Thưa Thầy, con hoàn tục !

23/08/201718:29(Xem: 12352)
Thưa Thầy, con hoàn tục !


giac-minh-luat

THƯA THẦY - CON HOÀN TỤC!

GIÁC MINH LUẬT


Thật lòng mà nói thì Tâm cũng chẳng muốn hoàn tục làm gì, vì với Tâm cuộc đời xuất gia là con đường, là hướng đi lý tưởng nhất mà Tâm có thể dành trọn lòng mình để phụng sự chúng sanh như những gì mà Tâm đã từng mong ước.


Nhưng rồi, ai mà có ngờ được đâu - cuộc sống vốn là vô thường biến chuyển, được mất, hơn thua giữa cái có không trong cái định luật tự nhiên của đất trời mà chính Tâm cũng không thể nào lường trước được.


Nên bây giờ, mở mắt ra Tâm đã thấy hình ảnh của mình trong chiếc gương soi trước mặt với thân hình hoàn toàn khác, tóc Tâm đã dài, mắt Tâm đã thâm quầng, và khuôn mặt đã hiện lên bao vẻ khắc khổ đầy gió sương, rồi Tâm chợt nhớ lại chỉ mới đây thôi, cái ngày của ba năm về trước.

Cái ngày mà Tâm đã đảnh lễ từ biệt Sư phụ và huynh-đệ để ra đi, để đi tìm thứ mà Tâm tạm gọi là hạnh phúc trần đời hay hạnh phúc đích thực của hai con người, cái mà ai cũng khổ, cũng phải vì nó mà nước mắt đã bao lần tuôn rơi vì ngộp thở trong sợi dây vô hình của nợ, của duyên.

Lâu lắm rồi, sáng nay những kỷ niệm xưa mới chợt ùa về trong tâm trí của Tâm, Tâm thấy nhớ mái chùa xưa, nhớ Sư phụ, nhớ mấy huynh-đệ cùng một thời làm tiểu với mình nữa, những người mà đã từng cùng Tâm “vào sinh ra tử”, cùng ngồi cạnh bên nhau cất cao bài kệ hòa trong tiếng chuông vang rền cầu nguyện thiêng liêng:

Nguyện tiếng chuông này vang pháp giới

Xa xôi tăm tối cũng đều nghe

Những ai lạc bước mau dừng lại

Tỉnh giấc hôn mê thấy nẻo về.

Đọc đến đây tự nhiên Tâm khóc, Tâm thấy nhớ lắm, nhớ những gì mà Tâm đã từng một thời nguyện ước, một thời hứa hẹn trước lúc xin mẹ đi tu – rồi cái ngày mà Tâm báo cho mẹ biết là mình đã hoàn tục – Tâm đã thấy mẹ khóc, mẹ đã khóc thật nhiều, khóc như là lúc mà mẹ đã quyết định cho Tâm đi tu vậy. Giọt nước mắt lăng dài trên khuôn mặt khắc khổ của mẹ và tình thương cao cả đó đã luôn khắc sâu vào trong tâm trí của Tâm.

Tâm cứ nhớ hoài lời mẹ nói: “Cho dù con có là nhà sư hay là ai đi chăng nữa thì vẫn mãi là con của mẹ – mẹ không bao giờ bỏ con đâu – Tâm à”. Nói đến đây mẹ của Tâm nghẹn lời mà khóc trong điện thoại và không nói được lời nào nữa khi nghe Tâm gọi điện báo tin như thế.

Nhưng Tâm phải biết làm sao, vì lòng của Tâm cũng đau như cắt, vì Tâm thương mẹ nhiều lắm, thương cả ba và mấy đứa em nhỏ ở nhà nữa, vì cũng lâu lắm rồi Tâm cũng chưa có dịp về thăm lại mấy đứa nhỏ, đứa nào cũng bảo là hãnh diện về anh trai đi tu của nó nhiều lắm, về một nhà sư hiền lành, đức hạnh mà trong xóm nghèo ai cũng thương cũng quý.

Rồi mấy đứa nhỏ ai cũng khóc khi nghe tin anh trai đã hoàn tục, tụi nó tức giận bảo với mẹ trong điện thoại là không được cho anh trai trở về nhà, đuổi anh trai đi luôn đi - vì tụi nó nói là không có người anh như thế.

 

Nghe đến đây, Tâm chỉ biết nói lời sau cùng trong ức nghẹn: - Mẹ ơi! Các em ơi! Hãy tha thứ cho con – cho người anh trai này. Rồi Tâm tắt máy ngồi bệt xuống đường đầy xe cộ qua lại.

Đúng là mẹ - mẹ thì lúc nào cũng bao dung, cũng độ lượng, và thương con với một thứ tình thương vô điều kiện, nhưng còn mấy đứa em, mấy đứa nó đâu có tha thứ, đâu có chấp nhận anh trai của nó. Vì nó bảo hồi đó đã một lần khi anh xin mẹ đi tu – mẹ đã khóc rất nhiều và mẹ đã nén lại nỗi đau của riêng mình để chấp nhận hy sinh cho anh ra đi với niềm hy vọng là anh sẽ trở thành một nhà sư biết dấn thân phụng sự cuộc đời – điều mà đã làm cho mấy đứa em đã từng hãnh diện khi nghĩ về anh như thế.

Nhưng nay, mọi thứ dường như đã khác đi - lại một lần nữa anh lại làm cho mẹ phải buồn, phải khổ như vậy nên mấy đứa em nói với lòng là sẽ không chấp nhận anh nó nữa.

Còn Tâm biết phải làm sao, giữa đôi đường đạo – đời tuy rất gần nhưng cũng rất xa, xa như những tinh tú, những vì sao vời vời trên bầu trời cao cô đơn đang lấp lóe những ánh sáng nhỏ nhoi sau cùng khi trời vừa hừng sáng để soi chiếu vào hành tinh bé nhỏ đầy đơn côi này.

Đúng là duyên, duyên là định luật, hay là thứ phép mầu nào vậy mà có thể đủ sức biến hóa hay điều khiển con người ta phải đi theo một chu trình như được định sẳn của mỗi con người để rồi ta cũng chính nhờ đó mà có cái để đỗ thừa cho mọi thứ với một chữ duyên tròn trịa.

Nhưng rồi thời gian hay nỗi đau nào cũng dần phai nhòa và thấm thoát trôi qua, sau một thời gian vòng quanh giữa đời - nay Tâm đã có vợ - có con, nói không phải khoe, chứ Tâm có đứa con gái kháo khỉnh thật dễ thương, nó thương cha nó như tình thương mà hồi đó Tâm thương mẹ Tâm vậy. Ngày nào Tâm cũng phải đưa con đi học và đón về, còn vợ Tâm – người con gái mà đã làm cho Tâm được nếm trải vị ngọt bùi của tình yêu và say nồng trong men đắng.

Tâm cũng thương vợ nhiều lắm, nhưng quả thật cuộc đời này nó không đơn giản như những gì mà Tâm đã từng nghĩ, từng ước mong, vì Tâm như hạt bồ đề đang vừa bị rơi ra khỏi thân và cội của nó để nằm trơ trọi một mình giữa đất khô cằn cỗi.

Tâm thất vọng, Tâm chán chường, Tâm cũng nhiều lần hận lấy cuộc đời này lắm – vì nó quá trơ trẽn, phụ bạc và hai lòng để Tâm phải dần dần tập thích nghi và sống với nó, điều mà trước kia đối với Tâm là một tội lỗi mà nay nó đã trở thành bản năng, bản năng để sinh tồn và để vì con.

Rồi cũng từ đó, cơn nước lớn đã cuốn Tâm đi thật xa, Tâm đã khôn lanh hơn rất nhiều, Tâm nay đã hơn được rất nhiều người, Tâm có địa vị, có mưu mẹo để có thể kiếm ra thật nhiều tiền để có thể mang lại hạnh phúc cho gia đình.

Nhưng sao mỗi đêm về, Tâm lại cảm thấy cô đơn, một cảm giác cô đơn đến lạ kỳ, Tâm chỉ có thể nằm bên cạnh con để vuốt tóc cho nó ngủ thật ngon bên tình thương của cha nó và chắc cũng là cách để Tâm có thể chờ vợ về sau những cuộc vui.

Giận lắm, vì sao vợ Tâm lại coi thường Tâm đến thế, dù gì Tâm cũng là một người thành đạt, một người chồng tốt, hay có phải chăng là một kẻ khờ, một kẻ vụng dại không biết yêu và làm cho người mình yêu trở nên hạnh phúc.

Cứ thế, trong sự cô đơn và đợi chờ Tâm mới thấm thía thế nào cái mà gọi là mật ngọt của tình yêu, sao quá mong manh và lờ lợ đến thế, vì Tâm thừa biết vợ mình đã chán, chán lắm rồi, để bắt đầu cho cuộc tình mới với một người con trai mới mà giống như Tâm đã từng đón nhận trong niềm hạnh phúc để chấp nhận từ bỏ tất cả cũng chỉ vì cái cảm giác được yêu này.

Chưa bao giờ Tâm thấy mình cô đơn và bất lực khi mọi sự nỗ lực hàn gắn của mình đã trở nên chai lì và vô nghĩa.

Rồi Tâm chợt buồn, buồn lắm, Tâm không thể nào ngủ được nên vội ngồi dậy mồi cho mình điếu thuốc để mượn khói sương đưa hồn mình vào trong lãng du và quên lãng.

Giờ đây chỉ có màn đêm mới có thể thủ thỉ cùng Tâm và ru Tâm ngủ bên những luồng gió nhẹ đang đưa Tâm vào trong cơn say nồng của men rượu đắng, để Tâm quên đi tất cả, để Tâm được lạc vào một cảnh giới hoàn toàn khác mà trong đó Tâm có thể tìm lại cho mình những ký ức đẹp của một thời tuổi thơ.

Tâm mơ – Tâm mơ thấy mình đang thập thò, thẹn thùng và hồi hộp khép nép bên mẹ mà không dám mở lời xin mẹ đi tu, cứ thế mà Tâm cứ nói trong ấp úng đầy ngượng ngạo thật dễ thương:

-      Mẹ ơi! Cho con đi tu nha – rồi Tâm cười.

Mẹ Tâm vừa cười, vừa nói trong bất ngờ: - Trời, thằng cu Tí con tui nay muốn làm thầy thiêng hạ rồi ha – rồi mẹ vội ôm Tâm vào lòng trong niềm hạnh phúc.

Chợt Tâm thấy nhớ mẹ nhiều lắm, vừa trong cơn mơ mà Tâm vừa khóc, vừa kêu mẹ trong cơn say nồng, lẩm bẩm kêu:

- Mẹ ơi! Con nhớ mẹ nhiều lắm – mẹ có nhớ con không, con đang cô đơn lắm mẹ à! Con nhớ mấy đứa em nữa, mấy đứa nó đã tha thứ cho con chưa hả mẹ. Mẹ nói mấy đứa nó cho con về thăm mẹ nha mẹ - nói đến đây thì Tâm lại tiếp tục ngủ thiếp đi.

Rồi cũng chính trong cơn say nồng này, Tâm lại tìm thấy hình ảnh của tuổi thơ – Tâm thấy mình là một chú tiểu hồn nhiên và dễ thương đáng yêu của thuở nào, vì rằng hồi đó Tâm nổi tiếng là đẹp trai nhất chùa, nên ai cũng thương Tâm hết mực mà nhất là Sư phụ, sư phụ lúc nào khen là Tâm học giỏi, đạo hạnh và luôn hãnh diện về Tâm, rồi đến cái ngày mà Tâm được đắp y Sa-di, sư phụ là người hạnh phúc nhất khi nhìn thấy Tâm với khuôn mặt sáng trưng trong màu y vàng lấp lánh như một vị Bụt hiện thân vậy.

Sư phụ cứ cười miết, đi đâu cũng cười cũng hoan hỷ trong niềm tự hào về một người đệ tử như thế, rồi thầy cứ ghẹo: - Chú Huệ Tâm sau này mà lớn lên chắc tôi phải đi theo canh chừng mấy con cọp hai chân cho chú quá, kẻo không là nó tha về tổ mất - Rồi thầy cười to ghẹo chọc còn Tâm thì ngượng ngùng mắc cỡ.

Vậy mà mới đó thôi cũng chính sư phụ là người đau buồn nhiều nhất khi nghe Tâm đảnh lễ xin trả y áo lại để hoàn tục, và đây cũng là lần đầu tiên trong đời mà Tâm thấy sư phụ khóc, sư phụ khóc trong sự tế nhị của một vị tu hành lớn tuổi, khóc vì thương, thương cho một người đệ tử mà mình đã từng đặt nhiều kỳ vọng ở nó, thương cho cuộc đời nó rồi sẽ ra sao giữa muôn trùng sóng gió và cạm bẫy ngoài đời đang rình rập phía trước – nghĩ đến đây sư phụ của Tâm vội quay lưng lấy chiếc y của Tâm trả lại mà lau đi dòng nước mắt đang chảy ngược vào trong.

Mơ đến đây, Tâm chợt giật mình tỉnh giấc buồn rượi rượi, vì Tâm cũng nhớ sư phụ, nhớ mấy huynh-đệ nhiều lắm. Vì cũng đã lâu lắm rồi, Tâm đâu có dám bước chân về thăm lại mái chùa xưa, vì Tâm ngại, Tâm mắc cỡ với thầy, với huynh-đệ, với Phật tử.

 

Nhưng thôi! Cuộc đời mà có ai biết trước được chữ duyên là thế, đôi khi cũng chính trong những nỗi đau thương và thất vọng nhất của đời mình, thì khi đó con người ta mới trở nên cứng cõi và mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Nghĩ đến đó, Tâm vội ngồi dậy bước vào phòng thăm lại đứa con thân yêu của mình, Tâm hôn trên trán con và vuốt tóc nó như lần sau cùng để từ biệt, Tâm nói: - Con yêu, ba xin lỗi con.

Rồi Tâm quẩy trên vai cái cặp xách và mấy bộ đồ để ra đi, Tâm sẽ về thăm mẹ - thăm mấy đứa em – Tâm cũng sẽ ghé về thăm Sư phụ - thăm mấy huynh-đệ và thăm lại những người Phật tử mà ngày xưa mà đã từng kỳ vọng ở Tâm, ở một nhà sư hiền lành đức hạnh.

Vừa bước chân ra khỏi cổng, Tâm vội đưa mắt nhìn lại ngôi nhà, nơi mà Tâm đã xây dựng nên bằng mồ hôi và nước mắt, với một tổ ấm, một tình yêu của hai con người mà chỉ mới đây thôi đã từng hứa hẹn thật nhiều điều với nó, về tương lai, về một tình yêu bền vững, rồi Tâm thầm trách, thầm hận lắm con người phụ bạc đó và hận cả chính mình nữa.

Rồi Tâm tự nói với lòng: - Tâm sẽ ra đi, đi thêm một lần nữa. Vì chắc rằng cái duyên, cái nợ của Tâm nay đã xong.

 

GIÁC MINH LUẬT

San Diego - Hoa Kỳ




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/09/2010(Xem: 12004)
Khoa học càng phát triển, con người càng có cơ hội hiểu thêm nhiều điều Đức Phật dạy. Giới khoa học bắt đầu tìm cách giải thích những hiện tượng, những triết lý, tâm lý… được Đức Phật nói đến trong kinh điển, như họ đã từng nghiên cứu, lý giải về các hiện tượng trong thiên nhiên, trong vũ trụ và con người. Thế nhưng, khi bắt tay vào công việc đó, họ đã gặp không ít những khó khăn, trở ngại. Có những khó khăn đi đến bế tắc. Như chuyện về xá lợi chẳng hạn.
19/09/2010(Xem: 11220)
Do ảnh hưởng từ thảm họa kép năm 2011, Fukushima - Nhật Bản đến nay vẫn còn nhiều nơi bị xem như vùng đất chết vì lo ngại nhiễm xạ, chủ yếu chỉ còn các vật nuôi bị bỏ rơi và được một người đàn ông dũng cảm ở lại chăm sóc.
18/09/2010(Xem: 24782)
Phật giáo là một tôn giáo khiêm tốn,chú trọng vào tâm linh và trí tuệ, nhắm vào mục đích giải thoát con người khỏithế giới biến động và khổ đau. Phật giáo không chủ trương tranh giành uy quyền,củng cố thế lực hay bành trướng ảnh hưởng trong thế giới Vô thường này.
18/09/2010(Xem: 17717)
Nhiều người hỏi tôi, Phật tử nghĩ gì về hôn nhân đồng tính? Vâng, vấn đề này tùy thuộc vào đối tượng mà bạn nói đến. Cách đây vài năm, trong cuộc phỏng vấn với hãng CBC, đức Dalai Lama đã bác bỏ quan hệ đồng tính, khiến ngạc nhiều người cải đạo sang đạo Phật ngạc nhiên. Đôi khi, họ quá dễ dãi cho rằng đạo đức Phật giáo là phù hợp với quan điểm tiến bộ tiêu biểu của họ. Khi cuộc phỏng vấn của người Gia-nã-đại được lên mạng internet, vài người bị choáng và bị rối, nhưng quan điểm của đức Dalai Lama đưa ra không làm ngạc nhiên đối với bất cứ ai lưu tâm theo dõi vấn đề này. Rốt cuộc thì lập trường của ngài vẫn trước sau như một. Tại một hội nghị cách đây 12 năm, khi các lãnh đạo đồng tính gặp đức Dalai Lama ở San Francisco để thảo luận vấn đề cấm Phật tử Tây Tạng phản đối việc đồng tính luyến ái, ngài đã nhắc đi nhắc lại quan điểm truyền thống rằng đồng tính luyến ái là “tà hạnh”
18/09/2010(Xem: 22940)
Phật bảo sáng vô cùng Đã từng vô lượng kiếp thành công Đoan nghiêm thiền tọa giữa non sông Sáng rực đỉnh Linh Phong
17/09/2010(Xem: 20548)
Gốc tiếng Phạn của chữ cà-salà kasaya.Nhưng thật sự chữ kasayatrong tiếngPhạn không có nghĩa là áomà có nghĩa là bạc màu, cáu cặnhay hư hoại. Sách tiếng Hán dịch chữ này là đạm(màu nhạt), trọchay trược (đục, dơ bẩn, ô nhiễm, rác bẩn), hoặc còn dịch là hoại sắc,bất chính sắc, hư nát, dính bẩn…Tóm lại chiếc áo cà-sacủa người xuất gia tu Phật, của hàng tỳ kheo,…tượng trưng cho những gì nghèonàn, thô sơ, tầm thường, và khiêm nhường nhất. Người đọc, nếu chưa có ý niệm gìvề chiếc áo của một nhà tu Phật giáo, cũng có thể hơi ngạc nhiên khi đọc nhữngđiều vừa nêu trên đây.
10/09/2010(Xem: 82083)
Một cuộc đời một vầng nhật nguyệt (quyển 3) Vào thời không có đức Phật Chánh Đẳng Giác ra đời, tại vùng Allakappa bị dịch bệnh hoành hành, lây lan từ người này sang người khác, nhà này sang nhà khác làm cho rất nhiều người chết, đói kém xảy ra khắp nơi. Những người còn mạnh khỏe, chưa bị lây nhiễm
08/09/2010(Xem: 14298)
Chịu đựng sự nhục nhã và lời thóa mạ là đức tính quan trọng nhất mà mỗi ngươi có thể rèn luyện, bởi vì sức chịu đựng là vô cùng mạnh mẽ, tại vì chỉ một giây phút tức giận là có thể phá hủy hết công đức của cả một đời người.
07/09/2010(Xem: 14873)
Chúng ta chỉ có một địa cầu. Người Phật tử và những người có lương tri trên hành tinh này đều giống nhau, đều khát vọng an bình toàn cầu, như cọng cỏ khát ánh mặt trời, như cá khát dòng sông êm dịu. Thế nhưng, khi chúng ta đứng trên một bình diện nào đó của địa cầu, huớng về khát vọng, chúng ta sẽ thất vọng phát hiện: quả địa cầu này tràn đầy bạo động và bất an, chiến tranh cục bộ, tranh giành quân bị, xung đột địa giới, dân tộc mâu thuẫn, giáo phái phân tranh, chủng tộc kỳ thị, tà giáo ngang ngược, khủng bố đe dọa, buôn chích ma túy, tàn phá môi trường, tài nguyên cạn kiệt, giàu nghèo chênh lệch, tội phạm gia tăng, công chức hủ hóa, HIV hoành hành và vô số bệnh thái sa đọa khác của xã hội loài người. Tất cả đó, dù trực tiếp hay gián tiếp, đã và đang phủ lên một màu sắc u ám, đe dọa đến sự an bình trên quả địa cầu này.
04/09/2010(Xem: 24816)
Tôi được một vị Tăng sinh ở Saigon mời góp ý kiến về Bát Kính Pháp khoảng hai tuần trước, nhưng vì khá bận rộn với những công việc tại đây (vừa lo thi cử cho việc trường lớp xong thì lại có duyên sự Phật sự 10 ngày tại Minnesota) nên đã khất hẹn với vị ấy là: khi nào tranh thủ được thời gian thì tôi sẽ xem xét vấn đề kỹ hơn để bàn cùng quý vị. Lúc ấy tôi nghĩ rằng: những vị Tăng sinh này sẽ tìm được câu trả lời cho những nghi vấn liên quan đến Bát Kính Pháp nhanh chóng thôi, vì ở Việt Nam hiện có rất nhiều chư Tôn Đức chuyên nghiên cứu, hiểu sâu sắc và hành trì Luật tạng miên mật, các vị dễ dàng đến đảnh lễ thưa hỏi.