Tự Tình Giêng - Hai

31/01/201721:22(Xem: 8894)
Tự Tình Giêng - Hai

 

TỰ TÌNH GIÊNG - HAI

hoa_mai_1 

 

Sau những ngày lễ hội Tết Cổ Truyền của Dân tộc, bao ước mơ của con người như đã xanh theo  ngàn nụ biếc và sắc màu hoa cỏ, hương xuân còn níu lại đâu đó giữa bao lớp sóng bụi thời gian, nhưng dòng thời gian cứ lầm lũi trôi chảy mãi đến muôn bến đời lao xao cát bụi, nắng và gió sương.

 

“Tháng Giêng có làn mây trắng

Sương đọng giọt giọt miên man

Ráng chiều đợi mùa bằng lăng

Bâng khuâng ngày cũ chưa tàn.”

 

Có những bước đi vẫn miên man về phía trước, mà bao hoài niệm hôm nào còn vời vợi dấu thời gian như thi sĩ Hồ Dzếnh đã có lần nói lên niềm tâm cảm của mình ;

 

“Chân đi đếm tiếng chuông chùa

Tôi ngờ năm tháng ngày xưa trở về.”

 

Mưa bụi tháng Giêng-Hai lất phất như sương như bụi lên mùa viễn xứ, mây trắng chốn quê nhà còn đọng trong sắc nắng bến chiều xa, đâu những cánh diều no gió ước mơ xanh, đâu những luống cải trổ ngồng vàng bay bay gởi hương trong ngàn gió chiều cho thơm trời quê mẹ.v.v...

 

Những bao đợi chờ, những bao hò hẹn, những đăm chiêu đầy hướng vọng xa xôi, những nỗi vui buồn say khướt chìm quên trong chén rượu tàn đông... Để rồi nếu có cố quên đi cho bao cơn mõi mòn lịm dần bên bờ mộng-thực.

 

“Quên đi toan tính đời thường

Giêng-Hai bãng lãng khói sương tự tình”

 

Vẫn biết rằng mọi sự việc cứ như thế mà đến, cứ như thế mà đi, và cái còn ở lại chính là những nỗi niềm nhân thế, nó không ngoài một thân phận của con người, vẫn đến đi, loay hoay chừng ấy bao nỗi cơ hồ nơi cuộc sống. hay rồi dong ruỗi trên bước ngược xuôi, con người còn thấy có chút gì đó trong sự sống, sự tồn tại nơi chính mình và ngay bây giờ. ;

 

“Thuyền chở trăng xưa về bến cũ

Hay mãi rong chơi trăm ngã sông ?

Đêm nay có cánh hồng chợt nở

Lả xuống tim người, vay chút hương !”

 

Nhưng không đâu, trong đời vẫn còn có một điều ở trong ta, trong mọi người, chỉ khi nào tự ta đánh mất đó thôi ! Điều ấy, chính là niềm tin chân thật, hướng thượng, và kiên trú, niềm tin và năng lực giúp cho chúng ta đến để vượt qua, đến để bỏ lại, đến là để kết thúc cuộc trở về, và đến là để thấy, nhận diện  ngay bây giờ ;

 

“Em có hay, chiếc lá thức trên cành

Cây chuyển mạch, dòng đời thay sắc áo

Hoa đương nụ dưới ngàn sương huyền ảo

Cánh chim về chở trĩu ước mơ xanh”

 

Những hạt sương, hạt bụi bên trời, tiếng chim thức trên cành, chiếc lá nõn xanh thắm dần lên sắc màu dâu bể, và muôn trùng màu hoa hương cỏ, phải chăng đây là một diễn trình cho ta thấy biết để cảm nhận đâu là mộng-thực, rồi cứ ở đây, nơi chốn thế gian nầy, mà nhận lấy sự bình an, hạnh phúc, hay đoạ lạc khổ đau, thong thả bình dị, hay bị cột trói hành phạt.v.v...

 

Những ngày Lễ Hội đầu năm, nay đã và đang lần lượt đi qua, mùa Giêng-Hai cũng đương chuyển mạch theo dòng thời gian, như giục giã, như thông báo sắp đến và sắp qua những trạm ga đời, để rồi tiếp nữa ta phải nghĩ gì, làm gì... !? Cầu An, và chúc tụng đầu năm, cầu nguyện qua lời Kinh tụng, sự sinh hoạt vào lễ hội Rằm Tháng Giêng, lễ hội Quán Thế Âm.v.v... Những hình ảnh ấy mang đậm nét văn hoá tâm linh, phần đông người Việt, người Hoa cũng đều biết đến Chùa, Đình, Đền, các Tôn miếu để cầu nguyện cho những ước mơ, những cảm thọ hạnh phúc an vui, và quên đi những nỗi buồn lo sầu muộn, bỏ lại phía sau bao những tháng ngày của năm cũ.

 

Tuy nhiên, cũng hoà theo những truyền thống phong tục, tập quán ngàn đời của Dân tộc, thì trong thời gian Giêng-Hai còn có những Lễ Hội mang tính nhân gian, và tuỳ theo mỗi khu vực, miền, mỗi địa phương khác nhau, như; miền Bắc có Lễ hội Đống Đa, lễ hội Chùa Hương, Lễ hội Cổ Loa, Lễ hội Lim, Lễ hội Yên Tử.v.v... Miền Trung có lễ hội Cầu Ngư.v.v... Miền Nam có Lễ hội Chùa Núi Bà Đen.v.v...

 

Tiếp theo nữa, có Lễ Hội Vía Bồ Tát Quán Thế Âm đến khắp chúng sanh nói chung, và cho những ai có lòng kính tin nơi hạnh nguyện của Ngài nói riêng. Vì nguyện lực hiện hoá đức tánh Từ Bi mầu nhiệm vô biên thân vào nơi thế giới ta bà nầy, cùng với tinh thần vô uý độ tha, luôn lắng nghe, luôn thấy biết : “Từ nhãn thị chúng sanh” (Mắt thương nhìn đời).

 

Không ngoài nguyện lực của chư Phật tiếp độ chúng sanh, thể hiện tinh thần tích cực triết lý nhân sinh với sự hoạt dụng “Thiên thủ thiên nhãn” (Ngàn mắt ngàn tay), với bao ngàn việc, ngàn thấy biết trong cõi đời qua vô vàn âm thanh như một đại hoà tấu mầu nhiệm của vũ trụ vỗ lên ngay trong muôn vàn cuộc sống và sự sống của chúng sanh, như lời ca ngợi tán dương;

 

“Quán Âm Bồ Tát diệu nan thù

Thanh tịnh trang nghiêm luỵ kiếp tu

Thiên sứ hữu cầu, thiên sứ ứng

Khổ hải thường tác độ nhơn châu”

 

(Với công hạnh và thù thắng mầu nhiệm không thể nghĩ bàn, do nhiều đời kiếp chuyên trì công phu tu tập, và như vị thiên sứ, có cầu có ứng hiện hoá tiếp độ, giải trừ những khổ ách, đó là hạnh nguyện của Bồ Tát nơi cõi ta bà uế trược nầy.)

 

Đồng thời, trong thời gian nầy cũng là mùa tưởng niệm Tổ Sư Minh Đăng Quang vắng bóng, vị Tổ sư khai sáng Đạo Phật Khất Sĩ (Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ Việt Nam) từ những năm đầu thập niên 1940 cho đến đầu thập niên 1950. Tổ sư đã vắng bóng vào ngày mùng 01 tháng 02 âm lịch năm Giáp Ngọ (1954) cho đến nay. Sự tiếp thọ ân đức và ân pháp của Tổ sư cũng chính là tinh hoa chất liệu dinh dưỡng lớn mạnh Pháp Thân đối với Giáo lý của chư Phật và chư Tổ hơn bao giờ hết đối với hàng đệ tử xuất gia và tại gia, dù cho ngàn xưa hay đến cả ngàn sau.

 

Như vậi, mùa Giêng-Hai, qua đó có những Lễ hội, phong tục, tập quán lành mạnh được tôn trọng và duy trì, là mùa của bao hướng vọng, ước mơ, tình tự, của những hẹn hò, chờ đợi, kiếm tìm niềm vui hướng về miền chân lạc, dù chỉ là khoảnh khắc thời gian sau những ngày tháng vật vã với cuộc sống áo cơm, với bao nỗi lo toan và bao trang trải giữa đời thường.

 

Sự việc ấy, nay đã trở thành những truyền thống tốt đẹp, một nếp nghĩ, một sức sống đạo đức lành mạnh trong xã hội ngàn đời của quê hương Lạc Việt, nhờ có sự tưới tẩm từ ý thức giáo dục đạo đức trong cuộc sống trước đây, và cũng để tồn tại phát triển nét đẹp văn hoá ngàn đời của Dân tộc cho đến tận bây giờ.

 

Song song với những điều ấy, Đạo Phật đã có mặt, đã hoà nhập trong cộng đồng Tộc Việt, và đã nhanh chóng thổi vào nguồn sinh khí đặc thù tính chất Bi-Trí-Dũng của Đạo Phật, đã góp phần tạo nên một sinh lộ giữa cõi tử sinh, và nơi chốn quê hương ngàn đời đã phải gánh chịu không ít những điều khổ luỵ đau thương từ nhiều nguyên nhân, từ nhiều phía ác kiến tiêu cực của những thế kỷ, thời đại xã hội.

 

Do đó, con đường siêu hoá của Đạo Phật nhằm giúp cho con người nhận biết để đến mục tiêu giác ngộ, thấy rõ bản chất của mọi sự vật hiện tượng, các pháp nhân duyên qua tiến trình sinh-hoá-tiêu-tàn. Nhận thức điều Thiện ác, Nhân quả mà hướng tâm linh đến miền chân lạc để không còn khổ đau. Được sự gia hộ từ những nguyện lực của Chư Phật, chư Bồ tát, chư Thánh Tổ, các bậc tiền Hiền.v.v... Để có được niềm kính tin và an trú nơi chánh pháp, có được sự học hiểu và tu tập theo giáo lý của bậc giác ngộ, có thực hành nhiều về những thiện pháp, và có nhiều phước thiện , cũng như được tăng trưởng nhiều công đức lành nơi cuộc sống nầy.

 

Tự Tình Giêng-Hai, không những chỉ dành cho những Lễ hội truyền thống, những phong tục, tập quánqua những ước mơ cầu mong cho lảnh vực đời thường, mà còn cho cả về mặt đạo đức tâm linh, cốt đem lại sự bình an cho người hiện tiền biết đuọc giá trị siêu hoá đạo đức, chuyển hoá thân tâm, từ bỏ ác nghiệp, thành tựu thiện nghiệp, sống an lạc, hạnh phúc cho đời nầy và đời sau. 

 

                                                                             Chùa KỲ VIÊN,

                                                                             South Dakota, tháng Giêng 2017.

 

                                                                             MẶC PHƯƠNG TỬ.

 

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/07/2021(Xem: 12609)
- Kính thưa chư Tôn đức, chư Thiện hữu & quí vị hảo tâm. Vào ngày Thứ 7 (July 03) vừa qua, chúng con chúng tôi đã thực hiện một buổi phát chẩn tại 2 ngôi Làng Kusa & Niranjan Village. Làng Kusa chính là ngôi làng có ngôi đền Kusa Temple cách Bồ đề Đạo Tràng chừng 6 cây số, đánh dấu nơi ngàn xưa Thế Tôn đã thọ nhận 8 bó cỏ của người nông phu, rồi từ địa điểm đó Ngài đã mang cỏ về trải làm toạ cụ dưới Cội Bồ Đề và tu hành chứng Đạo. Hiện nay dân chúng nơi đây nói riêng và nhiều nơi trên xứ Ấn nói chung vẫn khổ sở vì Dịch Covid còn kéo dài lê thê, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nên kinh tế của xứ này
06/07/2021(Xem: 9133)
Bài viết này có chủ đề về các pháp thực dụng cho người bệnh nặng, hay đang nằm trên giường cận tử. Trong tình hình dịch bệnh hiện nay, nhiều nơi tại Việt Nam đang phong tỏa và cách ly. Riêng tại Sài Gòn vào đầu tháng 7/2021 đã có 636 điểm phong tỏa, nghĩa là cả nước có cả ngàn điểm phong tỏa để khoanh vùng chống dịch. Do vậy, câu hỏi dễ gặp là: người cư sĩ nên nói gì với một cư sĩ khác đang nằm bệnh hay đang hấp hối? Và nhiều trường hợp khác, tương tự. Một số pháp ghi lại nơi đây thích nghi với cả hàng cư sĩ, trong đó có kinh dạy cho người cư sĩ cách hướng dẫn các pháp quán để người cận tử có thể giải thoát ngay khi lìa đời.
03/07/2021(Xem: 9208)
- Kính thưa chư Tôn đức, chư Thiện hữu & quí vị hảo tâm. Vào ngày Thứ Bảy (June 12) vừa qua, được sự cho phép của chính quyền địa phương làng Durgagar và Armoba Village Bihar India, nhóm Từ thiện Bodhgaya Heart chúng con, chúng tôi đã tiếp tục hành trình cứu trợ thực phẩm cho dân nghèo mùa Dịch covid. Xin mời chư vị xem qua một vài hình ảnh tường trình.. Buổi phát quà cứu trợ cho 358 căn hộ tại 2 ngôi làng cách Bồ đề Đạo Tràng chừng 9 cây số.
03/07/2021(Xem: 11297)
Kính lễ đạo sư và đấng bảo hộ của chúng con, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát! Sự thông tuệ của ngài chiếu soi như mặt trời, không bị che mờ bởi vọng tưởng hay dấu vết của si mê, Ngài giữ trong tim một bộ kinh biểu tượng của việc thấy tất cả mọi thứ như chúng là, Người dạy trong sáu mươi cách, với lòng từ bi yêu thương của một từ thân với đứa con duy nhất, Đến tất cả các tạo vật bị giam trong tù ngục của luân hồi, Bối rối trong bóng tối của si mê, tràn ngập bởi khổ đau của họ.
03/07/2021(Xem: 24233)
Vào thời đại khủng hoảng niềm tin của tất cả tôn giáo, lòng người càng lúc hồi hộp bất an, giáo lý đức Thích Ca Mâu Ni như mặt trời chiều xuống bóng hoàng hôn ,Mật Tông Kim Cang Thừa như ngọn đèn sắp tắt, chỉ còn lại những bộ đại tạng kinh phủ đầy bụi trên những kệ kinh, nằm bất tỉnh không ai hỏi thăm trong những tu viên,viện bảo tàng cô đơn thiếu bóng người. Cuốn sách Mật Tông Kim Cang Thừa Chú Giải Toàn Thư Tập Hai, là sự trình bày và phô diễn mật nghĩa thậm thâm của Đại Phật Đảnh Lăng Nghiêm đà la ni , Bát Đại Kim Cang Thần Kinh và các phụ bản vô thượng du già. Là sự trợ duyên cho những ai, đã có gieo hạt giống pháp môn này, có thể khai hoa kết trái thành tựu sự tu tập giải thoát. Linh Quang từ nhỏ xuất gia tu học , tầm sư học đạo, và đi du học nhiều nước, nên trong đầu nhiều ngôn ngữ lộn qua lộn lại, bây giờ Tiếng Việt cũng quên dần,chính tả viết sai nhiều lắm, nên quý vị thông cảm bỏ qua những lỗi lầm về câu văn từ ngữ.
01/07/2021(Xem: 7964)
Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa, đã được chính Đức Thế Tôn tuyên dương là Bổn Kinh Thượng Thừa, bao gồm những bí yếu cực kỳ nhiệm mầu, vi diệu mà Chư Phật trao truyền lại cho những ai đủ tín tâm thọ nhận. Pháp-bảo được lưu truyền đến nay, vẫn sáng ngời toả rạng lưu ly qua bao thăng trầm của thế sự vô thường, với tâm nguyện hoằng truyền Chánh Pháp của các bậc minh sư, tuỳ căn cơ chúng sanh mỗi thời mà soạn dịch. Một, trong những bổn kinh Diệu Pháp Liên Hoa thường được trì tụng tại các tự viện là bổn cố đại lão Hoà Thượng Thích Trí Tịnh biên soạn, hoàn tất với 557 trang, gồm 7 quyển, chia thành 28 phẩm , mỗi phẩm đầy đủ văn kinh và thi kệ. Cũng do nhu cầu và phương tiện tu học của Phật tử mà Hoà Thượng Thích Trí Quảng cũng đã lược soạn Diệu Pháp Liên Hoa Kinh thành Bổn Môn Pháp Hoa Kinh để Phật tử tại các Đạo Tràng Pháp Hoa có thể hàng ngày trì tụng mà không bị gián đoạn vì không đủ thời gian. Bổn Môn Pháp Hoa Kinh được Hoà Thượng trân trọng biên soạn, cô đ
29/06/2021(Xem: 12875)
Kính Pháp Sư Sướng Hoài, tôi tu sĩ Thích Thắng Hoan đọc qua tác phẩm PHẬT HỌC VĂN TẬP của ngài viết nhận thấy ngài một nhà bác học uyên thâm Phật giáo nắm vững mọi tư tưởng cao siêu của cácphái, các tông giáo cả trong đạo lẫn ngoài đời. Toàn bộ tác phẩm của ngài đều xây dựng vững chắc trên lãnh vực biện chứng pháp của Nhân Minh Luận. Nội dung tác phẩm trong đó, mỗi một chủ đề ngài biện chứng bằng những lãnh vực mặt phải mặt trái, chiều sâu chiều cạn, mặt phủ định, mặt xác định,cuối cùng để làm sáng tỏ vấn đề bằng kết luận. Tôi vô cùng kính nể kiến thức của ngài.
29/06/2021(Xem: 14361)
Phật giáo dùng từ bi làm căn bản, xem trọng giới sát nên thực hành phóngs anh.Từ nghĩa là trao cho khoái lạc; Bi nghĩa là san bằng khổ não. Người đời rất quý mến thân mạng, chồng vợ con cháu, tiền của, nhưng từ chối mỗi người không thể che chở bao gồm chung cả. Giả như nếu bất hạnh gặp gian nguy, vì cứu thân mình, thà bỏ tất cả vật ngoài thân, để cầu được sinh tồn riêng mình.Con người đã tham sống sợ chết, sanh mạng con vật nhỏ bé như con muỗi, con ve, sâu bọ, kiến mối, còn biết tránh chạy cái chết cầu mong được sống, thì các động vật khác chúng nó sao lại không như thế?
28/06/2021(Xem: 8263)
Trước khi nói đến tinh thần Trung đạo của Phật giáo, thiết nghĩ cần phân biệt sự khác nhau giữa tinh thần “Trung dung” và “Trung đạo.” “Trung dung” là những thiên trong Kinh Lễ. Sách Trung Dung do Tử Tư làm ra Mục đích của sách Trung Dung là giúp con người hiểu được đạo “Trung dung” để đạt đến một trình độ đạo đức cao hơn. Khổng Tử nói về đạo "trung dung", tức là nói về cách giữ cho ý nghĩ và việc làm luôn luôn ở mức trung hòa, không thái quá, không bất cập và phải cố gắng ở đời theo nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, cho thành người quân tử. Cũng theo tinh thần “Trung dung” như thế, không thể có một thái độ “Trung dung” cố định; tùy thời tùy thế mà linh hoạt. “Trung dung” với ý nghĩa trên là dung hợp, quân bình giữa thái quá và bất cập. Ví dụ : thuyết Duy Vật chủ trương tranh đấu; thuyết Duy Tâm của Đức Khổng Tử, chủ trương điều hòa hai yếu tố cực đoan bằng lẽ Trung Dung.
27/06/2021(Xem: 15189)
Pháp Học và Pháp Hành Khi đề cập đến những người tu trong Phật Giáo, thì chúng ta thấy có phân ra hai khuynh hướng tu học, một số vị thì nghiêng về pháp học, còn số vị khác lại chuyên về pháp hành. Vậy pháp học là gì ? Là cả đời tu chỉ chuyên về việc nghiên cứu, học tập kinh điển, xem các luận bản... để biết được hết Tam tạng kinh điển ( Kinh, Luật, Luận ), nhiều vị còn phiên dịch kinh điển, hay viết ra nhiều bộ luận dựa trên kiến thức, sự hiểu biết đã tích lũy. Nhưng tâm thật sự chứng ngộ, hay đạt đạo thì có thể chưa, chỉ hiểu, chứ chưa thực chứng. ( Còn số vị mà chuyên về pháp học nhưng tâm đã giác ngộ thì rất hiếm có, thời nay càng vô cùng hiếm ).