Khủng bố và áo đen

02/12/201506:26(Xem: 11371)
Khủng bố và áo đen

KHỦNG BỐ VÀ ÁO ĐEN 
Thích Pháp Cẩn (*)

 

Hôm thứ 6 ngày 13 tháng 11 năm 2015 vừa qua, ở Paris có xảy ra vụ khủng bố lớn ai cũng kinh hoàng. Liền chỉ ba ngày sau, thứ 2 ngày 16, ngay đầu tuần, Rollins College có tổ chức buổi hội thảo về Hoà Bình. Họ kể về biến cố tang thương và mời chia sẻ quan điểm mỗi người. Ngay từ khi bước vào phòng mình đã thấy vui vì trong phòng còn dán một poster lớn về sự kiện Thiền Đi do giáo sư Maroon tổ chức mời mình hướng dẫn ngày 11 tháng 11. Sau buổi hội thảo, nhân viên trong phòng này bảo sự kiện đã xảy ra rồi nhưng họ có tham dự và thấy trân quý buổi thiền ấy nên vẫn còn giữ lại ít lâu, chưa vội tháo xuống dù đang có mấy sự kiện cũng quan trọng.

Đến lượt mình nói, mình giới thiệu tôi là một tu sĩ Phật Giáo. Mình bắt đầu bằng việc sáng nay gặp một cô gái Hồi Giáo không mặc màu nâu đen, khăn choàng cũng không màu nâu đen. Mình hỏi thì cô bảo đổi màu để khỏi bị người ta hiểu lầm là khủng bố. Lý do nữa là để tỏ rõ thái độ không ngầm đồng tình với những người khủng bố. Rồi mình nói tiếp là tôi đã đổi màu áo từ lâu rồi. 


Khung bo va ao den
Tác giả khi ở chùa mặc áo nâu



Trước kia tôi mặc màu nâu và đen. Nhưng khi qua Mỹ sống tôi không muốn bị nghi là khủng bố. Ở sân bay, nếu tôi mặc đồ nâu đen và không tóc, họ sẽ xét tôi kĩ hơn. Tôi không muốn bị phiền phức. Hơn nữa, dân Mỹ đây thấy áo đen trọc đầu là họ có thể sợ hãi hay hận thù vì khủng bố. Ít nhất họ cũng kém thiện cảm. Bản thân mình hiện tại khi đi chùa hay hướng dẫn Phật Tử tu học, mình vẫn mặc đồ nâu đen; khi đi học hay hướng dẫn người không phải Phật Giáo, mình đổi sang màu sáng. Phật Giáo đi đến đâu có thể học hỏi để thích ứng với văn hoá nơi đó. Ở Ấn Độ quý thầy quấn y vàng (thời Phật); đến Trung Hoa tăng ni có kiểu y phục phù hợp với văn hoá nước này. Tương lai, ở Âu Mỹ, có lẽ người xuất gia Phật Giáo nên có y phục kiểu hợp với văn hoá xứ này, khác truyền thống Á Châu? Dù sao, màu y phục có lẽ không nên dùng màu nâu đen để tránh bị hiểu nhầm là khủng bố vì người xuất gia Phật Giáo đã không tóc.

Rồi mình nói về sự tuyên truyền tiêu cực về thế giới Hồi Giáo. Mình kể về thí nghiệm của Pavlov về phản xạ có điều kiện. Bình thường mỗi khi thổi còi thì chó không tiết nước miếng. Mỗi khi cho chó ăn, chó tiết nước miếng. Thí nghiệm xảy ra là mỗi khi đưa thức ăn cho chó thì thổi còi và nhìn thấy chó tiết nước miếng. Cứ lặp lại nhiều lần. Sau đó, Pavlov chỉ thổi còi mà không đưa thức ăn. Chó vẫn tiết nước miếng. 

khung bo va ao den 2
Tác giả không còn mặc áo nâu và 
cô bạn Hồi Giáo không còn mặc đồ đen


Rồi liên hệ với tình hình khủng bố. Mỗi khi có một vụ khủng bố thì kèm theo “Hồi Giáo.” Cứ “khủng bố” và “Hồi Giáo” lặp lại nhiều lần. Riết rồi nhiều người có ác cảm với Hồi Giáo. Cứ khủng bố xuất hiện với áo đen trọc đầu nên riết dân Mỹ này có ác cảm với trọc đầu áo nâu đen. Mình nói tiếp là mình không biết chính trị. Mình chỉ muốn nói rằng người Hồi Giáo, trong số những người mình gặp, là những người mình cảm nhận rất hiền hoà thân thiện. Họ mong muốn an ổn và chẳng hiếu chiến gì đâu. Ví dụ là trong số những người Hồi mình gặp, mình đã từng nói chuyện với một cô gái Hồi Giáo khi cùng lớp năm ngoái. Sau đó cô này vào thực tập với Câu Lạc Bộ Thiền mình mở nên có nói chuyện nhiều hơn. Cô cũng buồn, bảo tôi đâu muốn khủng bố ai đâu. Nhóm người nào đó gây ra những vụ khủng bố rồi bảo Hồi Giáo chứ tôi đâu biết. Sự tuyên truyền (propaganda) đã quá lớn nên tôi cũng chả biết nói sao nữa.

Rồi mình nói về việc thực tập để có hoà bình. Hoà bình trước hết nên bắt đầu nơi chính mình. Mình có nhắc rằng thầy mình, ngài thiền sư Nhất Hạnh, không bao giờ uống sữa; thiền sư nhai sữa. Hoà Thượng dùng lát bánh mì chấm sữa và nhai cho nhuyễn rồi nuốt. Nếu uống ực một ly sữa, dạ dày mình sẽ rất mệt. Nó sẽ giận lên. Nhai sữa hay nhai những thức ăn khó tiêu vài chục lần mới nuốt là cách để giảm thiểu cơn giận hay để nuôi lớn hoà bình trong ta. Đây là Đoàn Thực, một trong bốn loại thức ăn theo nhà Phật. Mình tiếp tục trình bày về Xúc Thực, những loại thức ăn mình đưa vào bằng các giác quan  như mắt, tai,...Hãy nhớ đừng nghe nhạc bạo động; đừng xem phim ảnh bạo động. Hãy cảnh giác Hollywood! Đừng chơi games điện tử bạo động. Đây không phải chuyện chơi cho vui; nó sẽ làm mình gia tăng bạo động.

Loại thức ăn thứ ba là Tư Niệm Thực. Khi mình nghĩ về điều gì thì mình đang ăn thức ăn. Hãy cố gắng suy nghĩ tích cực. Hãy suy nghĩ trong tình thần phi bạo động. Thí dụ, theo Phật Giáo, dù kẻ sát nhân kia có giết vài trăm người; khi kẻ đó bị xử tử, ta không nên tán thán cái hành động xử tử. Ta không nên nghĩ rằng tử hình gã kia là đáng! Nhìn sâu để thấy gã khủng bố kia có thể là nạn nhân của một hệ thống giáo dục tuyên truyền cuồng tín. Hắn có thể làm lại cuộc đời nếu may mắn được lọt vào một hệ thống giáo dục khác. Phật giáo chúng tôi mong bãi bỏ án tử hình. Loại thức ăn cuối là Thức Thực. Loại này chia làm hai là Chánh Báo (thân tâm mình) và Y Báo. Cái Y Báo rất quan trọng. Nó là một loại thức ăn. Nếu ta tiếp xúc với bạn bè hung bạo dù chỉ trong lời nói hay tư duy, ta cũng bị ảnh hưởng. Chẳng những bè bạn mà còn gia đình, học đường, công sở, xã hội...là thức ăn cho thân tâm ta cả. Hãy cố gắng dựng xây một cộng đồng có lối sống văn minh, hiền hoà, có hiểu biết, có thương yêu, có lắng nghe, có nhìn lại như cộng đồng hôm nay mời chúng ta tới đây ngồi nói chuyện trao đổi. 

(*) Thầy Thích Pháp Cẩn là Tăng sĩ Phật Giáo hiện đang theo học tại trường đại học Rollins Colleges Winter Park, Florida, phía Bắc thành phố Orlando.


Source: thuvienhoasen.org


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/05/2015(Xem: 20195)
(Bộ kinh Milindapanha xuất hiện vào khoảng năm trăm năm sau Phật Niết-bàn, do ngài Pitakaculàbhaya ở trung Ấn Độ trước thuật bằng tiếng Pàli. Nội dung kể lại những câu hỏi, đáp giữa vua Milinda và tỳ kheo Nàgasena. Những câu hỏi thì đa trí, sắc bén mà lời giải đáp lại thâm sâu, quảng kiến, lợi tuệ; nhiều khi chỉ là những ví dụ cụ thể, bình dân, giản dị, rất bổ ích cho các nhà học giả, người nghiên cứu, kẻ đa nghi cũng như sự học Phật của các hàng hậu tấn.) - Thưa đại đức! Trẫm nghe rằng giáo hội của Đức Tôn Sư trong sạch, quý báu, cao thượng lắm phải chăng? - Tâu, vâng. - Trong giáo hội ấy, tất cả Tăng chúng và Ni chúng đều là người đã chứng đắc các quả vị thanh tịnh cả chăng?
06/05/2015(Xem: 12301)
Đời sống là một chuỗi những câu chuyện xen lẫn nhau, không phải là những khái niệm. Khái niệm thì khác xa với sự thật. Do vậy, một câu chuyện được kết cấu với tình tiết phong phú và có ý nghĩa thì gần gũi với đời sống thực tế. Đó là lý do tại sao chúng ta dễ dàng liên hệ với đời sống qua các câu chuyện hơn là những lý thuyết trừu tượng. Và đó cũng là lý do mà thầy Ajahn Brahm - tu sĩ người Anh, Tu viện trưởng rừng thiền Bodhinyana và là Giám đốc hội Phật học Tây Úc - chọn cách giảng dạy, trình bày pháp thông qua những câu chuyện.
01/05/2015(Xem: 17661)
HỎI: Tôi vì học tập và công việc nên sống xa nhà, hiện đang ở trọ một mình. Gia đình tôi thờ Phật, trước đây mỗi ngày tôi đều tụng kinh, lạy Phật. Hiện nơi tôi ở trọ cách chùa rất xa, việc đến chùa lạy Phật hàng ngày rất khó khăn. Gần đây, tôi được người quen tặng một bức tượng Bồ-tát Quán Thế Âm, tôi vui lắm và mong được thờ Ngài trong phòng để tiện tụng niệm, lễ bái. Nhưng tôi rất băn khoăn vì phòng trọ rất nhỏ hẹp, bạn bè thường hay tới chơi, đôi khi có cả bạn trai của tôi đến nữa. Xin hỏi, tôi thờ Bồ-tát có trong phòng trọ có được không? Nếu được thì quy cách như thế nào để không phạm lỗi bất kính?
01/05/2015(Xem: 44829)
Một tập sách với tựa đề như trên, trong xã hội hiện nay, không có gì đặc biệt; so với Kito giáo tại Việt Nam, cũng là việc làm bình thường, vì hàng năm, một số giáo xứ thường xuyên tổ chức các lớp hướng dẫn giáo lý và hôn nhân cho thế hệ trẻ từ tuổi 18 trở lên; nhưng đặc biệt của tập sách nầy nằm trong hai lĩnh vực: 1/ Phật giáo chưa từng xuất hiện sách hoặc lớp hướng dẫn về hạnh phúc gia đình, mặc dù có những kinh điển nói qua vấn đề nầy, quá tổng quát, chưa thích ứng với từng cảnh trạng của từng xã hội biến thái khác nhau hiện nay. 2/ Sách không trực tiếp dạy giáo lý như các lớp “giáo lý và hôn nhân” của các giáo xứ, nhất là giòng Tên; nhưng sách hướng dẫn tháo gỡ nhiều vấn đề mắc mứu liên quan đến tâm lý xã hội và đạo đức nhà Phật.
30/04/2015(Xem: 17423)
Quán Âm Tình Vô Lượng Mẹ về với những yêu thương Dịu dàng trên sóng trùng dương Mẹ về Mắt buồn xót cõi đời mê Dáng Từ phủ khắp sơn khê .. Mẹ ngồi Con tim Mẹ chứa cõi đời Lắng sâu như lượng trùng khơi dạt dào Tình Người vời vợi trăng sao Đường trần bóng Mẹ ngọt ngào chở che..
30/04/2015(Xem: 13724)
Hunzas – Bộ tộc 900 năm trở lại đây không có ai bị ung thư Trên thế giới có nhiều dân tộc kỳ lạ, mà những đặc điểm của họ khiến người ta phải kinh ngạc, bộ tộc mà chúng tôi muốn giới thiệu ở đây là bộ tộc Hunzas, họ là tộc người khỏe mạnh nhất trên toàn thế giới.
27/04/2015(Xem: 19746)
Thư Mời Tham Dự Khóa Tu Mùa Hè tại San Jose, California
27/04/2015(Xem: 14716)
Hai tiếng mẹ cha trở nên lớn lao, là do sinh thành dưỡng dục. Không có công sinh công dưỡng, đức Phật đã không ca ngợi hai tiếng mẹ cha như vậy.
26/04/2015(Xem: 16721)
Ajahn Chah sinh năm 1918 trong một ngôi làng phía Bắc Thái Lan. Ngài xuất gia từ lúc còn nhỏ và trở thành một vị tỳ khưu năm 20 tuổi. Ngài theo truyền thống hành đầu đà của các sơn tăng trong nhiều năm. Hằng ngày mang bát xin ăn, chuyên tâm hành thiền và đi khắp nơi để truyền bá giáo pháp. Ajahn Chah hành thiền dưới sự chỉ dẫn của nhiều thiền sư danh tiếng trong đó có ngài Ajahn Mun, một vị thiền sư nổi tiếng và được kính trọng vào thời bấy giờ. Ajahn Chah đã chịu nhiều ảnh hưởng của ngài Ajahn Mun. Ajahn Chah là một thiền sư tuyệt diệu, Ngài đã dạy đạo một cách trực tiếp, rõ ràng, và tận tụy chia sẻ sự chứng nghiệm giáo pháp của mình cho những người đến sau. Lời dạy của Ngài thật đơn giản: "Hãy để sự vật tự nhiên, đừng dính mắc. Hãy xả bỏ tất cả. Sự vật thế nào, hãy để y như vậy". Ajahn Chah viên tịch vào ngày 16 tháng Giêng, 1992 ở Wat Pah Pong, tỉnh Ubon Ratchathani.
26/04/2015(Xem: 18002)
Nằm trên thung lũng xanh Larung cao 4.000m, cách thị trấn Sertar, Garze, Tây Tạng khoảng 15 km, nhìn từ xa Học viện Phật giáo Larung Gar như một ngôi làng nhỏ xinh chứa đựng vô vàn điều thiêng liêng và dung dị nhất của đạo Phật.