Nhìn Lại Thế Kỷ 20

09/07/201808:51(Xem: 10377)
Nhìn Lại Thế Kỷ 20

nhin lai the ky 20 - dao van binh


Nhìn Lại Thế Kỷ 20


Chúng ta đang ở vào năm thứ 18 của Thế Kỷ 21 và chỉ còn 82 năm nữa nhân loại sẽ bước vào Thế Kỷ 22.  Có rất nhiều biến động của thế kỷ trước mà chúng ta đã quên mất rồi. Nhân dịp về hưu rảnh rỗi tôi lục lại cuốn Biên Niên Sử Thế Kỷ 20 (Chronicle of the 20th Century) để xem nhân loại phát minh ra những gì, chịu những thống khổ, những vui buồn như thế nào và có bao nhiêu cuộc chiến tranh giữa các đế quốc.

Sự thực phũ phàng của 118 năm qua là, một quốc gia tuy nhỏ bé nhưng có vũ khí tối tân và bộ máy quân sự khổng lồ vẫn có thể bá chủ thế giới và biến các quốc gia to rộng gấp mười lần mình thành nô lệ. Do đó muốn tồn tại trong độc lập, ngoài phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học, lúc nào cũng phải tăng cường binh bị, vũ khí cho kịp đà tiến triển của nhân loại. Sách lược ngoại giao cũng là một vũ khí nhưng sức mạnh quân sự của một quốc gia là loại vũ khí vững chắc nhất.

Và lịch sử cũng cho thấy khi một chế độ, một chính phủ thua trận trước quân ngoại bang, thường bị lật đổ, thay thế bởi một chính phủ khác hay một thể chế khác ngoại trừ trường hợp duy nhất là Nhật Bản. Trong cuộc tranh chấp thành lập một chính quyền mới hay một thể chế mới, nếu một phe nào đó không đủ mạnh, đất nước sẽ lao vào một cuộc nội chiến thảm khốc và có thể chia cắt lãnh thổ. Chẳng hạn như sau khi Nga Hoàng thua trận, chế độ quân chủ bị lật đổ và đưa tới cuộc nội chiến giữa Hồng Quân và Bạch Quân khiến từ 7-12 triệu người chết. Trường hợp của Đức cũng vậy.

 Tổng kết của Thế Kỷ 20: Thế Chiến I mười triệu người chết, Thế Chiến II 55 triệu người chết! Chiến thuật được các vị tướng của cả hai bên ưa chuộng là “chiến thuật biển người” tràn lên với quân số áp đảo, cho nên số thương vong của cả hai bên rất cao.
 
Lịch sử cũng cho thấy chiến thuật đánh bom khủng bố do người Ái Nhĩ Lan sáng tạo ra rồi người Do Thái bắt chước để chống lại người Anh sau Đệ II Thế Chiến, rồi người Hồi Giáo bắt chước theo.

Có hai thời điểm cần ghi nhớ liên quan đến vận mệnh Đông Dương: Ngày 22/6/1940 Pháp ký thỏa ước đầu hàng Đức, cho nên ngày 27/7/1941 khi cả chục ngàn quân Nhật đổ bộ lên Sài Gòn mà Pháp không dám đề kháng. Vậy thì kể từ ngày này (27/7/1941) Pháp không còn làm chủ các thuộc địa Việt-Mên-Lào nữa mà đặt dưới quyền cai trị của Quân Phiệt Nhật.

Thế rồi khi Thế Chiến II chấm dứt, vào ngày 13/9/1945,  “Theo Thỏa Hiệp Potsdam sau khi Thế Chiến II chấm dứt, 5000 quân Anh thuộc Sư Đoàn 20 Ấn Độ do Tướng Douglas Gracey tiến vào nam Đông Dương (Sài Gòn) để giải giới quân Nhật đầu hàng. Vào Tháng Tám Hồ Chí Minh đã nắm được chính quyền ở Hà nội và tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa độc lập khỏi Thực Dân Pháp. Tuy nhiên Gracey (thay vì giải giới quân đội Nhật, giao chính quyền cho Việt Minh) lại căm ghét Việt Minh, tái vũ trang cho khoảng 1400 lính Pháp đã bị quân Nhật bắt làm tù binh. Hậu quả của việc này là bước đầu tái lập chế độ thuộc địa, tạo ra cuộc xung đột giữa Pháp và Việt Minh, đưa tới cuộc chiến đẫm máu kéo dài 9 năm với cuộc đầu hàng ô nhục của Pháp tại Điện Biên Phủ năm 1954.” 
Trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh, tinh thần chống Cộng và chụp mũ Cộng Sản cuồng nhiệt ở nước Mỹ. Vào ngày 9/2/1950: Thượng Nghĩ Sĩ McCathy tung chiến dịch gọi là cộng sản xâm nhập vào chính quyền liên bang. McCathy nói rằng ông có trong tay danh sách 205 đảng viên Đảng Cộng Sản đang làm việc tại Bộ Ngoại Giao để nhào nặn chính sách của Hoa Kỳ nhưng không đưa ra được bằng chứng và cũng không công bố tên những ai trong danh sách. Từ đó chủ nghĩa chống Cộng và chụp mũ Cộng Sản ở Mỹ còn được gọi là Chủ Nghĩa McCathy. Thậm chí tài tử kiêm đạo diễn lừng danh thế giới Charlie Chaplin (Việt Nam quen gọi là Charlot) cũng bị coi là người ngoại quốc nguy hiểm vì nghi ngờ là Cộng Sản và bị trục xuất. Thế mới hay khi chiến tranh hay thù hận nổ ra, rất nhiều tư tưởng, hành động cực đoan, quá khích ra đời và thường được chấp nhận chẳng hạn như Đức Quốc Xã, Fascist Ý và Quân Phiệt Nhật.
Để cứu nước Anh trước nguy cơ tan rã trước sức tấn công của Đức Quốc Xã, Thủ Tướng Churchill đã đề nghị Anh-Mỹ thống nhất thành một quốc gia với một quốc tịch duy nhất. Rất may Hoa Kỳ không đồng ý. Nếu đồng ý, có thể bây giờ Anh chỉ còn là một tiểu bang của Hợp Chủng Quốc Anh-Hoa Kỳ. Tại sao dân Anh không lên án Churchill là bán nước?
Cuộc chiến tranh Việt Nam (The Vietnam War) đã được các sử gia biên soạn cuốn Biên Niên Sử chú ý vì siêu cường Hoa Kỳ đã gián tiếp lãnh đạo cuộc chiến từ năm 1950 (công nhận chính phủ Bảo Đạiviện trợ 80% chiến phí cho quân đội Pháp) và trực tiếp lãnh đạo từ năm 1954 (Viện trợ ồ ạt cho chính phủ Ngô Đình Diệm để xây dựng một tiền đồn chống Cộng) trong bối cảnh “Chiến Tranh Lạnh” khiến gây ảnh hưởng toàn cầu. Sau khi tổng kết vào năm 1988, số binh sĩ Mỹ chết tại Việt Nam còn lớn hơn số chết trong cuộc Chiến Tranh Triều Tiên (54,000 so với 58,000).
Cuộc Chiến Tranh Triều Tiên và Đệ II Thế Chiến không tạo một ảnh hưởng gì trên lịch sử và tâm lý nước Mỹ. Còn hệ quả và tranh luận về cuộc Chiến Tranh Việt Nam vẫn còn theo đuổi nước Mỹ cho tới ngày hôm nay và có lẽ mãi mãi sau này. Câu hỏi ray rứt và không có lời giải đáp là “Tại sao chúng ta (người Mỹ) thua?” Lỗi tại phản chiến Mỹ? Truyền thông bất công? Hay chiến lược sai lầm? Hay bản chất của cuộc chiến là sai lầm? Cho đến nay vẫn chưa có lời giải đáp hoàn hảo.

Ngoài ra vai trò của lính Nam Hàn và Thái Lan cũng rất quan trọng trong cuộc chiến Việt Nam mà ngày nay mới được bạch hóa. Tháng 9/1965,  Tổng Thống Phác Chánh Hy của Nam Hàn gửi cả chục ngàn quân tham chiến tại Việt Nam. Tổng số quân Nam Hàn luân phiên chiến đấu tại Việt Nam lên tới 320,000, cao điểm đã có tới 50,000 lính Nam Hàn hiện diện trên chiến trường. Theo sử gia Kil J Yi (tốt nghiệp Tiến Sĩ State University of New Jersey), việc gửi quân như thế là để Hoa Thịnh Đốn tiếp tục duy trì số viện trợ khổng lồ đổ vào Nam Hàn.
Còn Thái Lan vào năm 1969 đã gửi 12,000 binh sĩ thuộc hai Sư Đoàn Queen’s Cobra và Black Panther tham chiến tại Việt Nam. Trước đó, Thái Lan đã cho Mỹ thiết lập 7 căn cứ không quân để yểm trợ cho cuộc chiến ở Lào và Việt Nam bao gồm Korat, Udon, Nakon Phanom, Ubbon, Khon Kaen, Utapao và Bangkok.

Trong Chiến Tranh Việt Nam, Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ (CIA) còn thành lập một hãng máy bay mang tên Air America với vỏ bọc bề ngoài là hãng máy bay tư nhân mà ở Sài Gòn lúc bấy giờ thỉnh thoảng chúng ta có thấy. Phi công và phi hành đoàn của Air Amerca là các cựu phi công, cựu chiến binh Hoa Kỳ. Họ thực hiện những chuyến bay rất nguy hiểm về ban đêm hoặc ban ngày nhưng có mây hay sương mù che phủ để dấu kín hành tung. Mục đích chính của Air America là vận chuyển vũ khí, lương thực, tiếp liệu, chiến cụ, tản thương cho những căn cứ bí mật ở Lào, Căm Bốt và cả ở Việt Nam.

Cuối cùng, một câu nói thời danh của các nhà đạo đức ngày 15/5/1921 mà chúng ta cần ghi nhớ và suy nghĩ, “Váy đàn bà càng ngắn, luân lý càng suy đồi” (Concern as skirt rise and moral decline).
Cuốn Chronicle of the 20th Century dày 1375 trang, khổ 23cm x 30cm do Longman, Anh Quốc xuất bản năm 1988 .
                                                                                                                            
Đào Văn Bình
(California ngày 8/7/2018)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
17/06/2011(Xem: 10607)
Mọi hình thức thiền định có ý ‎thức không là một sự việc thực sự: nó không bao giờ có thể là. Cố gắng có dụng ý khi thiền định không là thiền định.
14/06/2011(Xem: 14188)
Thiền sư Thích Nhất Hạnh có những nghiên cứu riêng chỉ ra rằng, Việt Nam có vị Thiền sư Tăng Hội, lớn hơn cả Thiền sư Bồ Đề Lạt Ma - người mà chúng ta đang thờ là Sơ tổ Phật giáo - tới 300 tuổi. Nội dung này nằm trong bài giảng của Thiền sư Thích Nhất Hạnh tại Viện Nghiên cứu Tôn giáo - Hà Nội, ngày 18/1/2005 - "Lịch sử của Phật giáo ngày nay dưới cái nhìn tương tức".
12/06/2011(Xem: 14064)
Trong bối cành một thế giới đang hừng hực nóng từ lò lửa Trung Đông đến biên giới Thái-Miên, câu hỏi về sự hiệu nghiệm của tranh đấu theo phương pháp “Bất Bạo Động” bỗng trở nên quan trọng . Từ “Vô Vi” của Lão Tử đến “Bất Bạo Động” của Gandhi là một con đường dài dẫn chúng ta từ an sinh cá nhân đến tranh đấu cho xã hội. Và nói theo Marx thì có xã hội là có bất công. Nhất là khi nhìn vào cả hai xã hội Cộng sản và Tư bản ngày nay, con cháu của Marx lại càng phải vất vả tranh đấu chống bất công trường kỳ hơn cả Mao, thường trực hơn cả Trotsky, sáng tạo hơn cả Obama.
11/06/2011(Xem: 9531)
Người đàn ông tên Nhật Trung, sinh ra tại đất Long Khánh – Đồng Nai, nhưng sinh sống và lập nghiệp tại 1 vùng đất miền Trung. Ông là chủ 1 nhà hàng có tiếng chuyên phục vụ khách bằng các trò mua vui trên thân xác và tính mạng của những con vật tội nghiệp. Theo như ông kể: Vốn chưa từng biết ghê tay trước nhưng cảnh giết mổ nào, bản thân ông cũng là 1 kẻ “khát” cảm giác tra tấn, hành hạ các con vật để thỏa mãn sự hiếu kỳ của chính bản thân mình.
11/06/2011(Xem: 15206)
Chuyến bay Cathay Pacific Đài Bắc – Hong Kong từ từ hạ cánh. Từ trên cao nhìn xuống, Hong Kong là một thành phố có vô số tòa nhà cao tầng chen chúc mọc. Đồng hồ phi cảng chỉ đúng 11:30 sáng ngày 25 tháng 4. Đoàn xuất sĩ Làng Mai gồm 30 người được Tăng thân Hong Kong đón đưa về tu viện mới ở đảo Lantau. Tổng cộng có một chiếc xe hơi nhỏ và ba chiếc xe buýt 20 chỗ ngồi: một chiếc cho quý thầy, một chiếc cho quý sư cô và một chiếc chở hành lý, còn chiếc xe hơi thì chở Sư Ông (Sư Ông Làng Mai) và thị giả. Ba chiếc xe buýt nối đuôi nhau chạy theo xe Sư Ông hướng về chùa Liên Trì, làng Ngong Ping, đảo Lantau, Hong Kong.
08/06/2011(Xem: 16760)
Ngày nay, y theo lời dạy của Đức Từ Phụ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, khắp nơi nơi, Chùa chiền, Tu viện, Thiền viện hằng năm đều trang trọng tổ chức chu toàn cho tứ chúng được hội tụ về tham dự mùa an cư, sau đại lễ Phật đản.
03/06/2011(Xem: 13923)
Nghiệp là một khái niệm chủ yếu trong giáo lý Phật giáo mang nhiều khíacạnh tâm lý và triết học siêu hình thật sâu sắc và phức tạp, thế nhưng lại thườngđược hiểu một cách quá máy móc và đơn giản. Bài viết dưới đây sẽ cố gắng trìnhbày khái niệm căn bản này dưới các góc nhìn bao quát, khoa học và triết học hơn.
02/06/2011(Xem: 24678)
AYYA KHEMA sinh năm 1923 trong một gia đình người Do Thái tại Berlin. Bà trốn khỏi Đức sang Tô Cách Lan (Scotland) năm 1938, cùng với 200 trẻ em khác. Sau đó được đoàn tụ với cha mẹ bà tại Trung Hoa. Khi chiến tranh thứ hai bùng nổ, bà và gia đình bị đưa vào các trại giam tù binh của Nhật, và cha bà đã mất tại đó. Sau bà lập gia đình, có được một con trai và một con gái.
30/05/2011(Xem: 18189)
Tôi tin rằng tất cả mọi người có cùng bản chất tự nhiên. Ở những mức độ tinh thần cảm xúc, chúng ta giống nhau. Tất cả chúng ta đều có khả năng để trở thành những con người hạnh phúc cùng dễ thương và chúng ta cũng có khả năng để trở nên những con người rất tệ hại và tai hại. .. Một khi chúng ta chấp nhận một truyền thống tôn giáo, thì điều ấy phải trở thành một bộ phận trong đời sống hằng ngày của chúng ta.