Những người xưa năm cũ

31/10/201406:39(Xem: 11433)
Những người xưa năm cũ


lotus_2

Những người xưa năm cũ


1973...

Mùa Xuân ta lên núi

Hăm hở làm sơn ̣̣đồng

Bỏ con đường khói bụi

Cho sách vở vời trông...

Rời mái trường Vạn Hạnh, còn đang lang thang dạy giờ ở các trường Bồ-đề, ngong ngóng một xuất học bỗng du học, tôi bất ngờ bị Sư Bà áp giải lên núi, sau lời phán quyết chắc nịch: “Con phải học một khóa tu Thiền ba năm với Thượng Tọa, xong rồi muốn đi đâu cũng ̣̣được... Còn bây giờ, dứt khoát là…Không!”.

Buổi sơ ngộ, tôi ấp úng:

- Sư Bà sợ con du học sẽ hoàn tục nên ép con lên núi tu cho... bảo đảm. Riêng con thì dù ở đâu, con cũng thấy bất an… Con không chịu nỗi sự trống rỗng, luôn phải bám vào một cái gì đó…như…một cuốn sách.. chẳng hạn… Con không tìm thấy Niềm vui trong đời sống xuất gia lẫn thế tục..

Thầy kiên nhẫn nghe chúng tôi nói hồi lâu, ôn tồn dạy:

- Thầy không trách các tu sĩ hoàn tục vì người ta sống ở đời phải có Niềm vui. Niềm vui của thế gian là ngũ dục, Niềm vui của tu sĩ là pháp vị… Không tìm được phạ́p vị, người ta phải trở lại thế gian là lẽ đương nhiên...

Và, tôi đã quyêt định bay lên núi để tìm… pháp vị.

HAI

.

... “Ta giã từ tri thức

Lên núi làm mục đồng

Giữa đường hư nẻo thực

Tìm dấu…lắm gai chông...”

Đầu mùa an cư, tháng 4-1974 tôi bị “tống” lên thiền viện Bát Nhã theo đúng cả hai nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. So với tu viện Chân Không uy nghi, bề thế, Ni viện Bát Nhã mới ở bước đầu xây dựng, cơ ngơi gồm một nhà tiền chế có ba gian: chính giữa thờ Phật, bên phải là phòng khách - dành riêng cho quý Trưởng lão Ni - bên trái rộng gấp đôi là tổ ấm của chúng tôi: những cô Ni ngơ ngác ở đủ lứa tuổi.

Ngoại trừ Sư cô Như Bảo, khoảng trên 50 tuổi, người thay mặt Sư Bà quán xuyến các công trình đang xây dựng và chị Diệu Thông là người đã thọ Tỳ kheo Ni giới; bọn chúng tôi lèo tèo có mấy đứa, sắp hàng theo hệ thống quân giai như sau: Cô Diệu Chánh tuổi ngoài 30, Chị Thuần Trí, Giải Thiện, Hạnh Giải, Thanh Tịnh, bé Hạnh Pháp...

Sau an cư Ni giới tứ phương lục tục kéo về gia nhập khá đông, trong khi cơ ngơi củ Ni viện vẫn bất Tăng bất giảm. Từ Saigon có cô Tắc Trung, chị: Từ Thanh, Minh Tứ, Như Đức, Hải Liên… dân Đà-Lạt là cô Mỹ Đức, Mỹ Nguyên, Huệ Trí, Hạnh Huệ; gốc Huế là Minh Ánh, Như Ngữ, Như Tuệ... đó là chưa kể đến lượng khách Ni và Phật tử nữ mỗi tháng đến cư ngụ mộ tuần khoảng vài chục người…

Chúng tôi ngoan ngoãn theo sự xắp xếp của thầy cùng Sư bà, dồn hết thời gian và tâm lực để chuyên tu, mỗi ngày tọa thiền bốn thời, nghiêm trì 10 giới căn bản, chấp hành chặt chẽ thanh quy . Ngoài các y phục tối cần thiết, chúng tôi không giữ tiền bạc tài sản riêng, không ăn quá ngọ (kể cả kẹo bánh), không nằm giường cao chiếu rộng (có đâu mà...nằm?), đoạn tuyệt hẳn với gia đình, bè bạn, sách vở... Chỉ nghe Thầy giảng kinh rồi ung dung hành trì chứ không cần học thuộc lòng hay trả bài, thi cử (thật tuyệt diệu với những kẻ lười biếng cỡ tôi và Giải Thiện)...

Chúng tôi không hề tự ái khi phải bú thép dòng pháp nhũ cùng chư Tăng bên Tu Viện Chân Không, vì trong Lễ Thỉnh Nguyện hằng tháng, chúng tôi luôn có thầy ngồi chủ tọa khuyên răn dạy dỗ và bất cứ lúc nào chúng tôi cũng có thể rủ nhau đến thất thầy mè nheo và trình các kiến giải hết sức... con nít của minh. Đó là chưa kể đến chuyện chúng tôi hưởng được hai nguồn tài lộc hậu hỷ: 1- từ Sư bà Thiền Đức, dù rất bận rộn chuyện chùa và Ni bộ ở Saigon nhưng vẫn luôn thăm nom, chăm chút và tiếp tế lươngthực cho lũ con gái háo ăn trên núi; 2- từ những nắm tiền dấm dúi của thầy với lời dặn dò: “Các con nhớ mua thức ăn tươi, đầy đủ bổ dưỡng... vì chủ trương của thầy là đào tạo Tăng tài chứ không phải Tăng tàn!”

Chúng tôi cũng ít tiếp xúc với chư Tăng bên Chân Không, dù mỗi tháng có 14 buổi học cùng dưới mái Thiền Đường... Nhưng, sơ bộ, chúng tôi cũng biết được hầu hết các tên tuổi của các vị thuộc hàng “chúng sở tri thức” .

Trước hết là ba ông anh và em của Tuệ Đăng, vì suốt 4 năm Đại học cùng nhau tôi và Tuệ Đăng đã có quá dư thời gian để trao đổi sơ yếu lý lịch của gia đình mình. Và theo gien di truyền của nữ giới: “một người biết thì cả thế giới đều phải biết!”… Để thêm phần long trọng, chúng tôi không quên đặt biệt hiệu đi kèm phương danh quý tánh của khổ chủ (bất kể họ có bằng lòng hay không)... Chẳng hạn như: Người khó tánh nhất Chân Không là thầy Tri sự Thiện Đức - anh họ của cô Chánh, người khó tương đương thường ̣đi chung là thầy Định Huệ - cả hai luôn luôn có đôi mắt “hình viên đạn” mỗi khi bắt gặp chúng tôi bước chân vào lãnh địa Chân Không để thăm dò, xin xỏ…

Ngược lại, người dễ chịu nhất trần gian là thầy Phước Tú - một trong các vị tiền bối thuộc lớp học trước - đã từng âm thầm đầu trần chân trụi, vai vác đá, đắp lại con đường lên núi cho dân Bát Nhã chúng tôi không bị té bổ nhào mỗi khi tải đồ đạc. Thầy cũng rất dễ mủi lòng trước bộ dạng ăn chực thiểu não kinh Niên của Ni giới nên: “Xin gì cũng được, mượn gì cũng cho, có gì cũng chia”….(Xui xẻo thay, phước bất trùng lai”, Thầy đã bị đưa xuống Thường Chiếu lập chùa trước khi chúng tôi kịp phác thảo chương trình nhờ vã dài hạn)... Ông thầy cao lớn nói tiếng Huế (coi bộ khó khăn) nhưng hiền queo là thầy Trí Chơn; ông Thầy hiền khô, trong kho có gì cũng khai, rất dễ xin thức ăn hay mượn thau, thùng… là thầy Phước Hiệ̣n.

Hạnh Pháp thì gọi thầy Phước Tịnh là Ông Thầy “ ăn tương” vì` từ hồi lên núi, ăn phải khạp tương bị mốc, gương mặt duyên dáng của ổng bỗng dưng nổi mụn tùm lum…( Phần tôi, dù từng gặp hai Thầy Giác Thanh và Phước Tịnh từ hồi còn học Vạn hạnh, nhưng vẫn gọi thầy Phước Tịnh là… “Thầy mặt mụn “ vì từng nghe bà Năm Osawa nói “Sư phụ cưng ổng nhất… núi!”…

Bốn mươi năm đã trôi qua, khi viết những dòng chữ này, tôi chân thành gởi đến hòa thượng Phước Tịnh tại Tu Viện Lộc Uyển -USA một lời sám hối. Ước mong sao nhờ công đức sám hối này, nếu có tái sinh trong loài người, tôi sẽ không bao giờ có gương mặt bị nổi mụn vì dám… phạm thượng đến cao danh một bậc cao Tăng thuở còn Niên thiếu)… Riêng thầy Minh Nghĩa, tôi và chị Đức đều nhất trí gọi là ông thầy “nhắm mắt” vì trong các thời học kinh, thầythường ngồi kiết già và nhắm tít mắt (có trời mới biết là ổng có ngủ gục hay không!...)

Thật là khiếm khuyết nếu chúng tôi không được gửi lòng tri ân đến ba vị thị giả trẻ tuổi khôi ngô tuấn tú của Chân Không là: Thông Hải, Thông Thiền và Thông Huyền. Họ chính là những tiểu sư huynh chân chính luôn nhìn Ni giới chúng tôi bằng những cặp mắt đầy thân tình ấm áp. Nói nào ngay, tôi cũng đã nhiều lần lợi dụng mối thân tình ấy để chia bớt phần ăn của thị giả, mỗi khi ba tôn giả này xách cà-mên hầu thầy từ khu thiền thất xuống.

Ngày tháng dần qua, các ước mơ của tôi mỗi ngày một nâng cấp cao hơn, đã vươn đến lưng chừng núi: Phía sau thất Thầy, nơi có 3 chiếc thất nhỏ xinh xắn, dành riêng cho các Đại sư huynh: Phước Hảo, Đắc Pháp, Nhật Quang đang nhập thất trong sự ngưỡng mộ vô vàn của tứ chúng đương thời... Với vách núi chập chùng sau lưng và biển xanh trải dài trước mặt, khung trời thơ mộng của các Thiền sư trong Cổ sử đã thấp thoáng hiện về trong tầm mắt chúng tôi:

“Giữa lưng chừng núi, một gian nhà

Môt nửa cho mây, một nửa: ta

Đêm qua, gió thổi, mây bay mất

Gẫm lại, ai nhàn bằng...chính ta!”

Ước mơ đó càng cháy bỏng hơn, khi Thầy cho phép chúng tôi được lập một thiền thất nhỏ ở phía sau thiền đường Bát Nhã… Nhưng, chiếc thất lá đơn sơ chưa kịp hoàn thành thì ngày 30 tháng 4-1975 đến... và tất cả thiền sinh chúng tôi - những người mới bước qua tuổi đôi mươi, không chừa một ai, đều phải gói ghém hành trang, hối hả ...xuống núi .

BA

Gót mòn mỏi giữa phù hoa

Bao phen người đã từng qua chốn này

Mơ hồ trong trận lá bay

Dáng ai đeo đá đạp chày năm xưa

Nghìn trùng sóng cỏ đong đưa

Trời xanh như những ngày chưa biết buồn

Trung tuần tháng 5 - 1975, chúng tôi đã có mặt tại khu rừng Viên Chiếu. với hào khí ngất trời của những kẻ “điếc không sợ súng” sắp theo thứ tự tuổi tác, gồm có cô Mỹ Nguyên, Hạnh Nhã, Hạnh Huệ, Chị Đức, tôi, Hạnh Giải và Giải Thiện. Chúng tôi mang hùng khí của các tướng soái tiên phuông đi mở mang bờ cõi bằng cách… nhổ cỏ lúa trên mấy thửa ruộng mà thầy chúng tôi đã cho người gieo trồng từ tháng trước. Bảy vị anh hùng ngày ra ruộng, đêm chui rúc, chen chúc ngủ trong chiếc chòi tranh chứa nông cụ khoảng 9m2 của thầy Thông Triệt. Hậu quả là mỗi sáng sớm, thay vì được nghe lời hô thiền thánh thót của Giải Thiện:

“Canh năm Bát Nhã chiếu vô biên

chẳng khởi một Niệm khắp tam thiên…”

Chúng tôi lại bị đánh thức bởi tiếng càu nhàu của cô Mỹ Nguyên:

- Ông Thủy này, sao đêm nào ông cũng nằm co như con tôm, gồ cái mông lên, ủi tôi lọt xuống đất hết vậy?

Nói không phải khoe chứ thật ra, Tôi đã tiên liệu trước tình trạng hiềm khích không đáng có này rồi..., nên trước ngày xuống rừng và sau khi chạy về Sài Gòn thọ đại giới, tôi đã lãnh sứ mạng ra đi, tìm kế… cất một cái nhà to và rộng hơn, để đại chúng có chỗ ngủ nghỉ và chuẩn bị đón 30 vị anh thư từ Bát Nhã đang háo hức đặt chân xuống rừng Viên Chiếu. Sứ mạng vĩ đại nầy không thể giải quyết bằng khối óc non nớt của một Tỳ-kheo-Ni vừa thọ giới, nên tôi phải về thăm nhà và vấn kế Ba tôi, thầm mong ông quên phức đi lời thề năm ngoái của “tráng sĩ Kinh Kha lúc sang sông dịch”: -“Con lên núi tu tới khi nào đắc đạo mới trở về thăm nhà nghen ba!”

Hệt đức vua Tịnh Phạn, ba tôi đón con bằng một tấm lòng từ ái vô biên (dù tôi chưa kịp thành…Phật). Hai đứa em gái tôi lăng xăng tìm năng lượng nạp cho bà chị ốm đói sau một năm ăn ngọ. Đợi tôi căng bụng xong, nhỏ em Út ngước đôi mắt trong veo nhìn Ba tôi, rụt rè nói:

- Ba ơi! Cho con theo chị Thủy tu nghen ba!

Cả nhà đều im lặng. Tôi hoảng hồn:

- Đi tu theo chị, làm ruộng cực lắm, em ở nhà đi học sướng hơn!...

Chị Hai tôi chen vô: - Ba với anh Hai mới đi mua cây sắt, tole dể dành sau này cất nhà cho nó còn chất trên xe chưa dở xuống, tính chừng nào nó lấy chồng sẽ cho… làm của hồi môn. Nó kén ăn như mèo, chưa biết nấu cơm, giặt bộ đồ còn chưa sạch, ở nhà chưa ai đụng tới đã khóc, vô chùa chịu gì nổi mà đòi đi tu!...

Vài thân bằng quyến thuộc kéo đến bàn ra, tán vào, không ngoài mục đích ngăn cản chí xuất trần của con bé. Nhưng dưới ánh mắt ngây thơ của tuổi 15 thì:

“Mắt ngây ngất trước khung trời lụa gấm

Muôn kỳ hoa dị thảo tỏa hương mời”…

Ai mà cản cho nổi!? Và tôi hớn hở ra đi với một xe cam nhông vật liệu cất nhà của ba cho, quà khuyến mãi là nhỏ em Út, ngơ ngác như một chú nai con. Nhìn vẻ hân hoan của hai chị em, ba tôi nóng ruột quơ vội cái nón, chạy theo con… bỏ lại sau lưng một gia đình rối ren trăm nỗi…

Nhờ bàn tay vạm vỡ của ba và sự góp ý của chúng tôi, một căn nhà có gác, lợp bằng tole liền kề với một mái lá được thành hình, nhưng dòm không giống… ai hết. Ba giải thích:

-Nhà này chỉ cất tạm để các con có chỗ mà canh tác… mấy cây đòn tay bằng gỗ thông tốt lắm, ba lót làm sàn để quý cô có chỗ ngũ, khi nào cất chùa mình lấy ra làm đòn tay, không sợ hư hao gì…

Chúng tôi hết sức hoan hỷ, dù sau trận mưa đầu tiên, nước từ mái tole chạy xuống mái lá, ồ ạt như chảy qua cái rỗ. Chúng tôi cấp tốc dở mái lá xuống, thầy cho tiền mua tole lợp lên toàn bộ, ngoại trừ gian bếp nhỏ xíu, dựng cheo leo ở bờ mương. Với số lá dừa thừa thải, Giải Thiện ra tay lợp vách sau lời tuyên bố chắc như đinh đóng cột:

- Em ra ngoài chợ thấy người ta lợp vách bằng lá dừa rồi, dễ lắm…!

Chúng tôi xúm xít vây quanh tiếp sức. Chị Đức thắc mắc:

- Chị thấy vách lá người ta dựng phẳng phiu đẹp lắm… còn Giải Thiện lợp sao ngó giống… bộ lông của con đười ươi trong sở thú vậy?...

Giải Thiện gãi đầu:

- Em cũng thấy rứa…!

Cuối cùng chúng tôi cũng có một mái nhà che nắng mưa rộng rãi hơn chốn cũ, còn chiếc chòi tranh của thầy Thông Triệt, đã bị nước cuốn trôi sau một trận mưa lớn, y chang như thầy, đã từ giã chúng tôi không kịp thốt một lời tạm biệt.

Bốn

Mùa thu ta xuống núi

Rảo gót giữa bụi hồng

Áo trầm hương phất phới

Nơi phố thị người đông!

Những lời thơ trên, tôi làm khi còn ở Bát Nhã, đã gói ghém tất cả ước mơ của những thiền sinh non dại, hứa hẹn có một ngày, sau khi “hoát nhiên đại ngộ” sẽ “thõng tay vào chợ” thật hào hùng nhưng không kém phần thơ mộng… Nhưng, rủi ro thay, chúng tôi đã hạ sơn vào ngay mùa xuân của cuộc đời, tuy hừng hực sức sống của tuổi trẻ nhưng luôn vụng về khi phải đối phó với những tính cách mới mẻ, hoàn toàn không có ghi trong sách vở và kinh điển.

Giữa khu rừng Viên Chiếu, tình cảnh chị em chúng tôi giống hệt đám con nít mồ côi, bị bỏ vô rừng... cho Chằn tinh ăn thịt. Đám trẻ trong truyện kể thật khôn ngoan, gan dạ nên đã gạt được bà Chằn hung dữ, chiếm kho tàng... và trở nên giàu sang, no ấm. Còn… chúng tôi, chỉ mới bước vào trang đầu của câu chuyện cổ tích.

Thôi thì, hãy như người xưa nói: “Không cha bám chú, không mẹ thi bám vú dì”... Thầy tuy ở xa nhưng Thường Chiếu lại ở hơi... gần .Tục ngữ có câu: “quyền huynh thế phụ” chẳng rõ những người anh cả Thường Chiếu, đã đọc qua câu này chưa nhỉ?

Trong luật Tỳ-kheo-Ni, có ghi chuyện khi Di mẫu cùng 500 vị thuộc phái quần thoa đến xin Phật gia nhập Tăng đoàn, Phật đã từ chối vì: “Nữ giới mà đi tu, thọ mạng của Phật pháp sẽ giảm bớt một nửa!”... Ngài A-nan vồn giàu lòng bi mẫn, đã theo năn nỉ Phật nhiều lần... Và, tôn giả đã hỏi một câu, mà giá trị mỗi từ, nếu có thể tính bằng hiện vật, phải tương đương với...7 ao thất bảo hay hàng tỷ tỷ... tấn vàng ròng:

- Bạch Thế Tôn, phụ nữ có khả năng chứng đạo như nam giới không?

Đức từ phụ liền xác định:

- Như nhau không khác...!

Và ..., các Trưởng lão Ni tiền bối, đã không phụ lòng tin cậy của Đức Phật và ngài A-nan, Di mẫu với 500 vị tùy tùng, sau khi nhận Bát kỉnh pháp, được xuất gia, tu học đều chứng A-la-hán... đến khi được Phật cho phép nhập Niết-bàn chư Ni đã ngồi tĩnh tọa, dùng hỏa quang tam muội thiêu thân, “gửi nắm bụi hồng theo gió ngàn bay”... không thèm làm phiền đến một nhân viên hỏa táng nào... ( Ai không tin, có thể tìm đọc Trưởng Lão Ni Kệ… sẽ rõ).

Trong đoạn đường vừa qua, tôi đã từng gặp vài sư cô, chỉ dám mơ ước kiếp sau được chuyển làm Tăng… dù vị ấy đã từng học “Pháp Bảo Đàn Kinh” thuộc lòng đoạn:

“Ngũ Tổ hỏi:

- Ông ở đâu, đến đây làm gì?

- Bạch Tổ, con là người Lãnh Nam đến đây chỉ để làm Phật!

- Ông là người Lãnh Nam, tiếng nói còn chưa rõ ràng, sao dám đến đây học đòi làm Phật ?

- Bạch Tổ, thân này tuy với Hòa thượng bất đồng, nhưng Phật tính có gì sai khác.

Và, kết quả thật khả quan, ngũ Tổ đã truyền y bát cho Huệ Năng, chàng trai đầy lòng tự tin, tuy không thuộc hàng danh gia vọng tộc, nhà giàu, đẹp trai, học giỏi!

Chư Tăng Thường Chiếu đã từng học bản “Pháp Bảo Đàn Kinh” cùng chúng tôi dưới mái thiền đường Chân Không, chắc chắn thế nào cũng hiểu rõ điều đó chứ! Vậy mà...vậy mà...

Theo báo cáo của các sư em, Thầy Minh Dũng đã trêu chúng tôi là... dân làng Cùi (có nghĩa là chúng tôi mất khả năng lao động, muốn sinh tồn phải đi ăn chực xin ăn chực...chớ gì!). Còn thầy Định Huệ phũ phàng hơn, đã treo bảng cấm - khi thấy chúng tôi bước vô lãnh địa, ấp úng mượn... nông cụ - ông đã xua tay hét lớn:

- Nói cho mà biết, anh em chúng tôi không phải là thánh… Chúng tôi còn phải tu hành…Từ nay, sau 5 giờ, cấm các cô không được tới đây, nghe rõ chưa!

Dĩ nhiên là chúng tôi nghe rõ và biết còn rõ hơn! Nhưng, tại sao thầy lại không biết Viên Chiếu là đứa em sinh non ngày non tháng? Trong khi Thường Chiếu đã có cơ ngơi vững chải thì chúng tôi vẫn chưa có một mái nhà tươm tất che mưa? Muốn đến Thường Chiếu chúng tôi phải đi bộ một đoạn đường dài… Lúc trở về giữa rừng đêm tăm tối... biết đâu còn có “chó sói chằn tinh” xuất hiện?

Ấy, đừng tưởng là Ni giới chúng tôi nhiều chuyện, các sư em tôi “thêm mắm dặm muối”, “chuyện ít xít ra nhiều” mà lầm. Ngay bản thân tôi, cũng đã từng có một kinh nghiệm nhớ đời với ông sư huynh khó chịu đó.

Thuở ấy, chúng tôi mới được chia mấy công đất để trồng đậu phọng ở cách Thường Chiếu một con suối… Vừa trồng lúa trong rừng, chúng tôi còn phải chia đôi dân số đi tỉa đậu và trồng khoai lang trên mảnh đất mới. Tôi và Hải Liên thường được cắt phiên trấn thủ nơi đây.

Gặp kỳ đổi tiền đầu tiên, chúng tôi phải túc trực chờ đợi ngoài Ủy ban. Đến chiều tối, đang lục tục kéo nhau về, tôi bỗng nghe tiếng thầy Định Huệ từ đằng sau hỏi vọng tới:

- Viên Chiếu đổi tiền được chưa?

Tôi dừng bước để hồi đáp rồi tiếp tục đi. Bỗng dưng, thầy hét lớn:

- Đứng lại, mấy cô đi phía trước đứng lại hết, nghe tôi nói đây…

Chúng tôi cùng dừng chân, thầy cất tiếng thật to:

- Hồi nãy, tôi kêu cô Thủy là để hỏi chuyện tiền bạc, chứ không có gì hết, mấy cô đừng có hiểu lầm... Xong rồi, mấy cô đi đi…

Sư cô Như Thành ngạc nhiên:

- Tụi này đói bụng muốn chết, phải đi riết về, có ai để ý gì đâu, thầy?

Tôi vừa tức cười, vừa tức mình…thầm cầu nguyện kể từ nay, đừng bao giờ phải gặp mặt ông thầy kỳ quái đó.

Nhưng, “oan gia... ngõ hẹp”... Ngay hôm sau, khi đang lúi húi vỡ giồng lang trước sân, tôi bỗng nghe tiếng nói của ổng thật to sau lưng:

- Thành quả... khiêm tốn quá ha...

Tôi chết lặng, nước mắt chực trào ra…Phải chi tôi có thần thông để độn thổ cùng mấy củ khoai lang èo uột, chỉ nhỉnh hơn ngón tay cái một chút… Đây là bằng chứng không thể chối cãi về khả năng trồng tỉa dở ẹt của mình: khoai lang của chúng tôi chỉ tốt lá chứ không tốt củ.

Chiều hôm đó, khi đang xịt thuốc trừ sâu trên mấy công đậu phọng, thì Thông Thiền chạy qua, nhỏ nhẹ nói :

- Chị để em xịt thuốc cho… Dòm mấy chị làm, các sư huynh em tội nghiệp… nên cho em sang đây phụ một tay...

Thường Chiếu giỏi hơn chúng tôi là nhờ có...Thông Thiền, xuất thân từ trường Nông Lâm Súc… Rút kinh nghiệm ngàn vàng đó, Hạnh Nhã tình nguyện về quê huơng miền Tây để học gieo mạ, cấy lúa...Chúng tôi bắt đầu biết “tầm sư học đạo” với bất cứ ai biết cầm cuốc trước mình…

Năm tháng trôi qua, chúng tôi dần dần trở thành những nông dân lành nghề và giỏi dang… Chúng tôi cũng khôn lớn hơn, để nghiệm ra rằng ẩn sau mấy câu nói khó nghe, nghiêm khắc của quý Thầy là những tấm lòng từ ái vô biên. Thực tế đã chứng minh cho thấy, tánh lo xa và cảnh giác cao độ của thầy Định Huệ không phải là vô bổ mà ngược lại, rất cần thiết cho sự số̀ng còn và phát triển của Tăng đoàn.

Từ dạo đó, chúng tôi nhiệt liệt hoan nghênh, chuyền tay nhau, sao chép các tác phẩm của thầy dịch, để làm sách gối đầu giường. Trong số các gia bảo đó, tôi khắc cốt ghi tâm lời dạy của ngài Đại Huệ:

“Người đời thường sợ nghịch cảnh và ưa thuận cảnh. Cảnh nghịch giống như con dao đâm trước mắt, dễ thấy ...Chỉ cần một chữ nhẫn là xong. Cảnh thuận, như con dao đâm sau lưng, khó thấy khó biết nên không biết đường mà đỡ...”

*

Hôm nao bên bờ dốc

Nhẹ buông phiến lá hồng

Bờ cây khô nảy lộc

Mặt trời… rực phương đông

Lúc còn ở thành phố, trong những lần hóng chuyện, tôi thường nghe quý Sư bà nhắc đến thầy Nhật Quang ở Chân Không với tất cả sự trìu mến. Hình như, đó là một vị Tăng trẻ tuổi, đẹp trai và ăn nói rất mực dịu dàng. Điều tôi nể phục, thèm thuồng nhất là nghe đâu, thầy đã tham học Thiền đủ ba năm ở khóa trước và sẽ được Thầy Viện chủ cho nhập thất ba năm liên tục nữa. Trong chiếc đầu giàu tưởng tượng của tôi, thầy phải có hùng khí của Tổ Bồ-đề-đạt-ma pha trộn với một chút hào khí của các cao thủ võ lâm như… Trương Vô Kỵ hay Lệnh Hồ Xung, nhưng chắc là không thể đa tình… vì thầy là một vị Tăng đã có đạo lực vô cùng thâm hậu.

Nhưng, chẳng rõ có con yêu tinh nào hăm he bắt cóc Thầy nhắm rượu, để được sống hoài ngàn năm hay không, chứ chung quanh Thầy, tôi luôn bắt gặp một hàng rào bảo vệ chặt chẽ, còn hơn Đường Tam Tạng trên đường đi thỉnh kinh nữa.

Ngay đến Sư bà Thiền Đức, vị Hòa thượng Ni yêu kính của chúng tôi - khi ghé thăm Thường Chiếu, cũng đã ngoắc thân mẫu của Thầy lại, dặn dò:

- Bà Năm nhớ “kích” Thầy Nhật Quang với quý Thầy ở Thường Chiếu cho kỹ nghen… Ma i mốt Sư bà sẽ thưởng và gắn mề đay cho.

Bản thân tôi có một lần, tình cờ cũng bị lọt vào vòng vây của lực lượng xung kích đó.

Số là, cô TN- một nữ Phật tử lớn tuổi - có gửi tặng cho tôi và Thầy mỗi người một cái mền. được món quà quý, tôi lật đật ôm về Viên Chiếu, để dành ngắm chứ chưa dám xài… Hôm sau, có dịp ra Thường Chiếu, cô Năm gọi tôi lại, hỏi:

- Cái cô tặng ông Quang cái mền đó, già hay trẻ vậy cô?

- Già ngắt hà cô Năm ơi! Con chưa thấy ai xấu như cổ. Xấu còn hơn Chung Vô Diệm nữa... Ai mà gặp cổ một lần rồi, bảo đảm không muốn gặp lần thứ hai. Cô Năm yên tâm đi!

Vài hôm sau, cô Năm gặp tôi, kêu lại, phân bua:

- Tui gặp cô TN rồi... còn tơ và coi được lắm chứ hỏng tệ… như cô nói đâu!

- Ủa, sao kỳ vậy ta? Hỏng lẽ con nhìn lộn qua người khác. Nhưng cô Năm lo chi xa vậy ?Cổ có ̣đến đây thường đâu mà cô Năm sợ?

- Tui lo là không biết họ có bỏ bùa bỏ ngãi gì cho ông Quang không đây...

- Nếu sợ, cô Năm đem cái mền đó cho… Viên Chiếu đi, tụi con mà mê cổ, đi theo, càng đỡ tốn cơm.

Tôi không rõ số phận chiếc mền ra sao, nhưng nhờ nó, tôi chợt hiểu vì sao khi phỏng vấn công phu tu tập hằng đêm, thầy đã buồn rầu nói:

- Tối nào, khi đại chúng ngồi thiền, tui cũng đi lễ sám hối cho má tui… Cũng vì tui mà má tui tạo nhiều nghiệp không tốt…

Hóa ra, dù nội lực thâm hậu, thầy cũng có nỗi khổ tâm rất đỗi bình thường, y chang nhưng kẻ lười biếng (như tôi chẳng hạn).

Với các thiền viện Ni sau này, tôi không rõ thầy đối xử ra sao, chứ với Viên Chiếu , thầy cưng như… em ruột. Bằng chứng là:

Khoảng đầu năm 76, thầy gọi tôi lại, đưa cho một tờ báo cũ, dặn:

- Mấy sư muội làm ruộng, dầm nước suốt ngày, cần phải đọc tờ báo này để biết cách giữ gìn vệ sinh cho thân thể. Cô xem đi rồi chuyền cho huynh đệ (nhất là mấy cô nhỏ như Hạnh Pháp, Hạnh Đoan)…

Thầy nói tự nhiên, ân cần như một bà chị dạy em chứ không phải là anh trai với em gái… Nhờ vậy, tôi mới dám ngồi bình thản nghe, nín thinh và nín...thở.

Năm sau, thầy lại nói riêng:

- Ngoại trừ ông già (tức là thầy Viện chủ) ra, các cô không được tin tưởng, gần gũi bất cứ người khác phái nào, dù là Tăng hay tục… không phải ai cũng là người tốt hết đâu… Mấy sư muội phải biết khôn để giữ mình và dạy dỗ em út…

Tôi hỏi lại:

- Ngay cả thầy, tụi con cũng không được tin nữa hả?

- Tui đã nói “trừ ông già ra, tất cả đều không được tin!”...

Tôi hoang mang nhưng không dám mở lời, chỉ im lặng ngồi nghe thầy giảng giải, thầm cảm ơn cuộc đời đã hào phóng ban tặng cho chúng tôi những cây cao bóng cả, che chở và dìu dắt chúng tôi qua những đoạn đường nhiều thăng trầm giông bão…

Cây im bóng, cõi binh an, có phải ?
Nắng dịu dàng trên đọt lá ban trưa
Bến sông nào không… mời chào từ áí
Người ngại ngùng, nên vẫn khát như xưa…

*



Sáu.

....Níu mây trắng giữa lưng đồi

Hỏi thăm cha đã da mồi hay chưa?

Cha ơi, cùng tử ngày xưa

Mỏi chân phiêu lãng vẫn chưa chịu về...

Giữa đồng ruộng Viên Chiếu, đã có lần tôi hỏi ân sư:

- Thầy nuôi nấng, dạy dỗ chúng con cực quá, rủi… tụi con làm không đúng kỳ vọng của Thầy, Thầy có buồn không?

Thầy đã đáp một câu ngoài dự tưởng của tôi:

- Thầy đâu có kỳ vọng gì nơi các con đâu?

Nhìn vẻ mặt ngạc nhiên của tôi, Thầy nói tiếp:

Thầy chỉ nghĩ đơn giản là… tổ chức cho tụi con có một chốn tu học thích hợp… Ngày nao các con còn tu, còn ăn chay, còn giữ được các giới cấm căn bản là Thầy mừng rồi. Nếu không có chỗ tu học, tụi con tan tác, mỗi đứa đi một nơi, tạo nghiệp không lành, Thầy mới buồn! Sau này, trong số các con, ai làm thêm được điều gì tốt, Thầy coi như mình có lời…!

Bốn mươi năm dài đã trôi qua như một chớp mắt. Đôi lần về thăm Thường Chiếu, tôi đứng ngơ ngác giữa ngôi thiền viện hoành tráng nguy nga, những người xưa năm cũ giờ tản lạc khắp nơi… Nếu không gặp người quen, tôi thường tìm một chỗ khuất, ngồi lặng lẽ. Từ khung trời tâm thức, những bóng hình tuổi trẻ của 40 năm xưa, từng người, từng người một… tươi cười bước ra…

“Và, ô kìa! Trước chiếc thất lá đơn sơ, Thầy của chúng tôi, đang ngồi hiền hòa giữa hàng hàng lớp lớp thanh niên Tăng, trầm hùng như núi lặng”…


Hết

----------- 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14/02/2021(Xem: 8221)
Ta hãy tự thoát ra khỏi thân mình hiện tại mà trở về lúc ta mới được sanh ra. Trong phút giây đặc biệt đó ta là gì? Ta vừa được chào đời, được vỗ mông để bật tiếng khóc là phổi ta hoạt động, mọi chất nhớt trong miệng được lấy ra và không khí vào buồng phổi: ta chào đời. Thân ta lúc đó là do 5 uẩn kết tạo từ hư không, 5 uẩn do duyên mà hội tụ. Cơ cấu của thân thể ta là 7 đại đất nước gió lửa không kiến thức. Cơ thể ta mở ra 6 cổng (căn) để nhập vào từ ngoài là 6 trần để rồi tạo ra 6 thức.
14/02/2021(Xem: 10933)
Nhân đọc bài về tuổi già của Đỗ Hồng Ngọc Bác sĩ y khoa, tôi mỉm cười. Mình cũng thuộc tuổi già rồi đấy!! Các bạn mình cũng dùng chữ ACCC= ăn chơi chờ chết vì vượt qua ngưỡng tuổi 70 rồi. Vậy theo BS Ngọc là làm như vậy cũng thực tế đó nhưng có thật là hạnh phúc tuổi già không? Bạn có đủ hết, con cái thì hết lo cho chúng được nữa rồi, chúng tự lo lấy chúng. Tiền bạc thì hết lo được nữa rồi có bấy nhiêu thì hưởng bấy nhiêu.
14/02/2021(Xem: 8703)
Phật giảng thuyết có ba phương cách: a. Giảng trực tiếp như các kinh đạo Phật Nguyên thủy, b. Giảng bằng phủ định, từ chối là không và phủ định hai lần là xác định tuyệt đối. c. Giảng bằng biểu tượng, đưa câu chuyện cánh hoa sen hay viên ngọc trong túi người ăn mày để biểu tượng hoá ý nghĩa sâu xa của kinh. Phương cách thứ ba này là kinh Pháp Hoa. Có nhiều biểu tượng nhưng nổi bật nhất là cánh hoa sen là biểu tượng kinh Pháp Hoa.
10/02/2021(Xem: 14351)
Long Khánh là một thị xã ven Đô, Phật giáo tuy không sung túc như các Tỉnh miền Trung Nam bộ, nhưng sớm có những ngôi chùa khang trang trước 1975, do một số chư Tăng miền Trung khai sơn lập địa. Hiện nay Long Khánh có những ngôi chùa nổi tiếng như chùa Hiển Mật hay còn gọi là chùa Ruộng Lớn tọa lạc tại Thị xã Long Khánh, chùa Huyền Trang, tọa lạc tại ấp Bàu Cối, xã Bảo Quang,.…Nhưng điều đáng nói là một ngôi Tam Bảo hình thành trong vòng 5 năm,khá bề thế. Qua tổng thể kiến trúc và xây dựng, không ai ngờ hoàn hảo trong thời gian cực ngắn, đó là Tịnh xá Ngọc Xuân, do sư Giác Đăng,đệ tử HT Giác Hà, hệ phái Khất sĩ, thuộc giáo đoàn 5 của Đức thầy Lý.
08/02/2021(Xem: 10582)
Hình ảnh con trâu tượng trưng cho tâm ý của chúng sinh. Mỗi người ai cũng đều có một con “trâu tâm" của riêng mình. Và cứ như thế pháp chăn trâu được nhiều người sử dụng, vừa tự mình chăn vừa dạy kẻ khác chăn. Vào cuối thế kỷ mười ba, thời nhà Trần, trong THIỀN MÔN VIÊT NAM xuất hiện một nhân vật kiệt xuất. Đó là Tuệ Trung Thượng Sĩ tên thật là Trần Tung, ông là một thiền sư đắc đạo. Ông là người hướng dẫn vua Trần Nhân Tông vào cửa Thiền và có nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng của vị vua sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử này.
08/02/2021(Xem: 8353)
Sau khi đạt được Giác ngộ, Đức Phật nêu lên Bốn Sự Thật và sự thật thứ nhất là "Khổ đau". Khổ đau ẩn chứa trong thân xác, bàng bạc trong tâm thức của mỗi cá thể con người và bùng ra cùng khắp trong thế giới: bịnh tật, hận thù, ích kỷ, lường gạt, đại dịch, bom đạn, chiến tranh... Sự thật đó, khổ đau mang tính cách hiện sinh đó, thuộc bản chất của sự sống, gắn liền với sự vận hành của thế giới. Sự thật về khổ đau không phải là một "phán lệnh" hay một cái "đế", cũng không mang tính cách "kỳ diệu" gì cả, mà chỉ là một sự thật trần trụi, phản ảnh một khía cạnh vận hành của hiện thực.
07/02/2021(Xem: 10345)
Nhà thiền có danh từ Tọa Xuân Phong để diễn tả hạnh phúc khi thầy trò, đồng môn, được ngồi yên với nhau, không cần làm gì, nói gì mà như đang cho nhau rất đầy, rất đẹp. Danh từ đó, tạm dịch là “Ngồi Giữa Gió Xuân” Mùa Xuân chẳng phải là mùa tiêu biểu cho những gì hạnh phúc nhất trong bốn mùa ư? Hạ vàng nắng cháy, vui chơi hối hả như đàn ve sầu ca hát suốt mùa để cuối mùa kiệt lực! Thu êm ả hơn, nhưng nhìn mây xám giăng ngang, lá vàng lả tả, tâm- động nào mà không bùi ngùi tưởng tới kiếp nhân sinh?
07/02/2021(Xem: 8635)
Chú mục đồng chậm rãi bước xuống sông. Bên cạnh chú, con trâu lớn nhất đàn ngoan ngoãn xuống theo. Đôi mắt hiền lành của nó nhìn chú như mỉm cười, tin tưởng và thuần phục. Những con trâu bé hơn lại nhìn bước đi vững chãi, an lạc của con trâu đầu đàn mà nối nhau, cùng thong thả qua sông. Đây là khúc sông cạn mà chú đã dọ dẫm kỹ lắm. Đáy sông lại không có những đá nhọn lởm chởm có thể làm chân trâu bị thương. Bên kia sông, qua khu rừng có những cội bồ đề râm mát là tới đồng cỏ rộng. Mùa này, sau những cơn mưa, cỏ non vươn lên xanh mướt, đàn trâu gồm bẩy con mà chú có bổn phận chăm sóc tha hồ ăn uống no nê sau những giờ cực nhọc cầy bừa ngoài đồng lúa.
07/02/2021(Xem: 13742)
Khi những cơn bảo và áp thấp nhiệt đới hung hãn nhất vừa tạm qua đi, khí trời phương Nam cũng trở buồn se lạnh. Nhiều người cho đó là hoàn lưu của những cơn bão miền Trung mà tất cả con dân “bầu bí chung dàn” vẫn còn đang hướng về chia sẻ, nhưng ít người nhận ra rằng đó chính là cái se lạnh của mùa đông phương Nam, báo hiệu mùa xuân sắp đến nơi ngưỡng cửa của bộn bề lo toan hằng năm.
06/02/2021(Xem: 14622)
Mười bức “Tranh Chăn Trâu” trong phần này là của họa sư Nhật Bản Gyokusei Jikihara Sensei, vẽ vào năm 1982 nhân một cuộc thăm viếng thiền viện Zen Mountain Monastery ở Mount Tremper, New York, (Hoa Kỳ). Họa sư vẽ để tặng thiền viện. Các bài thơ tụng thời nguyên gốc của thiền sư Quách Am viết vào thế kỷ thứ 12. Thơ tụng được chuyển dịch ở đây bởi Kazuaki Tanahashi và John Daido Loori, sau đó được nhuận sắc bởi Daido Loori để mong tạo lập ra những hình ảnh và ẩn dụ cho thêm giống với phong cảnh núi sông ở quanh thiền viện Zen Mountain Monastery. Thiền sư Daido Loori là người lãnh đạo tinh thần và là tu viện trưởng của thiền viện này.