Có Một Vầng Trăng

26/08/201722:10(Xem: 9317)
Có Một Vầng Trăng
CÓ MỘT VẦNG TRĂNG  
Pháp thoại tại chùa Phật Tổ Ngày 29-03-2008

Cuộc đời của đức Thế Tôn có thể ví như một đóa hoa - đóa Giác ngộ đã nở cách nay 26 thế kỷ, nhưng hương từ bi và trí tuệ vẫn luôn tỏa ngát, ngày càng lan xa, trải rộng đến ba nghìn thế giớinhư một câu mô tả xác đáng trong Thiền Lâm Cú Tập "Nhất điểm hoa mai nhụy, tam thiên thế giới hương".

Chúng ta thường nhìn thấy mặt đại dương tuy mênh môngnhưng sóng cuộc ba đào, nên chưa bao giờ phản chiếu trọn vẹnđược ánh sáng của trăng sao. Thế nhưng có một vỏ sò nhỏ bé, nằm cô đơn yên lặng bên hốc đá với một ít nước bên trong mà vẫn có thể chứa cả không gian thênh thang lồng lồng. Trăng sao, mặt trời, tia nắng... vẫn có mặt trong vỏ sò bé nhỏ ấy. Nằm ẩn mình khiêm nhường trong chỗ khuất, mảnh vỏ sò lạc loài không ai để ý, nhưng hàng ngày với chút nước của trùng dương, nó có thể phản chiếu cả bao la vũ trụHình ảnh đó diễn đạt ý nghĩa"Hoa mai một chút nhụy. Ba ngàn thế giới thơm".

Câu trích dẫn ở trên trong Thiền Lâm Cú Tập khi vừa đọc lên ta nghe đầy chất thơ, nhưng đó không phải là thi ca trừu tượng mà là một điều rất thực trong đời sống chúng taĐời người tu mà chúng ta không thực tập tự làm cho mình tỏa hương lành được thì thật là đáng tiếc.

Chúng ta đến và đi trong nhân gian này, sự có mặt của mình ít nhiều cũng lưu lại một chút gì nơi người khác. Đời sống chúng talành, đẹp hay không thì vẫn lưu lại gần nhất là nơi con cháu mình, nơi người thân của mình, và nó cũng lưu lại trong bằng hữu của mình nữa. Nếu ta có hương thơm thì hương đó sẽ tỏa ra rất rộng. Cũng thếchúng ta dâng tặng cho người niềm vui bằng sự quan tâm chăm sóc thì quả lành sẽ đến.

Tôi có bài thơ làm từ lâu, nó lên những cảm nghiệm của tôi về thân phận con người trong cõi nhân gian. Đây là những câu thơ như một lời tri ân gửi đến hai pháp hữu đã mất, đó là hai Sư Bàở chùa Quán Thế Âm (Đà Lạt). Bài thơ đã may mắn được khắc lên bia mộ mà tôi chỉ nhớ bốn câu sau:

Một cánh nhạn vút ngang trời lặng lẽ
Bong bóng nổi chìm biển cả mênh mông
Từ  chân thân hiện ra cõi bụi hồng
Đến như mộng rồi đi như giấc mộng
    .
Sự có mặt của chúng ta trong cuộc đời này như cánh nhạn lướt qua bầu trời rồi mất hút, hoàn toànkhông để lại một dấu vết. Đại dương luôn dậy sóng xô dạt vào ra, bọt bóng từng đợt nổi chìm nhưng rồi nó cũng trả nước về cho biển khơi mênh mông tĩnh lặng. Chúng ta đến đi trong đời cũng như bọt bóng nổi chìm, tan vỡ nhanh như trong mộng. Đời sống là giấc một. Một giấc mộng mơ; sống trong mơ, ra đi như mộng và chúng ta là sở hữu giấc mộng của chính mình.

Một trăm năm cho một đời người không đủ dài để ta rong chơi, lao xao tìm kiếm, mải mê trong giấc mộng. Đến một ngày, khi quay nhìn lại mình thì "đời đã xanh rêu". Ấy thế mà ngay khi còn sống, chúng nó làm tình làm tội chính mình và làm tình làm tội cả những người chúng quanh. Ta gây đau khổ cho mình, đọa đày những người chung quanh băng những lời trách móc, chì chiết, giận hờn. Đời sốngchúng ta không phải thở bằng những tiêu cực ấy mà nó thở bằng tình thương giữa chúng ta với nhau và với vạn vật muôn loài. Vũ trụthiên nhiên, cỏ cây, đất đá, trăng sao... là điều kiện cho ta sống, cho ta thở.

Có một vị thiền sư sống trong một cái am rất bé nhỏ rất nghèo nànVật dụng không có một món gì giá trị. Buổi tối nọ có tên trộm vào tìm kiếm, nhưng chẳng thấy gì để nó có thể lấy đi được. Nó tức giận hỏi: "Sao ông nghèo đến thế?" Vị thiền sư cười bảo: "Nếu anh hỏi in ta, ta sẽ có cái để cho, tuy nhiên khi vào đây anh đã không hỏi một lời. Anh lục lọi nên anh không biết cả có của cải". Tên trộm hỏi: "Của cải để đâu?" Vị thiền sư đáp: "Của cải ra cất trong đây". Nói xong, ông đưa tay chỉ vào ngực mình. Tên trộm to tiếng: "Thứ của đó tôi không xài. Tôi chỉ dùng của cải vật chất có thể đổi được cơm gạo... chứ cái đó thì quên đi". Vị thiền sư cười bảo: "Ta có của quí thì người không lấy, vậy ta tặng cho ngươi những của rất tầm thường đây". Nói xong ông cởi hết quần áo tặng cho tên trộm. Tên trộm ôm mớ quần áo của thiền sư ra đi. Vị thiền sư cười, bước theo và nhìn qua cửa sổ. Lúc ấy mùa đôngngoài trời rất lạnh nhưng qua song cửa, một màu trăng sáng rỡ trên cao, thiền sư buột miệng: "Tiếc thay, ta còn có một vầng trăng mà không thể cho ngươi được". Và một bài thơ hài cú đã được ra đời ngay lúc ấy:

Tên trộm đi rồi
Để quên bên cửa sổ
Một vầng trăng soi.

      (Thiền sư Royakyo -  Nhật Chiêu dịch).
Những câu thơ thật đẹp và lãng mạn nói lên tâm hồn của một người đã thoát ra ngoài biên giới của đời sống vật chất, cơm áo bình thường. Vì thiền sư trong cảnh trống không của túp lều chỉ đang thở, đang sống cùng màu trăng chiếu qua bên cửa sổ. Và chắc hẳn có người nghĩ rằng đời sống của vị thiền sưnày được nuôi dưỡng bằng mây nước trăng sao, bằng thơ văn và hồn thì lơ lững trên chín tầng mây, không thực tế. Nhưng đôi khi trong đời sống chúng ta nếu không có chút thơ thì chúng ta cũng mất đi ít nhiều khả năng hân thưởng cuộc đờiCon người không chỉ sống bằng bánh mì, gạo cơm, nước uống. Chúng ta có được đời sống hôm nay, ngay từ những ngày đầu tiên là chúng ta đã được nuôi dưỡngbằng những cảm thọ êm dịu, ngọt ngào từ tình thương của mẹ. Những chăm chút, yêu chiều đã theo ta suốt đời, và sẽ còn theo ta cho đến ngày trút hơi thở cuối. Đến độ trưởng thành, trong những môi trường mà ta tiếp xúc, những câu nói, những lời nhận xét hằn học, trách móc, đắng cay hay những lời ân cầnvỗ về... đôi lúc có thể tàn phá đời ta hoặc cho ta vị ngọt đến cuối đời. Thế nên, sự tồn tại của chúng ta không hẳn chỉ đơn thuần cơm ăn, nước uống.
Chất thơ trong con người chúng ta là sự rung động, sự cảm nghiệm về cái đẹp, cái lành và sự chân thật. Trái tim của ta ngoài điều diệu kỳ là bơm máu vào ra để nuôi dưỡng hình hài vật lý, nó còn đáng yêu hơn là biết rung cảm hòa điệu, ngời ca vẻ đẹp của thiên nhiên, của tình yêu và của vũ trụ đất trời. Nếu trong tim ta thiếu vắng chất liệu thi ca thì ta chỉ là một bãi cát hoang dại, khô cằn, là vùng sa mạc chết. Tự bản chất đời sống con người đã là khúc hát, đã là bài thơ.

Tình cảm là một loại thi ca, và khả năng suy nghĩ cũng là một loại thi ca. Thế nên, vị thiền sư tặng hết những gì mình có, ngay cả đến mảnh vải che thân; chơ vơ đứng chịu lạnh nhìn trăng qua cửa sổ, rồi ngân nga: "Tên trộm đi rồi, Để quên bên cửa sổ, Một vầng trăng soi".

Nơi đây ngoài cảnh trời đêm thơ mộng, vị thiền sư đang ngắm trăng và ông muốn gởi tặng cho ta một vầng trăng, chứ không phải cái gì khác. Những câu thơ đã nói lên ý nghĩa này và tiếc cho tên trộm đã bỏ đi mà không kịp nhận món quà ý vị đó. Nhưng điều sâu xa hơn ở đây là làm thế nào ta chiêm ngưỡngđược "vầng trăng của chính mình". Vầng trăng bên ngoài thì khi ẩn, khi hiện tùy theo ngày tháng vận hành, thủy triều lên xuống, nhưng với "mảnh trăng lòng" nếu ta biết giữ cho sáng mãi thì dù đi đến nơi đâu, bất cứ giờ phút nào chúng ta cũng có thể chiêm ngưỡng được. Vị thiền sư muốn tặng chúng ta mỗi người một vầng trăng vô tướng trong chính mình, chứ không phải vầng trăng tỏa sáng trên bầu trời khuya đêm ấy.

Liên hệ đến vầng trăng, trong thi kệ người xưa hay dùng những chữ "Mãn nguyệt từ dung" để xưng tụngtán thán dung nhan xinh tốt, đẹp lành và sáng rỡ của đức Thế Tôn. Trong văn học A Hàm, có ghi một chuyện nói lên sự trong lòng, tươi mát từ bậc Giác ngộ lan tỏa đến hết thảy mọi loài chúng sanh như sau:

Một lần nọ, một con chim cắt nhỏ bị người ta rượt bắt, nó bay tìm nơi ẩn trốn. Và nó đã bay vào tay áo của tôn giả Xá Lợi Phất, nhưng không hiểu sao nó thấy bất an lại bay ra và tìm vào y của đức Thế Tônthì nó nằm yên trong ấy, cảm thấy rất an bìnhĐức Phật thấy vậy liền hỏi Xá Lợi Phất: "Này Xá Lợi Phất, con chim kia trốn được trong y của ông, tại sao nó lại bay ra, không ở lâu trong đó?" Xá Lợi Phấtthưa: "Bạch Thế Tôn, tuy con đã chứng quả A La Hán, nhưng thiện nghiệp của con chưa tròn, tập khíbất thiện vẫn còn ít nhiều nên loài chim chiêu cảm được, nó không dám ở trong con. Trong khi năng lượng của Thế Tôn rất trong lành, tươi mát và tỏa rộng nên nó đến trú vào áo Thế Tôn thì cảm thấy an toàn".

Vầng trăng bên ngoài tuy trong sáng, tươi mát nhưng không mát, không sáng bằng vầng trăng của ta ở bên trong. Vị thiền sư muốn nhắn gởi đến chúng ta thông điệp rằng hãy quay về để nhận biết ngay trong ta có một vầng trăng, và khi nhận ra được "ánh trăng lòng" thì đời sống của ta trở nên tươi mát, tự nhiêntỏa sáng! Hoa mai một chút nhụy, thơm lừng đến ba nghìn thế giới.

Có những mức độ để chúng ta có thể giữ cho "vầng trăng" sáng mãi trong lòng mình. Khi tu tập khá một chút, chúng ta có thể tiếp xúc với vầng trăng thiên nhiên bên ngoài, tiếp xúc với cảnh vật, với con ngườivà nếu khéo thì trong tâm sẽ có niềm vui ngay lúc bấy giờ. Nếu tu tập giỏi hơn thì mọi đối tượng, mọi màu sắc, âm thanh đến với mình đều là nguồn an vui và hạnh phúc. Giỏi hơn nữa là chúng ta có thể tiếp xúc trực tiếp với khả năng chế tác niềm vui trong tự thân. Tự ta có thể làm cho lòng mình có niềm vui khi quay về tiếp xúc trực tiếp với khả năng tạo ra niềm vui ấy; cũng như khi nhìn thiên nhiên, đất trời ta thưởng lãm vẻ đẹp của vạn vật xung quanh, và ngay lúc ấy, ta có thể tiếp xúc với tạo hóa, hòa mình cùng với thiên nhiên bao la. Khi bước vào bên trong, chúng ta cảm nhận một điều quan trọng đó là ta đang sở hữu một năng lực nhiệm mầu có thể chế tác được niềm vui và hạnh phúc. Vào sâu hơn nữa, chúng ta an trú ngay nơi đầu nguồn tâm thức, Đó là điều vị thiền sư muốn nhắn nhủ chúng ta. Hãy tiếp xúc với vầng trăng nơi chính mình.

Tất cả mọi thành công đều phải trải qua những bước ban đầu chập chững. Trường giang cuồn cuộncũng bắt đầu từ những giọt nước đầu nguồn. Một đám cháy lớn thường bắt đầu từ một đốm lửa nhỏ. Và tâm giác ngộ cũng bắt đầu từ công phu hành trị từng bước một. Hương thơm tỏa rộng ba nghìn thế giớicũng chỉ phát xuất từ chút nhụy của một cánh hoa mong manh.

Chung quy, tất cả những gì có được, thành tựu được đều từ việc chúng ta biết làm thế nào tiếp xúc với Phật tính nơi chính ta. Và khi tiếp xúc được với tự tánh, cũng có nghĩa là tiếp xúc với vầng trăng của thiền sưtiếp xúc được với vũng nước trong lặng nơi vỏ sò, có thể phản chiếu cả vũ trụkhông gian lòng lồng nơi chính ta, và làm cho ta tỏa hương khắp ba nghìn thế giới.

Chúng ta hãy khéo quay về an trú nơi tâm Phật của chính mình. Đừng bỏ quên vầng trăng đang ngày đêm sáng rỡ trong tim.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/10/2020(Xem: 11041)
Nhiều người hâm mộ văn hóa thể thao biết rằng, vận động viên bi da chuyên nghiệp nổi tiếng, sinh quán tại Hồng kong và khi 12 tuổi cùng gia đình đến nhập cư tại Vancouver, Canada năm 1990, cư sĩ Phật tử Phó Gia Tuấn (傅家俊) (ba lần đoạt giải vô địch thế giới và 4 lần đạt vị trí Á quân, từng đứng hàng 10 trên thế giới) là một cư sĩ Phật tử ăn trường chay và thường công phu tu tập thiền định Phật giáo. Do đó, nhiều người đã nói về tầm quan trọng của việc giữ cho người chơi thể thao chuyên nghiệp ổn định về mặt cảm xúc trong suốt trò chơi. Việc học Phật pháp và công phu tập thiền định có giúp cho thành tích của cầu thủ Phật tử Phó Gia Tuấn không? Trên thực tế, các môn thể thao ưu tú ngày nay đang trở nên chuyên nghiệp hơn, và tâm lý học thể thao đã trở thành một phần không thể thiếu của các môn thể thể chuyên nghiệp. Theo nghiên cứu chứng thực của khoa học, việc công phu tu tập thiền định Phật giáo rất hữu ích đối với thành tích của vận động viên.
02/10/2020(Xem: 9970)
Như các phần trước đã nói, chân tâm không sinh diệt và vọng tâm sinh diệt luôn tồn tại nơi mỗi con người chúng ta. Bởi con người sống với vọng tâm nên tạo ra dòng lưu chuyển sinh tử khổ đau của chúng sinh hữu tình với những quả báo sai biệt. Tất cả đều có nguồn gốc từ nhân duyên vọng tâm thiện ác. Chân tâm không sinh diệt chính là dòng hoàn diệt, cho nên chấm dứt được khổ đau, sinh tử tạo thành quả báo cũng như các quốc độ thù thắng, vi diệu, bất khả tư nghì của các bậc hiền thánh. Như vậy, phàm phu là do sống với vọng tâm thiện ác vô thường, biến hoại, sinh diệt; còn những ai sống hay an trú trong chân tâm rỗng lặng không sinh diệt thì trở nên là những bậc hiền thánh. Điều này là một chân lý.
01/10/2020(Xem: 9098)
Theo nhiều cách, khi thực hành Phật giáo cho phép chúng ta nhìn thấy những phần tiềm ẩn của bản thân. Giống như một vận động viên thể hình uốn dẻo các cơ của mình trong gương, chúng ta quan sát thể chất và tinh thần của mình từ mọi góc độ, và ghi nhận những gì ở đó. Đôi khi chúng ta thích những gì chúng ta thấy. Và đôi khi chúng ta không thích. Tuy nhiên, chính trong những khoảnh khắc mà sự phản chiếu của chúng ta khiến chúng ta thu mình lại, chúng ta sẽ tìm thấy cơ hội để phát triển.
01/10/2020(Xem: 9737)
Mấy năm qua, tôi đã quyết định từ bỏ hầu hết tài sản thế gian của mình, và vui sống trong một trang trại. Có nhiều lý do giải thích tại sao tôi đưa ra quyết định này, từ trần tục đến tâm linh. Nhưng cải giải thích đơn giản nhất là nói rằng tôi muốn “Tự do”. Tôi cảm thấy bị vướng mắc trong một công việc của công ty không được như ý. Tôi xúc động trước sự tấn công dữ dội của các công ty phương tiện truyền thông liên tục nói với tôi rằng, tôi chỉ có một lần mua hạnh phúc. Và tôi khao khát có cơ hội thực hành Phật pháp trong hòa bình.
01/10/2020(Xem: 9526)
Hội đồng Lập pháp Sikkim đã thông qua dự luật ngày 21 tháng 9 năm 2020, để thành lập một ngôi trường Đại học Phật giáo ở bang đông bắc Ấn Độ. Được biết với tên gọi Đại học Phật giáo Khangchendzonga (KBU), cơ sở này sẽ trở thành trường Đại học tư thục Phật giáo đầu tiên tại Ấn Độ, và là trường Đại học đầu tiên tại Sikkim do người dân bản địa Sikkim sáng lập.
01/10/2020(Xem: 8891)
Khi nghe Đạo Phật nói “đời là bể khổ”, nhiều người đã hiểu lầm rằng Đức Phật có quan niệm bi quan. Sự thật không phải như vậy. Từ điển đã định nghĩa bi quan là “có thói quen nghĩ rằng cái gì sắp xảy đến đều là xấu cả, đều đáng chán và không tin tưởng ở tương lai” hoặc bi quan là “chán nản, không tin tưởng, hoặc mất niềm tin vào hiện tại, tương lai”.
30/09/2020(Xem: 10767)
Cư sĩ Mahā Silā Vīravong, sử gia Lào, nhà ngữ văn, giáo viên dạy tiếng Pali, người hiện đại hóa bảng chữ cái Lào, một nhân vật trí thức lớn của nền độc lập Lào. Trong các cuộc đấu tranh chống lại sự cai trị của thực dân đế quốc Pháp, bằng cách tích cực hoạt động trong phong trào của Lào Issara mà ông lưu vong tại Vương quốc Thái Lan vào năm 1946.
29/09/2020(Xem: 12358)
Bảy đại diện của Hội nghị Hàn Quốc về Tôn Giáo và Hòa Bình (KCRP), bao gồm Hòa thượng Viên Hạnh (원행스님 - 圓行和尚), Tổng vụ Viện trưởng Thiền phái Tào Khê đời thứ 36, đã gặp gỡ Thủ tướng Chính phủ Hàn Quốc Chung Sye-kyun (정세균; Đinh Thế Quân), và cam kết hợp lực để tìm ra một kế hoạch hợp tác, đôi bên cùng có lợi cho cả các hoạt động tôn giáo và phòng chống cơn đại dịch hiểm ác Virus corona.
29/09/2020(Xem: 8564)
Có lẽ chuyến du lịch hành hương không gian mạng, các bạn nhìn thấy một thứ tương tự như thế này từ một cửa hàng trực tuyến: “Chuỗi hạt Tây Tạng Mala Charm Vòng đeo tay Cát tường tuyệt đẹp này với các hạt màu phấn nhẹ nhàng, phù hợp để thực hành chân ngôn thần chú, và để đeo làm đồ trang sức”.
29/09/2020(Xem: 8869)
Tứ là bốn, nhiếp là thu phục, pháp là phương pháp. “Tứ Nhiếp Pháp” là bốn phương pháp lợi tha, đã được Đức Phật Thích Ca dạy cho các đệ tử tại gia cũng như xuất gia của Ngài. Bốn pháp này nếu thực hành đúng đắn sẽ có công năng giúp con người lìa xa cuộc sống buông lung, phóng túng… mà theo đó dễ có những hành động bất thiện gieo khổ đau cho người và phiền não cho mình. Tứ Nhiếp Pháp giúp con người quay về với đường ngay nẻo phải, hay chính xác hơn là trở về với Phật pháp. Phật pháp là con đường tu hành chân chính, hướng về tâm linh đi đến giác ngộ giải thoát.