Đừng Như Dã Tràng

07/02/201816:55(Xem: 8924)
Đừng Như Dã Tràng



Duc The Ton 3
ĐỪNG NHƯ DÃ TRÀNG 

(Nằm trong loạt bài viết về Đời Người và Định Hướng cho Tương Lai)



Sống tâm nguyện sức lực đều cao đẹp

Xây dựng đời hướng thượng thoát khổ đau

Bi trí dũng rất diệu dụng nhiệm mầu

Vận dụng tốt cho muôn loài lợi ích

Sinh được thân người rất khó, cũng là phước báu nhất, trong sáu nẻo luân hồi. Vì đời người có thể TU giác ngộ, giải thoát, thành Phật và thành Thánh. Cho nên mọi nỗ lực của chúng ta, phải nhằm hướng thượng, chứ đừng như Dã Tràng (1) mà uổng công vô ích.

Khi đã thấy, nhận chân cũng như hiểu rõ cuộc đời nầy là vô thường và đau khổ, nên đa số đã hướng đi tìm một con đường thoát khổ. Trong đó Đạo Phật là con đường, mọi người đang chọn, vì Đạo Phật cao đẹp, siêu tuyệt nhất, mà Thái Tử Tất Đạt Đa của dòng họ Thích Ca, đã phải từ bỏ cung vàng, điện ngọc, vợ đẹp, con ngoan vào rừng tìm kiếm. Qua nhiều năm khổ hạnh và bốn mươi chín ngày “thiền định” đã ngộ được và thành Phật. Rồi bốn mươi chín năm lặn lội khắp nơi, để truyền bá lại, hầu dẫn đường cho muôn loại cùng theo. (Nhà Bác Học lừng danh Albert Einstein đã phát biểu về Đạo Phật như sau : "Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó" (The religion of the future will be a cosmic religion. It would transcend a person God and avoid dogmas and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sence, arising from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity. Buddhism answers this description)

Nhờ ánh sáng của giáo lý Đạo Phật, đã chiếu soi khắp cả, nên nhân loại ngày nay, từ Đông sang Tây, nhất là những người Âu, Mỹ, Úc quá nhiều khùng hoảng về tinh thần, khổ đau với văn minh vật chất, kim tiền và chiến tranh, khủng bố, chết chóc, nên đã, đang tìm về với Đạo Phật, đạo của hòa bình.

Người Việt Nam chúng ta, trong cũng như ngoài nước, thấu hiểu được nỗi đau của đồng loại, nên đang hướng về và tu theo Đạo Phật cũng rất nhiều. Với nhiều pháp môn, nhiều tông phái, nhiều dạng tu hành, đã tùy căn cơ và hoàn cảnh mà thâm nhập, truyền bá khắp nơi.

Nhu cầu tu học (tức là nhu cầu muốn thoát ly khổ đau, tìm đường an lạc) cũng đang là nhu cầu bức thiết của loài người chúng ta. Nên đa số đã nôn nóng, vội hành trì hoặc tìm những con đường, hay hướng đi, tưởng chừng như ngắn gọn, hấp dẫn, nhưng rồi đi mãi vẫn không thấy bến bờ và khổ đau mỗi ngày càng thêm lớn!

Tại sao như vậy ?

Vì “Khoảng cách giữa ta với ‘giác ngộ, giải thoát’, có thể được tượng trưng bằng con số của các ‘ham muốn’ mà ta có trong lòng”

“Tham dục là gốc khổ đau. Ham muốn nhiều, lụy khổ càng sâu, nhọc nhằn sinh tử bấy lâu, đều do tham dục dẫn đầu gây nên…”

Đạo Phật là đạo thoát ly tham dục. Ta muốn đi tìm đạo, muốn giải thoát, giác ngộ, mà vẫn mong cầu nhiều thứ, thì làm sao mà đến đích được. Mang nặng quá, dầu có đi đúng hướng, cũng gục ngã giữa đường.

Ta đến chùa không tìm ‘minh sư’ để được hướng dẫn tu học đúng chánh Pháp, hầu chuyển hóa thân, tâm, được tốt nhất, mà tìm những nơi chùa to Phật lớn, để ngắm cảnh, để thỏa mãn hiếu kỳ, để chụp hình lưu niệm. Hoặc tìm những vị Thầy, Cô có nhiều chức vị, danh lợi, để làm đệ tử, để được vinh hạnh hơn. Tìm những nơi vui chơi, thoải mái, hay tìm những pháp vừa tu vừa hưởng thụ, để vừa tu mà cũng vừa thỏa mãn ngũ dục, thì làm sao mà hết khổ và biết bao giờ mới thấy đạo ?  

Đến chùa không lo tu tập miên mật, để chuyển hóa nội tâm, mà muốn cho Thầy chứng, mọi người biết, muốn chứng tỏ mình là người quan trọng, có công với chùa, để cho bạn đạo tôn trọng, khen ngợi, ca tụng, không được như vậy, liền giận, hờn Thầy, Cô, bạn đạo, sanh phiền não, đó là tu danh, tu lợi, sai rồi.

Đến chùa không muốn làm người thấp nhất, với hạnh khiêm cung, để có nhiều cơ hội học hỏi, cung kính, phục vụ, công quả tạo phước điền, hầu triệt tiêu bản ngã, tăng phần công đức, mà muốn chứng tỏ mình là người, “tu lâu, tu nhiều, tu trước” phải có danh dự, phải được vinh hạnh, ăn trên, ngồi trước, cho tiêu hao phước đức, làm đề tài biếm nhẽ trong thiên hạ.

Đến chùa không nhằm mục đích tịnh tâm, cho được phát trí tuệ, hầu nhận định cho được chín chắn mọi điều, trong cuộc sống, từ đó mới có được ứng xử đúng pháp, không bị chuyện thị phi chi phối, mà luôn loạn động, bị dư luận dẫn dắt, ăn nói huyên thuyên, chứng tỏ ta là người tu rành, tu giỏi, chỉ điều này, hướng dẫn điều nọ, cho những người sơ cơ, mới nhập đạo, khiến ái nấy cũng phải nghi ngại, ngao ngán, cười chê. 

Đến chùa không lên chánh điện, hay thiền đường để tụng kinh, niệm Phật, ngồi thiền, cho tâm được an tịnh, hầu tìm chút bình an trong cuôc sống, mà tụ năm, tụm bảy, “bà tám” để nói chuyện thị phi, khen người nầy, trách phiền, chê bai người kia, gây rối loạn xả hội, để luôn bị não phiền chi phối, tâm luôn bất an, ở chùa thì sanh mích lòng, người nầy, kẻ nọ, về nhà thì quát tháo (vợ) chồng, con cái, chỉ chuốc và gieo rắc khổ đau cho nhau thôi, chứ không mang lại một chút an lạc nào, thì chỉ thêm tội lỗi, đọa lạc mà thôi.

Đến chùa không lo học hỏi những gì, cần cho việc tu tập, và lo hành trì, để thoát khổ, cũng như mở rộng tâm từ, bi, hỷ, xả, hầu bao dung, thương người, sống vị tha, thường cúng dường, bố thí, tạo phước lành, cho phước tuệ được hiển bày, mà chỉ biết cuối đầu lạy Phật, với thiết tha cầu khẩn, vái xin những điều mình mong ước, với tâm đầy ích kỷ, muốn nấu cát mà mong thành cơm, thì chắc là khó thành tựu.

Đến chùa chỉ lo làm công quả, để kiếm phước. Tìm những thứ vinh hoa, phú quý hảo huyền, vô thường, biến đỗi, mà chạy theo, để rồi phải chịu nhiều truân chuyên, lận đận, vì bị lường gạt, lừa đảo. Chứ không lo tu tập để được phát huệ, hầu chuyển hóa được nỗi khổ niềm đau, là một sai lầm rất lớn.  

Pháp Phật dùng để hành, hầu mới thoát được khổ đau, không chịu thực hiện, mà đến chùa chỉ biết nghiên cứu giáo lý, để phô diễn tài năng, khiến trở thành “sở tri chướng” ngăn cản việc tu tiến của ta và biến thành một trong bát nạn “Thế trí biện thông” không tin chánh pháp, để tu hành, thoát ly sinh tử khổ đau, mà thành người khoe khoang, nguy hại, nhiều trơ trẻn!

Đến chùa không lo tu học để hạ “ngã chấp”, cho tham sân si được tiêu trừ tận gốc, mà muốn thể hiện tài năng, chứng tỏ hơn người, giỏi hơn tất cả, ta là duy nhất, để rồi “bản ngã” lớn dần và tham sân si cùng từ đó phát triển, làm khổ lụy cuộc đời và rối loạn xã hội.

Đến chùa không buông xả bớt cho nhẹ nhàng, mà ôm đồm vào nhiều thứ, để rồi gánh nặng, chịu khổ, than thân trách phận. Hay so bì người nầy kẻ nọ, rồi “đố kỵ” với nhau, không chia phần công đức với người, mà lại tạo thêm oan trái, tội lỗi, vì phải kiếm chuyện nói xấu về người, để mình bị đánh giá thấp, phải chịu mang tội, trong khi đó người thì được thêm phước!

Đến chùa không để soi xét lại mình, để “tìm hay mà học, tìm sai mà sửa, tìm lỗi mà tránh” hầu hoàn thiện tự thân, sống đời an lạc, mà để dòm ngó người khác, cho phiền não ôm vào, tội lỗi phát sinh. Không hướng vào nội tâm, mà chạy theo hình tướng, hoặc tìm cơ hội giao lưu rộng, tạo điều kiện cho việc gieo duyên danh lợi, chạy theo ngũ dục, từ đây ác nghiệp nẫy nở, khổ lụy cũng chất chồng, trầm luân muôn kiếp…

Tất cả những loại người đến chùa theo các điều kể trên, đều là “Công Dã Tràng” không có ích lợi gì bao nhiêu, mà có khi lại gây khổ lụy, nguy hại cho mình và mọi người, thật là uổng công vô ích, nếu là người Phật tử lại thêm tội lỗi, vì không tôn vinh, mà mang Pháp của Phật ra làm trò cười cho thiên hạ.

Là người con Phật, chúng ta phải hiểu rõ, sự mầu nhiệm và lợi ich vô cùng của Phật Pháp, giúp ta nhận chân được cuộc đời, thực hành tốt những pháp môn của Phật dạy, sẽ thành người tốt, nhìn đâu cũng thấy tốt, sống thanh thoát, hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại và mang lại nhiều ích lợi cho đời, đấy là chúng ta đã hành đúng Pháp Phật, trở thành người hoằng Pháp chân chính, phước đức sẽ vô lượng. Bèn ngược lại, càng tu, “bản ngã” càng lớn, tham sân si, ham muốn càng nhiều, thì càng lắm phiền não, càng gây nhiều oan trái, khổ đau cho đời, thì đó là ta tu sai rồi, càng tu chừng nào càng xa chân lý chừng ấy.

Đời người ngắn lắm, hãy mau thức tỉnh, để chỉnh sửa lại, mà thực hành đúng Pháp Phật, hầu hưởng được sự an lạc, ngay từ giờ phút nầy. Kẻo “Đừng Như Dã Tràng” mà uổng công vô ích !

Hạnh phúc nằm ở tinh thần

Tiện nghi vật chất nợ nần đeo mang

Phật tánh trong tâm rõ ràng

Tìm cầu hướng ngoại “Dã Tràng” uổng công !

 

Pháp Hoa - Nam Úc, những ngày cuối năm Đinh Dậu, đón mừng năm Mậu Tuất

Thích Viên Thành

Ghi Chú:

(1) Dã Tràng: Học từ điển tích ghi: “Câu chuyện bắt đầu đã từ rất lâu rồi.

“Tương truyền tại một vùng nọ có chàng thợ săn tên Dã Tràng, một ngày kia nhìn thấy một cặp rắn. Khi con rắn cái lột da thì rắn đực đi tìm đồ ăn mang về cho rắn cái. Nhưng khi rắn đực lột da thì rắn cái bèn bò đi tìm rắn đực khác. Dã Tràng bất bình bèn bắn chết rắn cái. Rắn đực đi tìm vợ, gặp Dã Tràng mới hiểu ra vợ mình xấu xa. Rắn đực bèn trả ơn Dã Tràng bằng một viên ngọc lạ, mỗi lần Dã Tràng ngậm viên ngọc này thì có thể nghe và hiểu được tiếng nói của loài vật.

Tin viên ngọc lạ có thể cho con người hiểu ngôn ngữ loài vật bay đến tai vua. Vua cho đòi Dã Tràng tới, mượn viên ngọc của chàng và ban thưởng nhiều của cải.

Một hôm vua xuống thuyền, ngậm viên ngọc, nghe được các loại cá mực hát rất hạy Vua bật cười, viên ngọc bị rơi xuống biển.

Dã Tràng tiếc viên ngọc, ngày đêm ngụp lặn tìm kiếm, kiệt sức chết đi. Dã Tràng biến thành một loài cua bể ngày đêm tha cát lấp biển để tìm lại viên ngọc đã mất.

Dã Tràng tha cát lấp bể, sóng biển lại đánh vào tan đi hết, cho nên trong dân gian Việt Nam có câu:

"Dã Tràng xe cát biển đông/ Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì" ý nói với những việc không thể thì dù cố gắng đến mấy cũng vô ích”.

Ở đây muốn nói lên rằng, người con Phật, phải biết sáng suốt, làm những việc trong tâm thành, chánh niệm, thì mới mong có được kết quả tốt, bèn không sẽ là “công Dã Tràng” chỉ mất công vô ích và có khi phải mang thêm tội lỗi, mà thôi !

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/05/2021(Xem: 7502)
Một khi Đức Đạt Lai Lạt Ma rời Tây Tạng, ngài sẽ phải đối diện với nhiệm vụ khó khăn về việc nói với thế giới những gì đã xảy ra ở quê hương ngài và cố gắng để có được sự giúp đở cho người dân của ngài. Ngài cũng phải chạm trán với sự tuyên truyền của truyền thông Tàu Cộng rằng ngài đã bị bắt cóc. Tuy nhiên, nhu cầu thiết yếu nhất là để bảo đảm nhà ở và thực phẩm cho những người Tây Tạng đã đi theo ngài lưu vong. Ngài đã hướng đến chính phủ Ấn Độ, và họ đã không làm ngài thất vọng. Trong thực tế, Ấn Độ cuối cùng đã tiếp nhận hơn một trăm nghìn người tị nạn, cung cấp chỗ ở, và nuôi dưỡng họ, cho họ làm việc, và thiết lập những ngôi trường đặc biệt cho trẻ em Tây Tạng. Những tu viện Phật giáo Tây Tạng cũng được xây dựng ở Ấn Độ và Nepal.
30/04/2021(Xem: 11647)
Thưa Tôi. Hôm nay là ngày sinh nhật của Tôi, xin được phép thoát ra khỏi cái tôi để nhìn về tôi mà phán xét và đưa ra cảm nghĩ. Hình dạng tôi đã già rồi, tóc đã bạc hết cả đầu. Tôi đã trải qua một thời gian dài sinh sống làm việc và cuối đời nghỉ hưu. Tôi đã bắt đầu thấm thía cái vô thường của thời gian mang lại. Tôi cũng đã thấm thía cái sức khỏe đã đi xuống nhanh hơn đi lên. Tôi cũng đã thấm thía tình đời bạc bẽo cũng như tình cảm (Thọ) là nỗi khổ đau của nhân sinh. Tôi cũng đã hiểu rõ thế nào là ý nghĩa đích thực của cuộc sống, đó là bất khả tương nghị không thể thốt lên thành lời. Chỉ có im lặng là đúng nghĩa nhất. Ngày xưa khi lục tổ Huệ Năng của Thiền tông chạy trốn mang theo y bát thì thượng tọa Minh rượt đuổi theo để giết lấy lại. Đến khi gặp mặt thì lục tổ mang y bát ra để trên tảng đá rồi núp dưới tảng đá bảo thượng tọa Minh hãy lấy y bát đi mà tha chết cho người. Thượng tọa Mình lấy bát lên, nhắc không lên nổi vì nó quá nặng bèn sợ hãi mà quỳ xuống xin lục tổ tha c
30/04/2021(Xem: 13035)
Thiền Uyển Tập Anh chép Đại sư Khuông Việt Ngô Chân Lưu (933 – 1011) tu ở chùa Phật Đà, Thường Lạc nay là chùa Đại Bi núi Vệ Linh Sóc Sơn, Hà Nội. Ngài thuộc thế hệ thứ 4 Thiền phái Vô Ngôn Thông. Ngài người hương Cát Lợi huyện Thường Lạc, nay thuộc huyện Sóc Sơn, Hà Nội, thuộc dòng dõi Ngô Thuận Đế (Ngô Quyền). Theo Phả hệ họ Ngô Việt Nam, Thiền sư Ngô Chân Lưu tên huý là Xương Tỷ, anh trai Thái tử - Sứ quân Ngô Xương Xý, con Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập, cháu đích tôn của Ngô Vương Quyền. Ngài dáng mạo khôi ngô tuấn tú, tánh tình phóng khoáng chí khí cao xa, có duyên với cửa Thiền từ năm 11 tuổi.
27/04/2021(Xem: 9138)
Tánh Không ra đời một thời gian dài sau khi đức Phật Nhập diệt do Bồ tát Long Thọ xiển dương qua Trung Quán Luận. Mặc dầu khi còn tại thế đức Phật có nói về Tánh Không qua kinh A hàm và Nikaya. Nơi đây Phật có nói về tánh xuất gia của hành giả đi tu. Hạng người tâm xuất gia mà thân không xuất gia thì gọi là cư sĩ. Và hạng người tâm và thân xuất gia thì gọi là tỳ kheo. Tánh Không cũng có hiện hữu trong kinh Tiểu không bộ kinh trung bộ. Phật có dạy: nầy Ananda, Ta nhờ ẩn trú Không nên nay ẩn trú rất nhiều. Kế tiếp Phật có dạy trong kinh A hàm về các pháp giả hợp vô thường như những bọt nước trôi trên sông: sự trống không của bọt nước.
27/04/2021(Xem: 7328)
Đêm yên tĩnh. Nhìn ra khung kiếng cửa sổ chỉ thấy một màu đen, đậm đặc. Cây cối, hàng giậu, lẳng hoa, bồn cỏ, ghế đá, và con đường ngoằn ngoèo trong công viên, có thể sẽ khó cho khách bộ hành nhận ra vị trí và thực chất của chúng. Cây bên đường có thể bị nhầm là kẻ trộm đối với cảnh sát, và sẽ là cảnh sát đối với kẻ trộm (1). Giây thừng hay con rắn. Con chim hay con quạ. Con sóc hay con mèo. Người hay quỉ. Mọi vật đều một màu đen. Trong bóng đêm, mọi thứ đều dễ trở nên ma mị, huyễn hoặc.
27/04/2021(Xem: 7356)
Cũng như tình trạng nghiêm trọng của Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma trẻ tuổi chỉ có thể theo đuổi một trong ba trường hợp – chiến đấu, bỏ chạy, hay đàm phán. Ngài có thể tập họp lại đội quân ít ỏi, vũ khí thô sơ, rèn luyện sơ sài và đưa họ đối mặt với một lực lượng quân sự mạnh mẽ vượt trội, biết rằng ngài gần như chắc chắn đang kết án tử hình cho đội quân của ngài và xứ sở của ngài cuối cùng sẽ bị đánh bại. Ngài có thể trốn chạy khỏi đất nước, nhưng như vậy sẽ để lại dân tộc ngài không có lãnh đạo và vẫn chịu sự thương hại của những kẻ xâm lược. Hay, ngài vẫn ở lại Tây Tạng và cố gắng để đàm phán một thỏa hiệp với Tàu Cộng để bảo vệ dân tộc ngài và nền văn hóa của họ. Để thực hiện một quyết định đúng đắn, ngài phải biết hơn về Trung Hoa.
27/04/2021(Xem: 11157)
Được sự cho phép của lãnh đạo chính quyền và sự trợ duyên của nam nữ Phật tử, câc nhà hảo tâm khắp nơi, chùa Diên Khánh đã khởi công trùng tu ngôi Tam Bảo vào ngày 12/3 năm Tân Sửu, nhưng kinh phí còn quá khiêm tốn, nên việc tái thiết trùng tu ngôi chánh điện đang dang dở, trì trệ... Nay nhà chùa một lần nữa tha thiết đăng lại bức "Thư Ngỏ", kính gửi lời đến quý đạo hữu, nhà hảo tâm, Phật tử gần xa để công việc trùng tu sớm được hoàn thành.
19/04/2021(Xem: 20751)
Phật Điển Phổ Thông DẪN VÀO TUỆ GIÁC PHẬT Common Buddhist Text: Guidance and Insight from theBuddha. Copyright by Mahachulalongkorn-rajavidyalaya (MCU). Chủ biên bản Việt ngữ: LÊ MẠNH THÁT - TUỆ SỸ Ban biên dịch: Thích Hạnh Viên, Thích Nữ Khánh Năng, Thích Thanh Hòa, Pháp Hiền Cư sỹ, Nguyễn Quốc Bình. Dịch Việt và Ấn hành với Hợp đồng chuyển nhượng bản quyền của Viện Đại Học Mahachulalongkorn-rajavidyalaya (MCU), Thái-lan, 2018. Nhà xuất bản Hồng Đức, 2019. Hương Tích ấn hành.
15/04/2021(Xem: 20721)
Bài viết này (phần B) cập nhật và tóm tắt buổi trình bày về bài viết "Tản mạn về tiếng Việt và Hán Việt: tại sao Trung Quốc dùng danh từ khoái 筷 còn Việt Nam dùng đũa (trợ 箸)?" tại hội thảo UNC2021_0116 tại Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN (sẽ diễn ra vào ngày 24/4/2021). Các trang bên dưới được trích từ các trang của Power Point Presentation, dựa vào bài viết đã đăng và dán lên đây theo dạng word cho dễ đọc hơn.
15/04/2021(Xem: 14634)
Chúng ta thường biết là Vi Diệu Pháp là Tạng của Nguyên Thủy áp dụng tu học ngày nay rất phổ biến. Tạng này cũng nói về Tâm và nghiên cứu sâu rộng. Riêng Đại Thừa thì có Duy Thức Luận cũng tương tự chỉ khác là có 2 thức Mạc Na Thức số 7 và Tạng Thức số 8. Vi Diệu Pháp là do Xá Lợi Phất giảng còn Duy Thức Luận là do Vô Trước Thế Thân giảng, tất cả đều do Bồ Tát mở rộng ra mà thôi và là Luận tức là luận bàn do qui từ nhiều kinh lại và không do Phật giảng. Xá lợi Phất giảng Vi Diệu Pháp do Phật giảng trên cõi trời cho mẹ của Phật còn Vô Trước Thế Thân giảng là do Phật Di Lạc giảng cũng trên cõi trời. Bài viết nầy chủ yếu đưa ra khái luận về Tâm Thức theo hai phái Nguyên Thủy và Đại Thừa dựa vào Phân Tâm Học ngày nay. Chúng ta nghiên cứu trên căn bản tâm lý học về tạng Vi Diệu Pháp và Duy Thức Luận.