-mien-que-08Chua-nho-mien-que-07Chua-nho-mien-que-06Chua-nho-mien-que-05
Tôi được Thầy trú trì đón tiếp như anh em một nhà, uống nước lá vối tươi nấu nóng thay cho trà, hàn huyên tâm sự quên cả giờ giấc, cùng cười sặc sụa với những câu chuyện bi hài có thật trong Đạo lẫn Đời, cũng như cùng lắng lòng trầm tư trước những khó khăn hoạn nạn mà ngôi thiền tự nhỏ bé này phải hứng chịu qua các trận bão lụt thiên tai... 
Thầy có tâm sự với tôi là tuy tịnh thất đã được phép công nhận chùa, được quyền xây cất diễm lệ, mở mang hoành tráng, nhưng Thầy chỉ muốn ngôi Tam Bảo mang tên Tịnh Quang được giữ nguyên như hiện tại, không cần thêm cũng như bớt, để thích hợp với hoàn cảnh sống của cư dân, của Phật tử ở miền quê còn gian nan nghèo khó. Chùa nát Bụt vàng muôn đời vẫn quý hơn Chùa vàng Bụt nát!
Lên chánh điện lạy Phật xong, tôi rảo quanh một vòng quanh chùa, đứng nghe nước chảy róc rách reo vui tai nơi hòn non bộ có cá màu lăng xăng lít xít, dừng chân ghé mắt nhìn ngắm từng bức thư pháp của Thầy treo trang trí, từng bức tượng, khóm hoa, chậu kiểng... cảm nhận được một sự yên bình thanh tịnh đáng trân quý dành cho người xuất gia mà bất ly thế gian.
Đi theo Thầy ra vườn sau, tôi được Thầy chỉ cho xem một pho tượng bằng đá đặt trên bệ cao:
"Tượng đá theo phong cách điêu khắc của Chàm, nói về tình Mẹ Con."
Ngắm nhìn pho tượng, tôi lại liên tưởng đến hình tượng "Quán Âm Thị Kính", và nhớ đến những câu thơ của mình:

"Già lam mưa dỗi gió hờn
Mõ chuông dìu dặt vẫn còn công phu
Nhẹ nhàng lam khói nhà trù
Tượng nàng Thị Kính chừng như hiển thần
Nhắc người: nghiệp chướng nghìn cân
Hương trầm Đạo Hạnh giải phần oan khiên..."

Chào tạm biệt Thầy, tôi trở về nhà mang theo một tâm trạng buồn vui mơn man, và hai nhánh lá vối tươi Thầy mới cắt cho để về nấu uống cho biết :
"Cây nhà lá vườn... chùa quê
Uống xong là thấy muốn về... Tây Thiên!"

 

Cư sĩ Vĩnh Hữu
Chua-nho-mien-que-22Chua-nho-mien-que-21Chua-nho-mien-que-20Chua-nho-mien-que-19Chua-nho-mien-que-18Chua-nho-mien-que-17Chua-nho-mien-que-15Chua-nho-mien-que-14Chua-nho-mien-que-13Chua-nho-mien-que-12Chua-nho-mien-que-11Chua-nho-mien-que-10

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
31/10/2014(Xem: 12080)
Hồi Thầy mới vào chùa năm 16 tuổi, trên phương diện danh từ thì mình đã được gọi Bụt Sakyamuni là Bổn Sư (Nam Mô Đức Bổn Sư Bụt Sakyamuni). Bổn Sư (tiếng Bắc là Bản Sư) có nghĩa là Thầy tôi. Nhưng kỳ thực đức Bụt mà mình được gặp khi mới vô chùa không phải là một vị Thầy đích thực mà là một nhân vật rất huyền thoại, đầy phép lạ, đầy thần thông, rất xa cách với con người. Mình không được gặp Bụt của đạo Bụt nguyên thủy mà cũng không được gặp Bụt của đạo Bụt tiểu thừa. Hình ảnh Bụt nguyên thủy là một vị Thầy ăn mặc rất đơn sơ, trải bồ đoàn tọa cụ ngồi trên đất, ngồi pháp đàm, nói pháp thoại và ăn cơm với các Thầy. Mình không gặp được hình ảnh đó, vì vậy trên phương diện danh từ mình được gọi là Thầy tôi nhưng kỳ thực giữa mình với đức Sakyamuni có một khoảng cách rất lớn. Đó là một nhân vật hoàn toàn thần thoại, đầy phép lạ.
31/10/2014(Xem: 12140)
Pháp môn mà mình nói tới đó là pháp môn xây dựng tăng thân, được gọi tắt làdựng tăng. Đó cũng là công trình của Bụt, đó là sự nghiệp của Bụt. Ngay sau khi thành đạo, Bụt đã biết rất rõ rằng nếu không xây dựng được một tăng thân thì mình không thể nào thực hiện được sự nghiệp của một vị Bụt. Vì vậy Ngài đã để ra rất nhiều thì giờ và công sức để xây dựng một tăng thân. Ngay trong năm đầu sau khi thành đạo, Bụt đã xây dựng một tăng thân xuất gia gồm có 1250 vị, và tăng thân này đầu tiên xuất hiện tại một rừng kè ở ngoại ô thành phố Rajagraha. Năm Ngài 80 tuổi, Vua Prasenajit (Ba Tư Nặc) có nói một câu rất hay để ca ngợi Bụt về công trình xây dựng tăng thân ấy. Vua nói: Bạch đức Thế Tôn, mỗi lần con thấy tăng thân của đức Thế Tôn là con lại có niềm tin nhiều hơn ở nơi chính đức Thế Tôn.
31/10/2014(Xem: 11146)
Mùa Xuân ta lên núi Hăm hở làm sơn ̣̣đồng Bỏ con đường khói bụi Cho sách vở vời trông... Rời mái trường Vạn Hạnh, còn đang lang thang dạy giờ ở các trường Bồ-đề, ngong ngóng một xuất học bỗng du học, tôi bất ngờ bị Sư Bà áp giải lên núi, sau lời phán quyết chắc nịch: “Con phải học một khóa tu Thiền ba năm với Thượng Tọa, xong rồi muốn đi đâu cũng ̣̣được... Còn bây giờ, dứt khoát là…Không!”.
28/10/2014(Xem: 10672)
Có những gì cần phải sửa trong Kinh Phật hay không? Có những gì cần phải cắt bớt khỏi Kinh Phật, hay cần phải bổ túc thêm cho Kinh Phật hay không? Câu trả lời tất nhiên không dễ. Vì người xưa đã nói, nếu chấp vào nghĩa từng chữ một, có thể sẽ hiểu nhầm ý của Phật; nhưng nếu rời kinh một chữ, lại hệt như lời ma nói. Nguyên văn: Y kinh giải nghĩa, tam thế Phật oan; ly kinh nhất tự, tức đồng ma thuyết.
26/10/2014(Xem: 13494)
Gió mùa thu năm nay, trở nên khô khốc, ảnh hưởng bởi nạn hạn hán trầm trọng nhất trong nhiều thập kỷ qua ở xứ này. Nhưng đâu đó trên hành tinh, mưa thu lất phất bay, và gió thu se sắt gợi buồn; cũng có nơi mưa ngập cả các con lộ chính của thành phố lớn để người và xe cộ phải lội bì bõm trong giòng nước ngầu đục. Và chỗ nọ, chỗ kia, làn gió dân chủ, hòa bình, khơi niềm hứng cảm cho sự vươn dậy của ý thức tự do, khai phóng.
24/10/2014(Xem: 22469)
Một kỷ nguyên mới canh tân kỹ thuật đang lan tràn khắp thế giới và đang tiến đến trưởng thành, đó là mạng lưới thông tin toàn cầu internet (world wide web), một hệ thống truyền thông và môi trường học có sức mạnh. Không nên xem Internet chỉ là một phương tiện mới để truyền bá Giáo Pháp với một hình thức mới, mà Internet còn có tiềm năng là một căn cứ cho một cộng đồng Phật Giáo trên mạng (online) cống hiến những giá trị xã hội và tâm linh cho mọi người.
24/10/2014(Xem: 11361)
Chuyện kinh Phật kể rằng, tự ngàn xửa ngàn xưa, hằng hà sa kiếp trước, có con thỏ ngọc nọ thấy bầy đàn đang lúc giá rét cuối đông, chẳng kiếm được chút rau cỏ gì cho nguôi cơn đói bụng ; thỏ nọ liền “hưng khởi đại bi tâm” nhảy vào đám lửa đang cháy rực hồng, tự biến thân mình thành thịt nướng cho bầy đàn ăn đỡ đói. Khi bầy đàn thỏ no nê thì cũng là khi thân thỏ nọ chỉ còn sót lại mấy miểng xương đen. Phật biết đại bi tâm của thỏ từ đầu, bèn nhặt xương thỏ đem về cung quảng, phục sinh và đặt tên cho thỏ là NGỌC THỐ - có nghĩa là Thỏ Ngọc, một sinh thể có đại bi tâm quý như ngọc; thứ ngọc Phật từng nói đến trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Bấy giờ, cuộc đời thỏ ngọc ngày đêm yên ả nơi cung trăng, tự thân sớm hôm trau dồi công dung ngôn hạnh khiến biết bao người chung quanh nâng niu, thương yêu chiều chuộng.
23/10/2014(Xem: 20165)
“Phật pháp trong đời sống” của cư sĩ Tâm Diệu là tuyển tập về mười hai chuyên đề Phật học gắn liền với đời sống của người tại gia. Tuyển tập các bài viết này gồm ba mục đích chính: (i) Xóa bỏ mê tín dị đoan và các tập tục hủ lậu, (ii) Giới thiệu Phật pháp căn bản, giúp người đọc hiểu rõ các giá trị thiết thực của đạo Phật, (iii) Đính chính các ngộ nhận về các khái niệm thầy tu, giải thoát, giá trị trị liệu của thiền và bản chất hạnh phúc trong hiện tại. Dầu được viết trong nhiều thời điểm khác nhau cho nhiều đối tượng độc giả, tác giả chú trọng đến việc giới thiệu về hình thái đạo Phật nguyên chất, xây dựng niềm tin bằng lý trí, giới thiệu đạo Phật từ góc độ ứng dụng trong đời sống, so sánh những điểm dị biệt và sự vượt trội của đạo Phật đối với các truyền thống và tín ngưỡng khác.
23/10/2014(Xem: 11496)
Bằng cách này hay cách khác, Đức Phật luôn gợi nhắc cho chúng ta rằng mỗi người chúng ta đều sở hữu các khả năng và phẩm chất tốt đẹp, cần phải biết vận dụng và phát huy để làm cho cuộc sống trở nên giàu sang hiền thiện, tránh mọi khổ đau và để thực nghiệm hạnh phúc an lạc. Trong bài kinh Nghèo khổ thuộc Tăng Chi Bộ, Ngài đơn cử câu chuyện một người nghèo túng về của cải vật chất nhưng không biết cách nỗ lực khắc phục tình trạng nghèo khó của mình nên phải liên tiếp rơi vào các cảnh ngộ khó khăn để nhắc nhở chúng ta về các tai họa khổ đau mà chúng ta sẽ phải đối diện, nếu không biết nỗ lực nuôi dưỡng và phát huy các phẩm chất đạo đức và trí tuệ của mình.
23/10/2014(Xem: 15158)
Tục lệ, hay những lễ nghi đã trở thành thói quen, là văn hóa được ước định của một dân tộc. Sự hình thành tục lệ thường chịu ảnh hưởng của phong tục tập quán trong dân gian, hoặc do sự thực hành các tín ngưỡng tôn giáo lâu ngày của một cộng đồng. Sau khi truyền vào Trung Quốc, Phật giáo không chỉ đi sâu vào dân gian, hòa nhập với đời sống, từng bước hình thành nên một bộ quy phạm lễ nghi về “hôn táng hỷ khánh” (dựng vợ gả chồng, chôn cất người chết, thể hiện niềm vui, bày tỏ việc mừng); mà còn có tác dụng thay đổi phong tục đối với các thói quen dân gian mang đậm màu sắc mê tín trong các việc như: tổ chức hôn lễ rườm rà; đoán số mệnh dựa trên bát tự(1); miễn cưỡng tổ chức việc vui trong lúc gia đạo đang gặp rắc rối với mong muốn giải trừ vận xui, tà khí, chuyển nguy thành an, gọi là xung hỷ; thực hành tục minh hôn(2); duy trì lối khóc mộ; xem phong thủy…