Trở Lại Nha Trang

15/09/201721:16(Xem: 10014)
Trở Lại Nha Trang
TRỞ LẠI NHA TRANG
 
Nguyễn Nguyên An
nha-trang-vietnam-2

 

Tôi, hơn mười năm trở lại, Nha Trang lớn dậy bề thế về mọi mặt, nhất là du lịch. Tôi là người ăn chay, được các chị tổ bếp lo cho những bữa cơm chay đầy đủ ngon miệng, tiếp lửa cho những trang viết mới toanh. Có lẽ đây là một duyên lành tôi nhận được.  

Tôi đã ở Nha Trang hơn bốn mươi năm trước, thường nghe câu ca dao của người dân:

                                Ai về viếng cảnh Khánh Hoà

                                Long Sơn nên ghé, Tháp Bà đừng quên,

                                Kim thân Phật tổ nhớ lên,

                               Nhìn ông Phật trắng ngồi trên lưng trời.

 Hồi đó, tôi đã thấy tượng Phật Tổ tỏa sáng trên nên trời cao rộng, tôi lại lâm râm niệm Phật. (Khánh Hoà là xứ sở Trầm hương, nổi danh với những phong cảnh nên thơ yên bình, Từ lâu đời, sắc thái tâm linh Phật giáo đã ảnh hưởng sâu đậm trong tâm hồn dân tộc Việt, tô điểm cho cả vẻ đẹp phong cảnh lẫn cái đẹp nếp sống con người nơi đây.) 

Chùa Sắc tứ Long Sơn ở Thành phố Nha Trang có địa thế rất đẹp, trước đây được dựng trên một khu đất cao, cây cối xanh tươi, nằm bên cạnh đường phố chính, giữa lòng thành thị đông đúc mà vẫn giữ không gian thâm u, tĩnh mịch. Những dãy nhà làm học viện, văn phòng, tịnh thất kết hợp với ngôi chùa đồ sộ, tạo thành một cấu trúc hoàn chỉnh ẩn bóng dưới những hàng cây Bồ-đề cao lớn, cành lá sum suê cùng những rặng cây kiểng bao quanh. Bão lũ năm Canh Tý đầu thế kỷ 19, chùa bị sập hoàn toàn, tổ khai sơn chùa quyết định dời chùa xuống chân đồi Trại Thủy. Hoà thượng Ngộ Chí cho xây ngôi chùa nhỏ một gian hai chái rồi đổi tên chùa từ Đăng Sơn tự thành Long Sơn tự. Ngày nay, chùa tọa lạc ở số 20 đường 23 tháng 10, phường Phương Sơn, chính diện hướng Nam. Phía trước chùa vẫn con đường huyết mạch giao thông, du khách đi từ Nam ra Bắc hay ngược lại, cả đường bộ, đường thuỷ, hay đường hàng không, đều có thể trông thấy Chùa Long Sơn với Kim Thân Phật Tổ ngự uy nghiêm trên lưng đồi.

 Từ chùa chính, muốn lên pho tượng Kim Thân Phật Tổ phải đi lên 193 bậc tam cấp. Khi đến bậc thứ 44 khách thăm quan tượng Phật Tổ nhập niết-bàn dài 17m, cao 5m, đằng sau tượng là bức phù điêu mô tả cảnh 49 đệ tử niệm phật. Tượng được xây dựng năm 2003… Sau đó tiếp tục hành trình viếng thăm tượng Kim Thân Phật Tổ (còn gọi là tượng Phật trắng) ngự trên đỉnh đồi. Kim Thân Phật Tổ chính là biểu tượng làm nên nét đẹp đặc thù của Thành phố biển xinh đẹp. Đứng trên đỉnh đồi Trại Thủy, Du khách có thể chiêm ngưỡng Kim Thân Phật Tổ với dáng ngồi uy nghiêm thư thái giữa nền trời xanh mây trắng, với nét mặt từ hoà và nụ cười thanh thoát điểm nhẹ trên môi. Tượng được khởi công năm 1964, hoàn thành năm 1965, với chiều cao từ mặt bằng lên 24m, đế tượng cao 21m, thân tượng cao 14m, đài sen 7m, đường kính đài sen 10m. Chung quanh đế Phật đài là những bức phù điêu đấp nổi chân dung hình 7 vị Thánh tử đạo vì pháp thiêu thân dưới thời Ngô Đình Diệm. Dù đứng chiêm bái nơi đâu trên triền núi, du khách cũng đều cảm nhận như từ Kim Thân Phật tỏa ra đủ đức lành: Bi-Trí-Dũng. Từng nếp y đắp trên Kim Thân sống động như chính Đức Như Lai đang thị hiện. Khi chiều về, ánh thái dương rọi chiếu, tưởng như muôn vầng hào quang rực rỡ đang toả phóng cả một vùng sáng huyền diệu. Nhìn toàn cảnh, Long Sơn có địa thế rất đẹp. Hoa viên Long Sơn Đại Tự bên phải con đường vào chùa. Hoa viên Long Sơn tựa như một đóa sen vươn lên từ hồ nước đọng. Đây chỉ là một hoa viên nhưng gói gọn đủ cả cảnh nước non sơn thuỷ hữu tình thu nhỏ, tựa như một bức tranh thiên nhiên sinh động.

 

Với lịch sử trên 100 năm (1886-2005) kể từ ngày khai sơn, chùa Long Sơn trải nhiều đời trụ trì với nhiều lần trùng tu, nay đã lập nên những kỳ tích lưu truyền cho bao thế hệ mai sau như để nói lên sự bất biến vĩnh hằng của chánh pháp giữa cuộc sống đời thường này.

Ngày nay, chùa Long Sơn đã trở thành một ngôi chùa danh tiếng, có phạm vi ảnh hưởng rộng trong đời sống tinh thần nhân dân và Phật tử Khánh Hòa. Ngay sau lưng chùa là tượng Phật Thích Ca nhập niết-bàn mới được điêu khắc vào năm 2003. Làm phông cho tượng là một bức tường đá màu trắng pha chút xanh nhạt có hình 36 vị La Hán ngồi hầu, tạo nên một khung cảnh trang nghiêm tĩnh lặng. Cùng với con đường đá dẫn lên Kim Thân Phật Tổ, ngay lưng chừng đồi có một gác chuông với Đại hồng chung nặng 1.500 kg. Tiếng chuông nơi đây ngày hai buổi sớm tối vang ra cả những vùng lân cận của thành phố. Khi mọi hoạt động của con người đã ngừng nghỉ sau một ngày lao động bôn ba trong cảnh phong trần, hòa vùng trời đêm tĩnh mịch, có được phút giây lắng động, từ nơi đây tiếng chuông vang hưởng ngân xa như giục thức tỉnh lòng người tìm về bến Giác, trút bỏ bớt những triền phược thế gian. Ngược lên hướng đồi phía Tây với con đường nhỏ dẫn đến khu Tháp chư vị Tổ sư và những vị cao Tăng có hành trạng gắn bó đất Khánh Hoà. Chính nơi vùng đồi thiêng này, là nơi lí tưởng cho sự nghiệp hành đạo của bao vị cao Tăng, những bậc Thạch trụ đã một thời ươm mầm giải thoát nơi Phật Học viện Trung phần Hải Đức, và mãi toả hương Ưu đàm cho vùng đất nhân hiền tụ khí này. Phủ tàng che mát nghiêm trang cho những toà tháp là những cội cổ thụ phủ bóng hàng trăm năm mang đậm nét Tòng Lâm cổ kính. Ngoài phía phải sân chùa là Trường Trung cấp Phật học Khánh Hoà, và khu nội trú của Tăng Sinh. Và đặc biệt, gần mười năm trước đây (Năm 2007), Tỉnh Giáo Hội đã xây dựng khu tượng đài Bồ Tát Quảng Đức bằng đá với bức phong giả sơn hùng vĩ bên phía tả cổng Tam Quan. Tôi đứng trầm ngâm dưới chân tôn tượng Bồ-tát Thích Quảng Đức, trong đầu tôi hiện lên một cuộc đối thoại. Tôi xin chép ra đây:

           “Đối thoại với Bồ-tát:  

           Kính bạch Hòa thượng, sao Ngài đi tu?  

           Tại sao con không đi tu  

           Con yêu sự sống  

           Ta cũng yêu sự sống 

           Kính bạch Hòa thượng, sao Ngài tự thiêu?  

           Sao con không tự thiêu  

           Con nâng niu sự sống chính con  

           Ta nâng niu sự sống người khác. 

           Buông xả thân mạng mình cho người khác  

           Buông xả thân mạng mình cho đạo pháp  

           Cái chết làm nên Bồ-tát  

           Nam mô Thích Quảng Đức Bồ-tát Ma-ha-tát”

 Đến chùa, Trưởng lão HT.Thích Thiện Bình, Phó Pháp chủ HĐCM, Trưởng ban Trị sự GHPGVN tỉnh Khánh Hòa, trụ trì chùa từ 2013 đến nay vừa viên tịch. Quý thầy quá bận rộn, đã giới thiệu cô Chi Phật tử đạo tràng Long Sơn đưa tôi đảnh lễ chư Phật, Bồ-tát và tham quan cảnh chùa. Tôi được gặp Hòa thượng – bác sĩ Thích Hải Ấn từ Huế vào. Tôi thưa: “Thưa thầy, con vào đây không ngồi thiền được 1 giờ như trước”. Hòa thượng dạy: “ Cố gắng tu tập theo hạnh của Phật, nhất là thiền tập, không ngồi được 1 giờ chỉ 20 phút đều đặn cũng tốt ”.

Chiều, tôi thả bộ trên đường biển Phạm Văn Đồng trước Nhà sáng tác Nha Trang,  đến khu vực tập thể dục dụng cụ, hiện có 13 dụng cụ, tôi ghé lên tập thử. Tôi trò chuyện với một anh bạn mới tên là Bùi Tự Trọng, nhà ở số 69 tổ 11, phường Vĩnh Hải, TP Nha Trang. Anh Trọng tâm sự: “Tôi 65 tuổi, quê Phú Yên, ở Nha Trang mấy chục năm rồi, ra đây tập thể dục ngày 1 giờ, nhờ bác sĩ đại dương (là biển, nắng gió của biển), tôi không bị  bệnh gì. Tôi đã đi qua nhiều thành phố, tôi thấy Nha Trang là thành phố đẹp nhất. Bốn mùa ôn hòa thoáng mát. Huế của anh cũng đẹp, nhưng thời tiết khắc nghiệt”. Nói chuyện đạo, anh Trọng nói thêm: “Tu là cõi phúc, người đi tu được phước. Tu cần không dối lòng là trọn đủ” 

 Những bữa cơm chay ở Nhà Sáng tác Nha Trang luôn ngon miệng đối với người chay tịnh như tôi. Chị Đức bếp trưởng thường thăm hỏi: “Cháu nấu chay như vậy chú có ăn được không?”. Bà Hương giám đốc cũng thăm hỏi tôi những câu như thế. Tôi chân thành cám ơn, vì ở Huế, bữa ăn của tôi chỉ đơn giản một món, như rau cải xào, mè đậu, xì dầu, khuôn đậu kho... Tôi vẫn ngon miệng với hai phần lon gạo nấu cơm nóng ăn cùng xì dầu “xắm” ớt. 

   Tôi viết bút ký này trong nền nhạc Chú Đại Bi - Lời: Kinh Phật – do Phật tử Tâm Quế (Đoàn Lan Hương) một thành viên của đoàn đã phổ nhạc. Con người sinh ra là bắt đầu đi về phía nghĩa trang, những đứa con tinh thần hoài thai ở quê nhà, sinh ra ở Nhà sáng tác Nha Trang sẽ lớn dậy tròn lành và đi vào lòng người, theo quy luật có thể nó cũng bị lớp bụi thời gian dìm vào quên lãng, nhưng lúc nào đó có anh khảo cổ, chị nghiên cứu gọi nó thức dậy, nó lại tiếp tục ngân lên lời cổ tích, những cung bậc xa xưa cho thế hệ sau một chút bâng khâng, chút trầm tư hoài niệm là cũng đủ tròn trách nhiệm của một đứa con ngoan sinh ra từ vòng tay của những bà đỡ văn  nghệ…

Nguyễn Nguyên An

 

 

 

Địa chỉ:

 

Nguyễn Nguyên An

TỊNH CỐC TÂY AN

11/11/69 Lê Ngô Cát, TP Huế

Tel: 01688971486

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
31/10/2014(Xem: 12125)
Hồi Thầy mới vào chùa năm 16 tuổi, trên phương diện danh từ thì mình đã được gọi Bụt Sakyamuni là Bổn Sư (Nam Mô Đức Bổn Sư Bụt Sakyamuni). Bổn Sư (tiếng Bắc là Bản Sư) có nghĩa là Thầy tôi. Nhưng kỳ thực đức Bụt mà mình được gặp khi mới vô chùa không phải là một vị Thầy đích thực mà là một nhân vật rất huyền thoại, đầy phép lạ, đầy thần thông, rất xa cách với con người. Mình không được gặp Bụt của đạo Bụt nguyên thủy mà cũng không được gặp Bụt của đạo Bụt tiểu thừa. Hình ảnh Bụt nguyên thủy là một vị Thầy ăn mặc rất đơn sơ, trải bồ đoàn tọa cụ ngồi trên đất, ngồi pháp đàm, nói pháp thoại và ăn cơm với các Thầy. Mình không gặp được hình ảnh đó, vì vậy trên phương diện danh từ mình được gọi là Thầy tôi nhưng kỳ thực giữa mình với đức Sakyamuni có một khoảng cách rất lớn. Đó là một nhân vật hoàn toàn thần thoại, đầy phép lạ.
31/10/2014(Xem: 12147)
Pháp môn mà mình nói tới đó là pháp môn xây dựng tăng thân, được gọi tắt làdựng tăng. Đó cũng là công trình của Bụt, đó là sự nghiệp của Bụt. Ngay sau khi thành đạo, Bụt đã biết rất rõ rằng nếu không xây dựng được một tăng thân thì mình không thể nào thực hiện được sự nghiệp của một vị Bụt. Vì vậy Ngài đã để ra rất nhiều thì giờ và công sức để xây dựng một tăng thân. Ngay trong năm đầu sau khi thành đạo, Bụt đã xây dựng một tăng thân xuất gia gồm có 1250 vị, và tăng thân này đầu tiên xuất hiện tại một rừng kè ở ngoại ô thành phố Rajagraha. Năm Ngài 80 tuổi, Vua Prasenajit (Ba Tư Nặc) có nói một câu rất hay để ca ngợi Bụt về công trình xây dựng tăng thân ấy. Vua nói: Bạch đức Thế Tôn, mỗi lần con thấy tăng thân của đức Thế Tôn là con lại có niềm tin nhiều hơn ở nơi chính đức Thế Tôn.
31/10/2014(Xem: 11170)
Mùa Xuân ta lên núi Hăm hở làm sơn ̣̣đồng Bỏ con đường khói bụi Cho sách vở vời trông... Rời mái trường Vạn Hạnh, còn đang lang thang dạy giờ ở các trường Bồ-đề, ngong ngóng một xuất học bỗng du học, tôi bất ngờ bị Sư Bà áp giải lên núi, sau lời phán quyết chắc nịch: “Con phải học một khóa tu Thiền ba năm với Thượng Tọa, xong rồi muốn đi đâu cũng ̣̣được... Còn bây giờ, dứt khoát là…Không!”.
28/10/2014(Xem: 10681)
Có những gì cần phải sửa trong Kinh Phật hay không? Có những gì cần phải cắt bớt khỏi Kinh Phật, hay cần phải bổ túc thêm cho Kinh Phật hay không? Câu trả lời tất nhiên không dễ. Vì người xưa đã nói, nếu chấp vào nghĩa từng chữ một, có thể sẽ hiểu nhầm ý của Phật; nhưng nếu rời kinh một chữ, lại hệt như lời ma nói. Nguyên văn: Y kinh giải nghĩa, tam thế Phật oan; ly kinh nhất tự, tức đồng ma thuyết.
26/10/2014(Xem: 13529)
Gió mùa thu năm nay, trở nên khô khốc, ảnh hưởng bởi nạn hạn hán trầm trọng nhất trong nhiều thập kỷ qua ở xứ này. Nhưng đâu đó trên hành tinh, mưa thu lất phất bay, và gió thu se sắt gợi buồn; cũng có nơi mưa ngập cả các con lộ chính của thành phố lớn để người và xe cộ phải lội bì bõm trong giòng nước ngầu đục. Và chỗ nọ, chỗ kia, làn gió dân chủ, hòa bình, khơi niềm hứng cảm cho sự vươn dậy của ý thức tự do, khai phóng.
24/10/2014(Xem: 22498)
Một kỷ nguyên mới canh tân kỹ thuật đang lan tràn khắp thế giới và đang tiến đến trưởng thành, đó là mạng lưới thông tin toàn cầu internet (world wide web), một hệ thống truyền thông và môi trường học có sức mạnh. Không nên xem Internet chỉ là một phương tiện mới để truyền bá Giáo Pháp với một hình thức mới, mà Internet còn có tiềm năng là một căn cứ cho một cộng đồng Phật Giáo trên mạng (online) cống hiến những giá trị xã hội và tâm linh cho mọi người.
24/10/2014(Xem: 11371)
Chuyện kinh Phật kể rằng, tự ngàn xửa ngàn xưa, hằng hà sa kiếp trước, có con thỏ ngọc nọ thấy bầy đàn đang lúc giá rét cuối đông, chẳng kiếm được chút rau cỏ gì cho nguôi cơn đói bụng ; thỏ nọ liền “hưng khởi đại bi tâm” nhảy vào đám lửa đang cháy rực hồng, tự biến thân mình thành thịt nướng cho bầy đàn ăn đỡ đói. Khi bầy đàn thỏ no nê thì cũng là khi thân thỏ nọ chỉ còn sót lại mấy miểng xương đen. Phật biết đại bi tâm của thỏ từ đầu, bèn nhặt xương thỏ đem về cung quảng, phục sinh và đặt tên cho thỏ là NGỌC THỐ - có nghĩa là Thỏ Ngọc, một sinh thể có đại bi tâm quý như ngọc; thứ ngọc Phật từng nói đến trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Bấy giờ, cuộc đời thỏ ngọc ngày đêm yên ả nơi cung trăng, tự thân sớm hôm trau dồi công dung ngôn hạnh khiến biết bao người chung quanh nâng niu, thương yêu chiều chuộng.
23/10/2014(Xem: 20194)
“Phật pháp trong đời sống” của cư sĩ Tâm Diệu là tuyển tập về mười hai chuyên đề Phật học gắn liền với đời sống của người tại gia. Tuyển tập các bài viết này gồm ba mục đích chính: (i) Xóa bỏ mê tín dị đoan và các tập tục hủ lậu, (ii) Giới thiệu Phật pháp căn bản, giúp người đọc hiểu rõ các giá trị thiết thực của đạo Phật, (iii) Đính chính các ngộ nhận về các khái niệm thầy tu, giải thoát, giá trị trị liệu của thiền và bản chất hạnh phúc trong hiện tại. Dầu được viết trong nhiều thời điểm khác nhau cho nhiều đối tượng độc giả, tác giả chú trọng đến việc giới thiệu về hình thái đạo Phật nguyên chất, xây dựng niềm tin bằng lý trí, giới thiệu đạo Phật từ góc độ ứng dụng trong đời sống, so sánh những điểm dị biệt và sự vượt trội của đạo Phật đối với các truyền thống và tín ngưỡng khác.
23/10/2014(Xem: 11539)
Bằng cách này hay cách khác, Đức Phật luôn gợi nhắc cho chúng ta rằng mỗi người chúng ta đều sở hữu các khả năng và phẩm chất tốt đẹp, cần phải biết vận dụng và phát huy để làm cho cuộc sống trở nên giàu sang hiền thiện, tránh mọi khổ đau và để thực nghiệm hạnh phúc an lạc. Trong bài kinh Nghèo khổ thuộc Tăng Chi Bộ, Ngài đơn cử câu chuyện một người nghèo túng về của cải vật chất nhưng không biết cách nỗ lực khắc phục tình trạng nghèo khó của mình nên phải liên tiếp rơi vào các cảnh ngộ khó khăn để nhắc nhở chúng ta về các tai họa khổ đau mà chúng ta sẽ phải đối diện, nếu không biết nỗ lực nuôi dưỡng và phát huy các phẩm chất đạo đức và trí tuệ của mình.
23/10/2014(Xem: 15171)
Tục lệ, hay những lễ nghi đã trở thành thói quen, là văn hóa được ước định của một dân tộc. Sự hình thành tục lệ thường chịu ảnh hưởng của phong tục tập quán trong dân gian, hoặc do sự thực hành các tín ngưỡng tôn giáo lâu ngày của một cộng đồng. Sau khi truyền vào Trung Quốc, Phật giáo không chỉ đi sâu vào dân gian, hòa nhập với đời sống, từng bước hình thành nên một bộ quy phạm lễ nghi về “hôn táng hỷ khánh” (dựng vợ gả chồng, chôn cất người chết, thể hiện niềm vui, bày tỏ việc mừng); mà còn có tác dụng thay đổi phong tục đối với các thói quen dân gian mang đậm màu sắc mê tín trong các việc như: tổ chức hôn lễ rườm rà; đoán số mệnh dựa trên bát tự(1); miễn cưỡng tổ chức việc vui trong lúc gia đạo đang gặp rắc rối với mong muốn giải trừ vận xui, tà khí, chuyển nguy thành an, gọi là xung hỷ; thực hành tục minh hôn(2); duy trì lối khóc mộ; xem phong thủy…