Giới và Luật

14/01/201806:05(Xem: 10414)
Giới và Luật

Duc The Ton 2
GIỚI  VÀ  LUẬT
Bài của Cư Sĩ Minh Mẫn
Diễn đọc: Chân Hiền Hiếu




 

Hầu hết các tôn giáo đều có Giới và Luật để tổ chức tồn tại trong trật tự, bảo về tinh đoàn kết nội bộ, riêng Phật giáo, Giới và Luật không chỉ đơn thuần như thế, còn mang tính “khế thời, khế cơ và khế lý” bàng bạc tinh thần dân chủ mà gần 3000 năm trước, xã hội con người lúc bấy giờ trên tinh cầu còn bị thống trị bởi óc phong kiến và nặng về giai cấp.Vậy Giới và luật của Phật giáo như thế nào?

Theo Đại tự điển Phật Quang định nghĩa Giới là:

Tấng lớp, căn cơ,yếu tố, nền tảng, chủng tộc…

  1. Giới  dùng để gọi các phạm trù phân loại, như 6 căn, tiếp xúc với 6 trần, mà sinh ra 6 thức.
  2. Đất, nước, lửa, gió, không, thức gọi là 6 giới. Dục giới, sắc giới, vô sắc giới gọi là tam giới.”Giới” này gần như nghĩa là cảnh giới. Tông Duy thức gọi chủng tử của tất cả pháp là giới.”Giới” này có nghĩa là yếu tố, nguyên nhân.
  3. Giới bản gọi là Ba La Đề Mộc Xoa

Giới là những điều răn cấm do Đức Phật đặt ra khiến các đệ tử xuất gia và tín đồ tại gia giữ gìn để ngăn ngừa tội lỗi.

Theo Luận Bồ đề Tư lương quyển 1 thì giới có 10 nghĩa: Tập cận, bản tính, thanh lương, an ổn, an tĩnh, tịch diệt, đoan nghiêm, tịnh khiết, đầu thủ và tán thán.

Giới gồm có  Tính giới và giá giới. Tính giới cũng còn gọi là Cựu giới, Chủ giới, Tính trọng giới. Giới này bản chất là tội ác như Giết hại, trộm cướp, tà dâm và vọng ngữ.

Giá giới cũng gọi là Tân giới, khách giới,tức Thế cơ hiềm giới, ly ác giới. Giới này bản chất không phải là tội ác, không nằm trong bốn giới nặng như trên…

Theo Tứ phần luật thì Giới chia làm 4 là Giới pháp, giới thể, giới hạnh và giới tướng.

Luận Du già sư địa quyển 40 nêu ra Tam tụ tịnh giới : Nhiếp luật nghi giới, nhiếp thiện pháp giới, nhiêu ích hữu tình giới.

Ma ha chỉ quán quyển 4 nói – sự giới (cũng gọi là tùy tướng giới) có khả năng dẫn đến ba đường là Trời – người - A tu la. Lý giới ( còn gọi là lý tưởng giới) là giới không chấp vào hình tướng, mà trụ trong Tam quán không giả trung.

Mười giới cơ bản cho Tỳ kheo – tỳ kheo ni – Sa di – Sa di ni là:

  1. Không giết hại
  2. Không trộm cắp
  3. Không tà dâm
  4. Không nói dối
  5. Không say sưa
  6. Không ăn quá bữa
  7. Không nghe  âm nhạc, hát xướng và các trò chơi khác
  8. Không xức dầu thơm, trang điểm
  9. Không ngủ giường cao, đệm êm
  10. Không dính líu chuyện tiền bạc phiền hà thế gian.( cũng có chỗ ghi là không giữ tiền, vàng bạc của quý)…

 

Năm giới đầu được áp dụng cho Cư sĩ, và trong một số ngày đặc biệt như Bát Quan trai có thể lên đến tám

Giới là những quy định hạn chế sai phạm thông thường, trong lúc đó Luật được hiểu là quy luật dành cho những người xuất gia, sống trong chùa hay thiền môn, tu viện.

                                        
         ***

Giới và luật vốn khác nhau. Thông thường giới là những điều được nói trong Luật thuộc ba tạng, là một bộ phận của Luật. Còn luật là những bộ sách giải thích rõ về giới và đặt ra những quy định xử phạt khi phạm giới.

Luật – còn gọi là Ty ni, nghĩa là “điều phục, li hạnh, diệt, thiện trị. Những quy định do Đức Phật chế định có liên quan đến đời sống Đạo mà các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni phải tuân thủ. Đưa ra những chế định xử phạt khi phạm tội.

Sau khi đức Phật nhập diệt, Ưu Ba Li kết luật pháp 80 lần gọi là bát thập tụng luật. Thông thường chỉ nghe đến bộ Tứ phần luật, thực ra còn có Thập tụng luật, Ngũ phần luật, và những bộ luật của các bộ phái khác.

(Phật Quang Đại từ điển ) 

Ngoài 10 giới cơ bản, Tỳ kheo còn có 250 giới, Tỳ kheo ni có 348 giới

Giới có là do có người sai phạm, tùy loại hình sai phạm mà Phật chế giới. Tuy nhiên, một điều quan trọng đã được ghi lại trong Kinh, là trước khi đức Phật Thích Ca diệt độ, ngài đã căn dặn cho A-nan-đà, người đệ tử thân cận nhất của ngài: " Này A-nan-đà, sau khi ta ra đi, nếu Tăng đoàn muốn, có thể bỏ được trong Giới Luật những điều nhỏ nhặt, không đáng kể " (Kinh Đại Bát Niết Bàn Pali). chính vì thế trong luật có khai – giá – trì – phạm.

Thế nào là khai giá trì phạm trong luật Tứ phần?theo Thiền sư Duy Lực giảng:
Khai: Ví như uống rượu là phạm giới, có tội phạm giới nhưng không có tội nhân quả, cho nên có thể khai. Khai bằng cách nào? Trường hợp mắc bệnh mà thầy thuốc nói cần uống thuốc rượu mới hết, ngươì ấy khai báo ra lý do, ấy là không phạm.
Giá: Giá là che. Tại sao phải che? Trong giới luật, như một trăm điều về tứ oai nghi cũng chỉ có tội phá giới, không có tội nhân quả. Vậy thì tại sao phải lập ra những giới điều trên? Là vì muốn che không cho người đời phê bình. Ví như ở Ấn Độ, nếu Tu sĩ đi làm ruộng thì người đời phê bình, cho nên làm ruộng là phạm. Ngược lại, ở Trung Quốc, Tu sĩ đi khất thực thì người đời lại chê là con mọt gạo, còn đi canh tác thì được chấp nhận, nên ở Trung Quốc làm ruộng là giữ giới, ở Ấn Độ làm ruộng lại phá giới. Tại sao phải che? vì hễ muốn hoằng pháp thì phải phù hợp với phong tục của địa phương đó.

Trì và phạm: Gồm chỉ trì và tác trì, từ 5 giới, 10 giới, đến 250 giới, 348 giới Thanh Văn, gọi là chỉ trì, tức không làm thì không phạm, còn giới Bồ tát gọi là tác trì, những việc cần làm thì phải làm, không làm là phạm.

Giới được phân định: Biệt giải thoát giới ", " Đạo cộng giới " và " Định cộng giới”

Theo truyền thống, trong 12 năm đầu, đức Phật chưa chế ra giới, vì chưa có chuyện gì rắc rối xẩy ra trong Tăng đoàn, có thể gây nên cản trở cho sự tu tập của tăng ni.

Nhưng vào năm thứ 13, có xẩy ra chuyện Na-đề-tử ân ái với vợ cũ, cho nên Phật mới bắt đầu chế giới. Mỗi khi chế một giới, ngài lại nói 10 lợi ích của việc chế giới đó: " Vì sự kiện toàn của Tăng già, sự trường tồn của Chánh Pháp, sự an lạc của Tăng chúng, sự tăng trưởng của lòng tin, sự đoạn diệt phiền não trong hiện tại và tương lai... "

Cứ như vậy, mỗi khi xẩy ra một sự cố, ngài lại chế thêm một giới, và dần dần số giới mỗi ngày một gia tăng,.Tuy nhiên đa số giới luật là những giới nhẹ, nhỏ nhặt, vụn vặt, không cần thiết. Chẳng hạn như " không được xỉa răng, hỉ mũi hướng về tượng Phật ". Nếu muốn chú tâm vào những giới quan trọng, chính yếu một cách nghiêm chỉnh, thì người ta phải bỏ đi những giới thứ yếu, nhỏ nhặt, không cần thiết

                                                    ***

Do đâu phải giữ giới?

- Bạch Thế Tôn, các thiện giới có ý nghĩa gì, có lợi ích gì?

- Này Ananda, các thiện giới có ý nghĩa không có hối tiếc, có lợi ích không có hối tiếc.

- Nhưng bạch Thế Tôn, không có hối tiếc có ý nghĩa gì, có lợi ích gì?

- Này Ananda, không có hối tiếc có ý nghĩa hân hoan, có lợi ích hân hoan.

- Bạch Thế Tôn, nhưng hân hoan có ý nghĩa gì, có lợi ích gì?

- Này Ananda, hân hoan có ý nghĩa hoan hỷ, có lợi ích hoan hỷ.

- Nhưng bạch Thế Tôn, hoan hỷ có ý nghĩa gì, có lợi ích gì?

- Này Ananda, hoan hỷ có ý nghĩa khinh an, có lợi ích khinh an.

- Nhưng bạch Thế Tôn, khinh an có ý nghĩa gì, có lợi ích gì?

- Này Ananda, khinh an có ý nghĩa an lạc, có ích lợi an lạc.

- Nhưng bạch Thế Tôn, an lạc có ý nghĩa gì, có lợi ích gì?

- Này Ananda, an lạc có ý nghĩa định, có lợi ích định.

- Nhưng bạch Thế Tôn, định có ý nghĩa gì, có lợi ích gì?

- Này Ananda, định có ý nghĩa như thật tri kiến, có lợi ích như thật tri kiến.

- Nhưng bạch Thế Tôn, như thật tri kiến có ý nghĩa gì, có lợi ích gì?

- Này Ananda, như thật tri kiến có ý nghĩa nhàm chán, ly tham, có lợi ích nhàm chán, ly tham.

- Nhưng bạch Thế Tôn, nhàm chán, ly tham có ý nghĩa gì, có lợi ích gì?

- Này Ananda, nhàm chán, ly tham có ý nghĩa giải thoát tri kiến, có lợi ích giải thoát tri kiến.

Dưới dạng Mật giới, hành giả nguyện rằng:

  1. Không lìa chính pháp;
  2. Không xao lãng việc tu tập;
  3. Không tham lam, không ích kỉ;
  4. Lúc nào cũng giữ lòng từ bi với chúng sinh;
  5. Không phỉ báng một tông phái nào của Phật giáo;
  6. Không bám chặt vào bất cứ cái gì;
  7. Không ôm ấp vọng tưởng;
  8. Khuyến khích chúng sinh phát tâm Bồ-đề;
  9. Thuyết giảng giáo pháp Đại thừa cho những người theo Tiểu Thừa;
  10. Luôn luôn bố thí cho chư vị Bồ Tát.

                                        ***

Đức Phật dạy trong Kinh Pháp Cú 160: “Ta là nơi nương nhờ của ta, không ai khác là nơi nương nhờ của ta được, khi ta đã thuần tịnh thì đó là nơi nương nhờ hy hữu.” mục đích của giới, trên nguyên tắc, là để " phòng phi chỉ ác", tức là phòng ngừa các điều phi pháp và ngăn chận các điều ác quấy, đồng thời cũng là chỉ ác tác thiện ", tức là ngăn chận các điều ác và thành tựu các việc lành. Cũng như lời dạy đức Phật trong Kinh Pháp Cú, 183, lập lại bởi thiền sư Ô Sào: " Chư ác mạc tác, Chúng thiện phụng hành, Tự tịnh kỳ ý, Thị chư Phật giáo " (Không làm các điều ác, thành tựu các việc lành, giữ tâm ý thanh tịnh, ấy lời chư Phật dậy).

Như vậy, đức Phật đã khẳng định giữ gìn giới luật là điều quan trọng.Giới luật còn thì Phật pháp còn.

Khác với luật pháp thế gian, Giới luật của Phật giáo, được xây dựng trên từ bi và trí tuệ hiểu biết về nhân quả, nghiệp báo nên không bị giới hạn hạn bởi không gian, thời gian. Tuy rằng khi chế định giới luật, Đức Phật có dựa trên nền tảng xã hội, văn hóa đương thời nhưng mục đích chú trọng sự giáo dục để phát triển khả năng đạo đức tốt đẹp nhất của con người, đem lại hạnh phúc thật sự cho con người và từng bước đưa họ vào thánh đạo. Do đó, muốn hiểu giới luật của Phật giáo thì phải biết rõ về định luật nhân quả, nghiệp báo.

Người phạm tội ác sẽ chịu tác động bởi luật nhân quả, nhưng người phạm giới thì phạm vào giới luật đã thọ nhận và dĩ nhiên nhân quả cũng không tránh khỏi.Dù không hành động hay nói lời ác, nhưng ý tưởng độc ác vẫn là hạt giống xấu đợi ngày trổ quả.

Luật thế gian mang tính ngăn chận xâm hại quyền lợi của xã hội, của người khác, riêng luật giới nhà Phật vì lòng từ bi mà không nỡ hành động bằng lời nói, việc làm và ý nghĩ làm tổn hại kẻ khác và gieo nhân xấu cho chính mình.

                                                     ***

Giới luật ngày nay, để thich nghi với nhu cầu nhân loại, giới cần bổ sung cho tín đồ  đang cộng sinh trên tinh cầu - 5 giới căn bản của người Phật tử, không ai chối cãi sự cần thiết và sự ích lợi cho bản thân cũng như cho xã hội, nhưng cần  thêm một số chi tiết cho phù hợp với thời đại, như 1) ...không sát hại súc vật, không làm hại môi trường, thiên nhiên, trái đất; 2) ...không bóp méo, trốn tránh, che đậy sự thật, 3) ...không ăn cắp của công, không tham nhũng, không gian lận, 4) ...không phá hoại hạnh phúc gia đình của người khác bằng cách tư tình phi pháp, 5) ...không hút thuốc, nghiện thuốc hay ma túy, không dùng các chất hóa học gây rối loạn thần kinh…

Tuy nhiên có một vài trường hợp Giới luật đã gây lấn cấn trong tu sĩ ở phương Tây hiện nay luôn tôn trọng sự bình đẵng giữa nam và nữ thì Bát kỉnh pháp lại là vấn đề mà chư Tăng đang xét lại cho thích nghi với quốc độ đang sống.

                                                        ***

Xác định giới giúp đưa đến Định, từ định thì Tuệ sẽ phát sinh.Giới luật là một phần trong giáo pháp của Phật. Theo tinh thần “Phật giáo phát triển” thì thế gian pháp tức Phật pháp, có nghĩa Phật pháp là bất định pháp, có thể uyển chuyển linh động “tướng giới”mà vẫn không đánh mất “tánh giới”.Thời Phật còn tại thế, chư Tăng chỉ đi trì bình khất thực nuôi thân và không giữ tiền, nếu khư khư chấp chặt giới tướng như thế thì đạo Phật khó mà phát triển như ngày nay.

Trong xã hội công nghiệp và chú trọng hiệu quả kinh tế, chư Tăng không thể ngày ngày ôm bình đi khất, cá nước phương Tây, chư Tăng cũng phải đi làm như mọi người, vì thế, Tổ  Bách trượng đã sáng tạo loại hình “nông thiền” để tự túc kinh tế mà không bị xem là loại “mọt hạt gạo”. Ngày nay, trừ vài nơi nông thôn chư Tăng còn canh tác, hầu hết vùng nghèo khó trong cuộc sống, nhà chùa không thể ngồi chờ bá tánh cúng dường, do đó, một số chùa tự sản xuất thực phẩm, nhang đèn để nuôi chúng.Chư Tăng ngày nay đi hoằng pháp không thể đi bộ như thời đức Phật, nếu không giữ tiền ai cho lên xe, hoặc cây xăng đâu cho không các tu sĩ. Đừng vì thế mà bảo là phạm giới.

Đừng nhìn giới tướng mà đánh giá nếu giới tánh không khởi lòng tham mong cầu dư thừa vật chất hoặc bon chen se sua với người đời. Tinh thần “tam thường bất túc” vẫn còn giá trị cho chư Tăng trong thời đại kinh tế thị trường ngày nay. Cho dù kinh doanh bất cứ dưới hình thức nào mà “tri túc, tiện túc, hà thời túc” vẫn có thể chấp nhận; đấy là tinh thần giới luật của Phật tùy cơ, tùy thời và tùy xứ, không bị “giới cấm thủ” giết chết giá trị giới luật của đức Phật.

 

Sài gòn ngày 13/01/2018
Cư Sĩ Minh Mẫn

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
29/07/2013(Xem: 29601)
1:- Quá trình hình thành và phát triển: - Nguồn gốc Tự viện, ngày tháng thành lập PHV, người tiếp quản ban đầu. - Thành phần Ban Giám Viện, Ban Giáo Thọ, Hội Đồng Chứng Minh, số lượng Học Tăng, nhà Trù, cơ sở vật chất v.v… các thời kỳ, trước 1963, sau 1963 đến 1975
29/07/2013(Xem: 11188)
Đức Thế Tôn thường dạy rằng sau những ngày tháng vân du hoằng hóa độ sanh ở các làng mạc xa xôi, chư Tôn đức tăng ni mỗi năm trong ba tháng mùa mưa nên trú một chỗ cùng nhiếp thân khẩu ý, chuyên tu thiền định, trưởng dưỡng giới định tuệ, nuôi lớn đạo tâm trong tinh thần thanh tịnh lục hòa của tăng già.
27/07/2013(Xem: 12022)
Tôi đang huân tập một đức tính: Hễ có ai chửi tôi, nhục mạ, bôi lọ tôi…tôi sẽ nhẫn nhục không trả lời. Nếu buộc phải trả lời tôi sẽ dùng lời lẽ ôn hòa, không dùng lời thô tục, hung dữ…để trình bày rõ sự việc, để mọi người được biết…mà không làm tổn thương đến người đang công kích hay thù hận tôi. Đức Phật dạy rằng “Muôn loài chúng sinh đều bình đẳng”. Nếu con hổ có thể gầm, con sư tử có thể rống…thì con chim cũng có thể hát ca, con suối có thể reo, thậm chí loài côn trùng nhỏ bé cũng có quyền cất lên tiếng nỉ non giữa canh khuya. Ai cũng có quyền cất lên tiếng nói mà không một ai có quyền ngăn cản miễn sao tiếng nói đó không làm tổn hại tới người khác, không làm xáo trộn sự an vui của cộng đồng.
27/07/2013(Xem: 14424)
Đi chùa lễ Phật, ở nhà ăn chay, tụng kinh niệm Phật, ra ngoài đời hoạt động thiện nguyện, đóng góp cho xã hội là sinh hoạt nền tảng cần có của một Phật tử chân chính. Những hoạt động trên có tác dụng rất lớn khiến bản thân thanh tịnh, tâm hồn hướng thượng, gia đình hạnh phúc, vun trồng cội phúc cho mình và cho con cháu. Song đó chỉ là những điều kiện cần nhưng chưa đủ
27/07/2013(Xem: 13510)
Mẹ tôi là một góa phụ đã bảy mươi mốt tuổi, người đã sống một mình kể từ khi Ba tôi mất cách đây mười chín năm. Sau khi Ba tôi qua đời, tôi đã di chuyển 2500 dặm để đến California, nơi tôi bắt đầu xây dựng mái ấm gia đình và lập nghiệp ở đây. Khi tôi quay về lại quê nhà cách đây năm năm, tôi tự hứa với chính mình sẽ dành nhiều thời gian cho Mẹ. Nhưng vì bận rộn công việc và ba đứa con, tôi đã không có thời gian nhiều để thăm Mẹ ngoài những dịp nghỉ lễ hay gặp mặt gia đình.
26/07/2013(Xem: 24597)
Thuyết Luân Hồi & Phật Giáo Tây Phương (Rebirth and The Western Buddhism), nguyên tác Anh ngữ của Martin Wilson, Việt dịch: Thích Nguyên Tạng
26/07/2013(Xem: 11192)
Bác đi tu từ bao giờ tôi không biết. Khi tôi có hiểu biết thì đã thấy bác là một ông thầy chùa. Khi tôi hiểu biết thêm một chút nữa thì cả gia đình bác đã có một ngôi chùa riêng. Trước đó bác tụng kinh gõ mõ trong ngôi nhà thờ của dòng họ mà bác là người vai trưởng được cai quản. Tôi phải nói là bác tôi vừa là một ông thầy chùa nhà quê, vừa… mù chữ. Có lẽ ông không biết một chữ a, b, c nào cả. Nhưng ông biết “chữ nho”. Bác tụng niệm ê a bằng “chữ nho”.
26/07/2013(Xem: 14418)
Nguyễn Du khi cho Kiều đi tu phía sau vườn của nhà Hoạn Thư, chỉ cho cô thọ tam quy ngũ giới. Nhiều Thầy của chúng ta phản đối, cho là Nguyễn Du không hiểu luật xuất gia cho nên nói như vậy, vì người xuất gia, theo luật, thấp nhất là thọ mười giới sa-di. Sự phản đối này thiếu cơ sở lịch sử về vấn đề truyền thọ giới và thọ giới ở nước ta.
25/07/2013(Xem: 14614)
Năm nay là năm 2013, đây là năm kỷ niệm chu niên lần thứ 30 của Gia Đình Phật Tử Pháp Bảo tại thành phố Sydney, tiểu bang New South Wales, Úc Đại Lợi. Những khuôn mặt của 30 năm về trước và những con người theo suốt chiều dài lịch sử vừa qua, đến nay chắc chắn đã theo luật Vô Thường biến đổi khá nhiều. Nếu làm con tính nhẩm, các em Oanh Vũ 6 tuổi của thời 1983, thì năm nay cũng đã thành một thanh niên, thanh nữ 36 tuổi
25/07/2013(Xem: 14151)
Vươn đến một đời sống thành công và hạnh phúc là niềm mơ ước muôn thưở và rất chánh đáng của mỗi con người. Làm người ai cũng mong một đời sống vui vẻ và hạnh phúc.